Bố Mẹ, Ba Má và Cha Mẹ

8 Comments

Các công trình nghiên cứu ngôn ngữ học thế giới gần đây cho rằng hai từ dùng để gọi cha và mẹ của nhân loại có tuổi đời khoảng 15 ngàn năm và hầu như thống nhất khắp hoàn cầu. Chúng tôi lại nghĩ xa hơn, đây là cặp từ chứng minh loài người có cùng tổ tiên châu Phi và ít nhất từ Mama phải có tuổi đời trên 70 ngàn năm, khi các dòng di cư băng qua trạm trung chuyển Tây Á để tỏa ra khắp nơi. Nói cách khác, tháp Babel trong Thánh Kinh và văn minh Lưỡng Hà có thật, tối thiểu là với hai từ Mama và Papa.

51246954

Khảo sát tổ hợp hai từ này ở Việt Nam, trong tương quan các ngôn ngữ liên hệ Mon Khmer, Austronesian, Thái – Tráng và Hán, là hướng tiếp cận thú vị tái khẳng định nguồn gốc dân tộc Việt Nam.

***

Việt ngữ có rất nhiều từ chỉ phụ mẫu: Mẹ, Má, Mợ, Mạ, Mệ, Mụ, U, Bu, Bầm, Đẻ, Cái. Và Bô, Bố, Bọ, Ba, Cha, Tía (爹), Thầy.

1. Gốc Thái: BỐ và MẸ

Từ quan trọng nhất là Mẹ và dễ dàng nhận thấy chúng xuất phát từ tiếng Thái แม่ – [Phiên âm quốc tế của giới ngôn ngữ học là Mæ̀ hoặc Mae]. Đi cặp với Mẹ là Bố. Âm Bố cổ đại có thể đã được người Hán ký âm thành Đô trong Đô Lão [都老] là danh xưng của các thủ lĩnh Lạc Việt sở hữu trống đồng lớn (Châu Quận Thập Tứ, sách Thông Điển, thời Đường). Đô Lão chính là Phụ Lão (父老) hoặc biến thể Bô Lão [逋老].

Trước khi nhánh Thái giành được quyền lực từ nhánh Âu Việt rồi dựng ra Lê triều tại Việt Nam, lịch sử có một vị thủ lĩnh gốc Thái rất nổi tiếng là BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG (khoảng 784 – 791). Liên quan đến chuyện này, Đại Việt sử kí toàn thư chép: [俗謂父曰布,母曰盖 Tục vị phụ viết bố, mẫu viết cái] – Tập quán người Việt gọi cha là Bố, mẹ là Cái. Ngoài ra, Lĩnh Nam chích quái – Hồng Bàng thị truyện chép rằng người Việt gọi Lạc Long Quân là Bô:「逋乎何在?Bô Hồ Tại Hà?] – Bố ơi người ở đâu?

Liên kết với พ่อ [Phó – Ph̀x] ở tiếng Thái hiện đại thì rõ ràng Bố mang dấu tích Thái ngữ hơn bất cứ ngôn ngữ nào khác. Do đó Bố và Mẹ hẳn đều từ tiếng Thái mà ra cả.

2. Gốc Hán: CHA, BA và MÁ.

Ở gốc này chúng tôi lại phải phân biệt Hán Dương Tử hay Hoàng Hà. Các liệt kê ngữ âm ở đây dựa vào nghiên cứu của nhà ngôn ngữ học quốc tế người Nga S. Starostin. Thật vậy, theo Khang Hy Tự Điển, người miền bắc Trung Quốc dùng chữ Đa (爹 – người Triều Châu đọc là Tía) để chỉ Bố. Nó được ký âm bởi chữ Phụ (父) mang nghĩa Bố và chữ Đa (多) mang âm. Âm tương đồng trong tiếng Việt chính là Cha. Câu ca dao:

Công cha như núi Thái Sơn.

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Đã chứa đựng một phần lịch sử hình thành dân tộc Kinh: Những người bố Hán từ Hoa Bắc đã đến châu thổ sông Hồng lấy phụ nữ Lạc Việt bản địa. Con cái ra đời sẽ gọi song thân của mình là Cha – Mẹ, nửa Hoàng Hà, nửa Hồng Hà như chính dòng máu nửa Lạc Việt nửa Hoa Hạ của họ. Khả năng âm [bá] hoặc [baʔ] trung đại của từ Phụ 父 biến thành Cha là khá nhỏ. Tuy vậy nó cũng không thể xáo trộn nguồn gốc câu ca dao đã dẫn.

Người Triều Châu vốn ở miền bắc Trung Quốc đi về Hoa Nam cuối thời Đường và định cư ở vùng giáp ranh Quảng Đông – Phúc Kiến. Khi di cư sang châu thổ Cửu Long mấy trăm năm trở lại đây, họ đã đem theo từ Tía gọi phụ thân vào ngôn ngữ Nam Bộ Việt Nam. Tía và Cha chính là biến âm của Đa (多) vốn được đọc là [tǟ] ở thời Đông Hán.

Hán ngữ còn một từ khác chỉ Cha là Da 爺, bộ Phụ, dùng chữ Da 耶 chỉ âm. Tiếng Bắc Kinh hiện nay đọc là [yé] rất giống Tía như người Triều Châu và đặc biệt âm Đông Hán của nó là [zhä]. Cơ bản Da 爺 và Đa 爹 có độ tương đồng tuyệt đối cao. Chúng tôi cho rằng đấy là hai cách ký âm có thể ở hai thời kỳ, hai khu vực khác nhau mà thôi.

Trong khi đó Ba và Má lại dễ hiểu hơn rất nhiều. Nó chính là Hán âm Phụ 父 [bá] và Mẫu 母 [mǝ̄́] hoặc Đường hay Minh âm [baʔ] và [mǝ̄ʔ]. Do đó có lẽ chúng đã theo chân những đoàn người Minh Hương tị nạn chính trị đến Việt Nam.

3. Gốc Mon Khmer nói riêng, Austronesian nói chung:

Những từ còn lại không cho thấy biến âm từ tiếng Thái hoặc Hán thì khả năng rất lớn là thuộc gốc này. Chẳng hạn tiếng Indonesia, Mẹ phát âm là Ibu (gần giống Bu).

Tuy nhiên những từ này rất khó tách bạch vì nó xuất phát từ hai nguồn trong đại gia đình Austronesian: Mon Khmer bản địa hoặc di dân Âu Việt. Trường hợp Ẩu – Ủ (嫗) tiền thân của U là điển hình. Đây là một từ của văn minh Dương Tử, cách ký âm khác của nó là Âu trong Âu Cơ mang nghĩa Quốc Mẫu.

***

Tóm lại, sự đa dạng và kết hợp chéo của hai từ cốt lõi chỉ song thân trong ngôn ngữ Việt Nam, một lần nữa đã chứng tỏ nguồn gốc đa dạng của chính dân tộc Việt Nam mà chúng tôi đã làm rõ bằng khảo cổ, thư tịch cũng như các công trình khảo sát di truyền gần đây nhất.

Phodong Village 12.2017

@T.T.Du

Dương Tử – Nền Văn Minh 5400 Năm Bị Quên Lãng

7 Comments

Bắt đầu từ câu hỏi của một bạn đọc “Tết nguyên đán là của ai, do ai đặt ra?”. Tôi đã giải thích rằng Tết nguyên đán là một mốc thời gian đặc biệt của âm – dương lịch. Muốn có âm – dương lịch thì phải có thiên văn học, tính được thời gian trái đất quay xung quanh mặt trời một vòng gần với con số chính xác là 365,25 ngày. Điều kiện để xây dựng thiên văn học ở thời đại đồ đá là con người phải ở trên chí tuyến bắc, từ vĩ độ 23 độ 27 phút bắc trở lên. Dưới vĩ tuyến ấy, các bài toán thiên văn rất phức tạp, vượt quá khả năng của bất cứ cộng đồng dân cư cổ đại đã định cư nào. Thực tế là tất cả các nền văn minh đã nắm bắt thiên văn từ rất sớm đều ở trên chí tuyến bắc, chẳng hạn: Lưỡng Hà, Trung Hoa, Ai Cập, Ấn Độ hay Hy Lạp.

Thiên văn học nôm na là quá trình quan trắc mặt trời, trăng và sao từ một mốc cố định. Nếu rày đây mai đó như trong đời sống du canh du cư của các bộ tộc săn bắt hái lượm chẳng hạn, con người không thể tổng hợp được quy luật chuyển động của mặt trời để xây dựng âm dương lịch. Họ chỉ có thể sử dụng tháng trăng tròn khuyết gọi là âm lịch hay Nguyệt lịch. Nguyệt lịch hoàn toàn lệch pha với Nhật lịch, tức lịch mặt trời. Chỉ có Nhật lịch mới chỉ thị đúng thời điểm mùa màng mà thôi.

Ngoài thiên văn, chúng ta có một chỉ thị khác để xác định thời điểm bắt đầu chuyển từ du cư sang định cư của các tộc người cổ đại. Đó là thuần hóa vật nuôi và cây trồng hay quá trình chọn lọc gene đột biến thích hợp của động vật và thực vật nhằm phục vụ đời sống con người. Hoàn toàn có thể phân tích chính xác niên đại những dấu hiệu thuần hóa đầu tiên từ các mẫu vật khảo cổ.

Như vậy, âm dương lịch ở tình trạng sơ khai nhất phải có tuổi đời khá tương đồng với chiều dài lịch sử định cư và thuần hóa động thực vật. Trên lãnh thổ Trung Quốc ngày nay có hai nhánh chủng tộc Bắc – Nam và nhiều dấu vết ngôn ngữ, văn hóa cũng như khảo cổ khẳng định sự tồn tại của hai nền văn minh tối cổ tiền Hoa Hạ tương ứng. Xin được tạm gọi là văn minh Hoàng Hà và Dương Tử và đi sâu vào khảo sát.

CON ĐƯỜNG THIÊN DI

Cách đây trên 40 ngàn năm, từ vùng Lưỡng Hà có hai nhánh di dân về phía đông. Hình minh họa có sẵn dưới đây chỉ để cho dễ hiểu:

map_human_migration

A. Nhánh thứ nhất băng qua thảo nguyên và sa mạc trung Á đến đông bắc Á trở thành người Mông – Mãn. Khi đến được bờ bắc Hoàng Hà, chọn lọc tự nhiên đã loại trừ gần hết gene hai mí vốn phổ biến khắp nhân loại. Địa hình bằng phẳng ngút mắt trên con đường thiên di yêu cầu phải giảm thị trường (tức là giảm kích thước mắt), vừa để nhìn rõ mục tiêu hơn, vừa hạn chế tia cực tím từ ánh mặt trời chiếu thẳng vào nhãn cầu, vì địa bàn có ít vật che chắn như cây cao, rừng rậm… (Ngược lại, các bộ tộc săn bắt hái lượm trong rừng nhiệt đới hoặc ôn đới mênh mông mà mắt nhỏ, một mí, nếu không bị thú dữ ăn thịt, thì cũng chết đói đến tuyệt chủng). Họ dùng da thú giữ ấm tốt nên lông trên cơ thể hầu như đã biến mất, trừ râu quai nón. Ở giai đoạn cuối, nhóm này bắt đầu chăn nuôi các đàn gia súc lớn, cưỡi ngựa rong ruổi khắp nơi nên đàn ông có xu hướng chân ngắn, lưng và tay dài.

Cách đây khoảng 12 ngàn năm người Mông Mãn bắt đầu định cư ở châu thổ Hoàng Hà và xây dựng nền văn minh cùng tên. Mốc thời gian này căn cứ trên dấu hiệu thuần hóa chó sói trở thành chó nhà [1] cũng như gieo trồng giống kê đuôi cáo tại Nam Trang Đầu, Hà Bắc, Trung Quốc.

B. Nhánh thứ hai băng qua tiểu lục địa Ấn Độ đến Miến Điện. Tại đây họ lại chia hai, nhóm người đi sâu vào lục địa chiếm cứ thượng nguồn các dòng sông Mekong và Dương Tử tạm gọi là Thái – Tạng – Miến. Nhóm phân bổ khắp Đông nam Á rồi đi ngược về phía bắc đến cửa sông Dương Tử là Nam Đảo (Austronesian). Người Nam Đảo bắt đầu định cư ở đồng bằng bờ nam cửa sông Dương Tử cách đây khoảng 12.000 năm, căn cứ vào dấu hiệu thuần hóa lúa nước tại hồ Bà Dương và hang Ngọc Thiềm Nham tỉnh Hồ Nam. Xin lưu ý, chúng tôi lấy mốc ước đoán 12 ngàn năm từ rất nhiều tài liệu khảo cổ học công bố gần đây và chúng không hẳn hoàn toàn thống nhất với nhau.

BABYLON PHƯƠNG ĐÔNG

Liangzhusite_Chinadaily

Sơ đồ Babylon phương đông.

Đỉnh cao và cũng là trung tâm của văn minh Dương Tử đã được xác nhận bởi khảo cổ học là di tích thành quốc Lương Chử (Chiết Giang, văn minh ngọc thạch, 3400 BC – 2200 BC): Đây là thành quốc rộng lớn nhất Á Đông ở thời đại của nó, diện tích 290ha, có tường thành bao bọc xung quanh và 6 cổng chính, 2 cổng ở mỗi hướng bắc, đông và nam, nhiều cửa thông nối với hệ thống sông rạch. Hoàng cung nằm ở giữa rộng 30ha. Thành quốc có đàn tế trời đất, hệ thống đê điều tưới tiêu và ngăn lụt lội, xã hội đã phân chia giai cấp và có khả năng đã có vua chúa và giới quý tộc tăng lữ. Dấu vết kho lương thực chứa được khoảng 15 tấn gạo [2]. Các di cốt dưới lòng đất có gene liên hệ rõ rệt với chủng người Thái – Tráng và Nam Đảo [3].

DẤU HIỆU THIÊN VĂN HỌC

Để khảo sát trình độ thiên văn học hai nền văn minh Dương Tử và Hoàng Hà, chúng tôi chọn ra ba di tích thành quốc là Lương Chử, Đào Tự (Sơn Tây, cuối đá đầu đồng, 2300 BC – 1900 BC) và Nhị Lý Đầu (Hà Nam, đồ đồng, 1900 BC – 1500 BC).

Lương Chử cách Đào Tự khoảng 1000km đường chim bay và bị chia cắt bởi hai con sông lớn là Dương Tử và Hoàng Hà. Thêm nữa, thời điểm suy tàn của Lương Chử và khởi phát của Đào Tự chênh nhau 100 năm. Do đó chắc chắn hai nơi này phát triển độc lập. Nhị Lý Đầu nằm giữa Đào Tự và Lương Chử, bên bờ nam Hoàng Hà, có thể là nơi đã tiếp nhận tinh hoa từ hai phía và phát triển thành nền văn minh Thương Ân mở đầu văn minh Hoa Hạ.

Figure-1-Location-map-of-the-Liangzhu-Site-Zhejiang-Southeastern-China

Mặt bằng nền móng và tường thành Lương Chử (3400 BC – 2200 BC)

Taosi_Plan_5degree_2300BC

Mặt bằng nền móng di tích Đào Tự (陶寺2300 BC – 1900 BC)

erli_1900_1500BC_5

Nền móng di tích Nhị Lý Đầu (二里头1900 BC – 1500 BC)

Sơ đồ móng cung điện và Đại Môn (tiền thân của Ngọ Môn) của Nhị Lý Đầu được định vị đông tây nam bắc khá chuẩn, sai số chỉ 5 độ góc, chứng tỏ chủ nhân của chúng đã nắm khá vững thiên văn, có niên lịch và sử dụng đồng hồ mặt trời đo thời gian.

Tuy Lương Chử và Đào Tự lâu đời hơn Nhị Lý Đầu rất nhiều nhưng sơ đồ móng của chúng có sai số định vị đông tây nam bắc dưới 10 độ góc. Từ đó có thể kết luận Lương Chử và Đào Tự đã độc lập phát triển thiên văn và khả năng rất lớn là họ đã xây dựng được niên lịch và sử dụng đồng hồ mặt trời có độ chính xác chính ngọ dưới 30 phút. Để hiểu thêm định vị phương hướng, xin bạn đọc tham khảo thêm chủ đề riêng “Có thể định tuổi các nền văn minh bằng trục chính đạo?

Như chúng tôi đã làm rõ trong “Khảo chứng tiền sử Việt nam bằng Cổ thư và Thiên văn học“, thiên văn chỉ định hình khi xã hội chuyển hóa từ săn bắt hái lượm sang định canh định cư và thuần hóa cây trồng, vật nuôi. Thiên văn là tiền đề cho toán học ra đời và từ ngôn ngữ toán học con người tiến tới khai sinh ngôn ngữ truyền đạt, tức là chữ viết. Tại di chỉ Lương Chử, rất tiếc chưa xuất hiện dấu hiệu của chữ tượng hình rõ ràng như Đào Tự và Nhị Lý Đầu. Có thể họ vẫn đang dùng toán học ở dạng Kết Thằng (thắt nút), chưa đi đến bước viết các con số lên những chất liệu khác nhau để hình thành chữ viết đầu tiên.

BABYLON PHƯƠNG ĐÔNG SỤP ĐỔ

Các bằng chứng từ đầu não Lương Chử đã cho chúng ta cái nhìn mới về văn minh Dương Tử: phát triển rực rỡ ở tầm nhân loại, đã sử dụng thiên văn, có thể có toán pháp và bắt đầu xây dựng văn tự tượng hình cách đây 5400 năm. Tuy nhiên đến năm 2200 BC, thành quốc Lương Chử đột ngột biến mất, vùng ảnh hưởng của nó phân rã và thụt lùi trở lại văn hóa bộ lạc. Ước đoán các lý do như sau:

A. Do biến đổi khí hậu như diễn dịch tại đây. Khi dùng sóng radar quét sâu xuống 5m dưới lòng đất và kiểm nghiệm bằng những hố đào trực tiếp, công trình khảo cổ năm 2015 của các nhà khoa học Trung Quốc và Italy đã xác định ở độ sâu 2m3 trở xuống là kiến trúc đất nện nén chặt. Bề mặt của chúng là lớp đất mỏng khoảng 10 đến 20cm, có dấu vết rất rõ ràng của nhiệt lửa, do sinh hoạt nhiều đời của cư dân cổ. Khả năng rất lớn là ở năm 2200 BC, một trận đại hồng thủy tại sông Dương Tử đã xóa sổ toàn bộ trung tâm của nền văn minh ngọc thạch này.

B. Các tiểu trung tâm khác của văn minh Dương Tử tồn tại qua đại hồng thủy đã bị văn minh Hoàng Hà tiêu diệt hoặc thôn tính: Biến đổi khí hậu là lý do trực tiếp và cụ thể. Tuy nhiên, một quốc gia lớn (có hoàng thành rộng gấp 10 lần Tử Cấm Thành ngày nay ở Bắc Kinh) không thể tuyệt diệt hoàn toàn nếu thủ đô của nó đột nhiên biến mất. Đáng chú ý là tại Lương Chử chưa có dấu hiệu sử dụng đồng trong khi đó các di chỉ cùng tuổi phía bắc thuộc văn minh Hoàng Hà như Ngưỡng Thiều, Hồng Sơn… đã phát lộ dày đặc xỉ đồng. Chúng là tiền đề cho Nhị Lý Đầu vươn lên và tỏa sáng. Chúng ta lại thấy quy luật “Guns, Germs and Steel” của Jared Diamond ở đây: Vũ khí sắc bén hơn, gây sát thương dễ dàng và nghiêm trọng hơn đã đóng vai trò tiên quyết trong lịch sử.

Mãi đến khoảng năm 800 BC, trên địa bàn Lương Chử lại hồi sinh một hình thái nhà nước mới có gene Nam Đảo và Thái – Tráng, đó là nước Âu Việt. Sau khi bị nước Sở tiêu diệt vào năm 334 BC, một số nhánh Âu Việt đi về phía nam thành lập Mân Việt, Đông Âu và hợp huyết với người Lạc Việt tại nước Nam Việt của Triệu Đà. Sau công nguyên, người Âu Việt tiếp tục vượt biển đến mảnh đất Việt Nam và chính họ đã một lần nữa giành độc lập rồi dựng lên nước Đại Việt.

Như vậy, về cơ bản, quan điểm cho rằng người Việt có một nhánh tổ tiên từ một nền văn minh vĩ đại trên 5000 tuổi có lẽ không sai. Chỉ có điều nó là con đẻ của dòng sông Dương Tử vĩ đại, chứ không phải sông Hồng bản địa nhỏ bé. Dương Tử trong Hán ngữ còn viết là 江 (giang), từ thời Chu đến Minh người Hán đọc là [krōŋ]. Đó chính là âm Thái / Mon Khmer của từ Sông trong tiếng Việt. Trong từ chỉ sông này, tiếng Thái và Mon Khmer rất giống nhau. Ngày nay, sau mấy ngàn năm Hán hóa, vùng phía nam Trường Giang vẫn còn lốm đốm các khu vực phát âm khá giống tiếng Thái / Mon Khmer: Nam Xương – Giang Tây: [kɔŋ] ; Mai Huyện và Quảng Châu – Quảng Đông: [kɔŋ] ; Phúc Châu – Phúc Kiến: [kouŋ] hoặc [köyŋ] ; Dương Châu – Giang Tô: [ka_ŋ] hoặc sang trọng là [ćiâŋ]. Khi chủng Nam Đảo còn làm chủ con sông Trường Giang, họ gọi các nhánh nhỏ đổ vào sông mẹ là [d(h)ā], người Hán ký âm thành Đà沱, hoàn toàn tương đồng với cách các bộ tộc gốc Nam Đảo ở Tây Nguyên Việt Nam vẫn gọi sông là Dak hoặc Krong.

TẾT NGUYÊN ĐÁN CỦA AI?

Thiếu kiến thức thiên văn cổ đại và khảo cổ, rất nhiều học giả và tác giả Việt Nam đoán mò rằng âm lịch có nguồn gốc từ văn minh lúa nước Dương Tử còn dương lịch của văn minh Hoàng Hà. Chúng tôi thì chắc chắn rằng cả hai nền văn minh ấy đều dùng một hình thức âm – dương lịch tuy sơ khai nhưng hữu hiệu với mùa màng, không ai phải học của ai mà chỉ cần quan trắc lâu dài và tổng hợp quy luật chuyển động tương đối của mặt trăng, mặt trời và các vì sao với trái đất.

Nói cho cùng, phong tục ăn tết Nguyên đán có lẽ do người Chu truyền đến Âu Việt và người Hán sau đó lại đem đến Việt Nam. Ban đầu người Hoàng Hà ở vĩ độ rất cao, họ lấy tháng trăng gần ngày Xuân phân nhất, đỡ lạnh nhất để làm đầu năm. Do đó Hạ lịch chọn ngày 1 tháng Dần làm nguyên đán. Khi Hoàng Hà nam tiến xuống Dương Tử, để phù hợp với vĩ độ thấp hơn của kinh đô, nhà Thương chọn tháng Sửu, nhà Chu chọn tháng Tý (gần Đông Chí nhất). Tần lại lùi hẳn về tháng Hợi, trước những đợt lạnh nhất trong năm. Kể từ Hán Vũ Đế người ta quay lại tháng Dần. Cháu nội Tào Tháo có lần đổi sang tháng Sửu.

Đây là những lý do thuần túy thiên văn và chắc chắn do những thiên văn gia hoàng gia thiết lập nhưng khi công bố thì thường dưới những chiếu chỉ rất mông lung và mang tính chính trị là chính. Người Việt Nam vẫn gọi tháng Tý là tháng Một chắc chắn là do thói quen Âu Việt có mãi tận thời Chu mà thôi!

@T.T.Du 12.2017


[1] The zooarchaeology of domesticated animals in ancient China). Quaternary Sciences 30(2):298–306

[2] http://as.wiley.com/WileyCDA/WileyTitle/productCd-1444335294.html

[3] https://link.springer.com/article/10.1007%2Fs00439-007-0407-2

HOÀNG GIA ĐINH – LÝ – TRẦN GỐC ÂU VIỆT

3 Comments

Sách Công Dư Tiệp Ký của Vũ Phương Đề vào thế kỷ 18 ghi nhận truyền thuyết dân gian vẫn kể vua Đinh Bộ Lĩnh là con của rái cá. Đây là dấu vết totem của người Ngô – Việt ở ven sông Dương tử đã được Sử Ký và Hậu Hán Thư ghi nhận.

Sang đến họ Lý, nếu các dấu vết totem chó và rái cá vẫn còn ẩn khuất như Lý Công Uẩn sinh năm Tuất, có điềm làm vua từ đốm lông chó (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư), có tục thờ chó mà đền Cẩu Nhi vẫn còn tồn tại giữa lòng Hà Nội đến hôm nay là một minh chứng, thì sử Trung Quốc lại rất chi tiết. Sách Tốc Thủy Ký Văn của Tư Mã Quang, Bắc Tống (960 -1127) có chép một bức thư của tiến sĩ Từ Bách Tường gửi vua Lý từ Lĩnh Nam: “大王先世本閩人,聞今交趾公卿貴人多閩人也 – Tổ tiên của đại vương vốn là người Mân, tôi còn nghe nói hiện nay công khanh quý tộc xứ Giao Chỉ có rất nhiều người Mân nữa”.

caunhi

Ảnh: Tượng chó tại đền Cẩu Nhi – Hà Nội. Dấu tích totem Cẩu và Thủy Cẩu (rái cá) của người Âu Việt thời Chiến Quốc.

Nhà Trần tiếp nối nhà Lý, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi: “Trước kia, tổ tiên vua là người đất Mân (có người nói là người Quế Lâm), có người tên là Kinh đến ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, sinh ra Hấp, Hấp sinh ra Lý, Lý sinh ra Thừa, đời đời làm nghề đánh cá”.

Như vậy Trần Thái Tông Trần Cảnh là đời thứ năm của một gia tộc có gốc tích từ nước Mân Việt thời Tây Hán. Năm 202 BC Cao tổ phong hậu duệ Câu Tiễn làm Mân Việt vương. Năm 193 BC Huệ đế chia để trị, lại tách Mân Việt làm hai gồm Mân Việt và Đông Âu. Ngoài Đông Âu còn có Tây Âu, tương đương Đông Việt và Tây Việt. Thời Tống, Tư Mã Quang không dùng Đông Âu mà viết thành Đông Việt trong các sự kiện lịch sử liên quan. Do đó rõ ràng Âu = Việt. Hán sử hiểu rất rõ Âu Việt là từ đẳng lập đồng nghĩa như chúng tôi đã chứng minh trong Nguồn gốc quốc danh Việt Nam.

***

Chỉ với sử liệu, chúng tôi đã có những bằng chứng không thể bác bỏ rằng hoàng gia, công khanh, quý tộc Đinh – Lý – Trần có gốc Mân Việt tức Âu Việt và đất phát tích của họ là tỉnh Phúc Kiến – Trung Quốc ngày nay. Tuy nhiên dấu vết ngôn ngữ mới là điều chúng tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh ở đây.

Thật vậy, năm 1288, sau chiến thắng Nguyên Mông, tại lễ báo công ở Chiêu Lăng thờ Trần Thái Tông Trần Cảnh, vua Trần Nhân Tông đã viết hai câu thơ bằng Hán tự: 社稷兩回勞石馬,山河千古奠金甌 – Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã, Sơn hà thiên cổ điện kim Âu!

Sử gia Trần Trọng Kim dịch: Xã tắc hai phen chồn ngựa đá, Non sông nghìn thuở vững âu vàng. Trang web Thi Viện dịch nghĩa: Trên nền xã tắc hai lần ngựa đá phải mệt nhọc, Nhưng núi sông nghìn đời được đặt vững như âu vàng.

Chữ Điện 奠 nghĩa là Định lập, kiến lập. Các bản dịch Việt ngữ hiện đại đều diễn nghĩa thành vững bởi vì họ hiểu Kim Âu là cái chậu, cái âu bằng vàng. Chúng tôi chắc chắn rằng Trần Nhân Tông hiểu Kim Âu là quốc thổ, chữ Âu đồng âm với chữ Việt trong Mân ngữ của tổ tiên nhà Trần. Chả ai định lập cái chậu cả, dù là chậu vàng. Đây là sự ấu trĩ và vô tri khi dịch chữ Hán trên tự vị, tức word by word, thiếu biện chứng lịch sử.

Thật ra, cách đây gần 20 năm, khi bắt đầu tiếp xúc và say mê khám phá sử Việt, chúng tôi đã hiểu Âu mang nghĩa Đất Đai, tức Land trong tiếng Anh. Do lúc ấy kiến văn còn lõm bõm, thiếu các công cụ và sử liệu trực tuyến như ngày nay, chúng tôi đã không thuyết phục được người đọc. Thậm chí tác giả An Chi còn viết báo, thẳng thừng phản bác chúng tôi như sau: “Làm sao mà chữ Âu trong thơ của Trần Thánh Tông lại có thể có nghĩa là “đất” khi mà nó là tiếng Hán rặt ròng, tiếng Hán 100%. Chữ “Âu” của Trương Thái Du có nghĩa là “đất” hay không là một chuyện chứ chữ Âu 甌 của Thánh Tông nhà Trần thì dứt khoát phải là “tiểu bồn dã” (chậu nhỏ vậy), “vu dã” (chậu vậy) như đã cho trong Từ hải (nghĩa 1 & 2) và tất cả các quyển từ điển tiếng Hán khác”.

Nghĩa hai câu thơ của vua Trần nên hiểu như sau: Xã tắc hai lần làm ngựa đá phải mệt nhọc. Non sông định lập từ ngàn xưa (đến nay) vẫn trọn vẹn cương thổ.

Hồ Quý Ly cũng từng cải tên núi Đại Lại (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) thành Kim Âu. Chữ Âu trong Kim Âu là phương ngữ Giang – Hoài tức Âu Việt. Kim Âu là Mân Ngữ Phúc Kiến, mang nghĩa quốc thổ toàn vẹn. Nhà Trần và nhà Hồ ở Việt Nam đã dùng Kim Âu vừa để chỉ cương thổ, vừa nhắc nhớ nguồn gốc Âu Việt của hoàng gia và một phần giới tinh hoa. Vì theo nhà ngôn ngữ học quốc tế người Nga G. S. Starostin, phương ngữ Phúc Châu ngày nay vẫn đọc Việt 越 là [ou?] hoặc một kiểu biến âm khác là [ok]. Lừng lững sau hai câu thơ của Trần Nhân Tông là non sông Đại Việt với chữ Việt đồng âm cùng chữ Âu.

Như vậy gốc tích của từ Việt trong quốc danh Đại Việt chỉ bị quên lãng bắt đầu từ nhà Lê. Từ đó dẫn đến việc người Việt Nam không thể hiểu tên nước của mình nghĩa là gì trong gần 600 năm. Cho đến khi chúng tôi đề xuất nghĩa của từ Việt chính là Land và Âu Việt là từ đẳng lập đồng âm đồng nghĩa chỉ nước Đại Việt của bá vương Câu Tiễn!

Phodong Village 11.2017

@T.T.Du

TỤC THỜ MÃ VIỆN Ở VIỆT NAM

3 Comments

Cách đây 12 năm, BBC có một bài viết gây nhiều tranh cãi và bất ngờ: “Ký ức về Mã Viện ở miền Bắc Việt Nam“. Nội dung ở đấy giới thiệu học giả Olga Dror từ đại học Cornell và các nghiên cứu liên quan đến tục thờ Mã Viện tại Việt Nam. Bài báo kết luận: “Bà không thể giải thích vì sao ngôi làng lại thờ một viên tướng Trung Hoa đã đàn áp các nữ anh hùng dân tộc chiến đấu vì tự do của đất nước. Bà chỉ có thể nói rằng việc thờ Mã Viện là một truyền thống mà người địa phương đã truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, và rằng việc thờ viên tướng này là điều bà được dạy khi còn trẻ. Điều này đặt giả thiết rằng Mã Viện đã được cả người Việt Nam và Trung Quốc thờ như một vị thần bảo vệ”.

Trước đó, cũng BBC nhắc đến quyển “Một luận thuyết nhỏ về những giáo phái của người Hoa và Đông Kinh” của bà Olga Dror, kèm theo một phần bài giới thiệu sách của tiến sĩ Li Tana, ĐH Quốc gia Úc, in trong Journal of Southeast Asian Studies năm 2003:

“Theo Dror, các đền thờ Mã Viện tồn tại không chỉ ở Hà Nội mà cả ở Cổ Loa, cũng như Thanh Hóa và Phúc Yên. Cô còn tìm thấy rằng ở Bắc Ninh nơi người dân thờ Hai Bà Trưng, họ cũng thờ Mã Viện ở trong cùng một ngôi đền. Tất cả những điều này tìm thấy ở miền Bắc, thật kinh ngạc.

Còn ở miền Nam Việt Nam, được đặt ở các hội quán người Hoa, tục thờ Mã Viện từng được người ta tin là đã do Hoa Kiều đem vào Việt Nam. Điều này là vì tước danh của Mã Viện là Phục Ba (chinh phục sóng dữ), nó đặc biệt đáp ứng nhu cầu của các lái buôn thường gặp nguy nan trên biển, và ông là một nhân vật Trung Hoa hùng mạnh được xem là có thể bảo vệ quyền lợi của người Hoa ở Việt Nam. Nhưng như Dror chỉ ra, còn nhiều khía cạnh khác của vấn đề này. Giờ đây tôi (tác giả Li Tana) thấy rất có thể câu chuyện lại diễn ra theo hướng ngược lại, tức là người Hoa đã lấy lại tục thờ Mã Viện từ người Việt Nam, bởi khi họ đến Việt Nam, việc thờ phụng Mã Viện như một thần bản địa đã diễn ra rộng khắp. Điều này cũng giải thích vì sao Mã Viện lại được gọi là bản thổ công”.

Thật ra cả hai bà tiến sĩ đều chưa đi đến cái mốc đầu tiên trong sử Việt khẳng định tục thờ Mã Viện ở Việt Nam đã xuất hiện từ rất lâu, đến nỗi nó đã trở thành “cổ tích – vết tích cổ xưa” trong An Nam Chí Lược viết bởi Lê Tắc khoảng năm 1335:

威武廟: 東坡記漢兩伏波皆有功於嶺南之民, 前伏波邳離路侯, 後伏波新息馬侯. 南越自三代不能平, 秦雖通道置吏旋復為夷. 邳離始滅其國開九郡. 然至東漢女子徴側反震動六十餘城. 時世祖初平民勞厭兵方下玉關謝西域. 況國荒何足以辱王師. 非新息苦戰則九郡左袵至今矣. 由此論之兩伏波廟食嶺南均矣. 海上有伏波祠元豐中詔封忠顯王. 凡濟海必卜焉謂可濟則濟否則止, 使人信之如度量衡必不吾欺者. 嗚呼非盛德其孰能如此. 某以罪謫儋耳三年, 今乃復還海北往返皆順風無以答神, 貺乃碑而銘之:

至險莫測海與風

至幽不仁魚與龍

至信可恃惟二公

寄命一葉萬仞中

自此而南洗心胷

撫循良民必清通

自此而北端汝躬

屈伸窮達常正忠

生為人英死愈雄

神雖無言我意同

Tạm dịch: (Dấu vết xa xưa thứ hai sau Việt vương thành là) Uy Vũ Miếu: Đông Pha (tức Tô Đông Pha 1037 -1101) viết rằng nhà Hán có hai Phục Ba tướng quân đều có công với dân Lĩnh Nam, thứ nhất là Bi Li Lộ Hầu (tức Lộ Bác Đức – người đã tiêu diệt họ Triệu ở Nam Việt năm 111 BC), thứ hai là Tân Tức Mã Hầu (tức Mã Viện – người đã dập tắt khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 43). Đất Nam Việt từ thời Tam Đại (Hạ – Thương – Chu) không thể bình định được, thời Tần tuy đã mở đường đến nơi, xếp đặt quan lại cai trị nhưng rồi cũng trở lại tình trạng man mọi. Đầu tiên Lộ Bác Đức diệt Nam Việt mở mang chín quận. Tuy nhiên đến đầu nhà Đông Hán, bà Trưng Trắc nổi dậy làm chấn động hơn 60 thành trì. Thời ấy vua Thế Tổ (Hán Quang Vũ Đế) mới lên ngôi, dân tình lao khổ chán ghét chiến tranh, cửa ải Ngọc Quan bị dẹp, đường sang Tây Vực cắt đứt. Hơn nữa nước (Việt) ta xa xôi hẻo lánh, chẳng đáng phiền lụy đến quân triều đình. Nếu không có Tân Tức Hầu (Mã Viện) khổ chiến, thì cả chín quận đến giờ vẫn mặc áo cài khuy bên trái (ý nói sinh hoạt với phong tục và văn hóa phương nam). Do đó miếu hai vị Phục Ba được thờ phụng nhiều nơi ở Lĩnh Nam. Bên bờ biển (Quảng Đông ngày nay) cũng có đền thờ Phục Ba, được nhà Tống sắc phong Trung Hiển Vương vào giữa những năm Nguyên Phong (1078 – 1085). Mỗi khi đi biển, mọi người thường đến đây cầu xin, nếu quẻ bói bình an thì đi, nếu không thì dừng lại, dân chúng sùng tín như đong đếm, vì chưa từng bị dối lừa. Ôi! công đức không cao dày, làm sao linh nghiệm như thế. Tôi (Tô Đông Pha) từng mắc tội bị đày đi Đam Nhĩ (Đảo Hải Nam) ba năm, hôm nay được về lại biển bắc, đi về đều sóng yên biển lặng, không có gì báo đáp thần nhân, bèn dựng bia đá có khắc minh văn như sau:

Nguy hiểm nhất là cuồng phong bất trắc của biển cả

Đen đủi nhất là gặp cá to như rồng dữ

Tin tưởng nhất là được nương nhờ hai ngài Phục Ba

Gởi sinh mệnh như một chiếc lá giữa muôn trùng dặm nước

Gột tẩy sạch mọi sợ hãi trong tâm can lúc đi xuống phương nam

An ủi lương dân mọi sự sẽ hanh thông

Thẳng một mạch quay về phương bắc

Làm rõ oan ức, thông suốt đạo lý trung nghĩa

Bình sinh là kẻ xuất chúng, chết anh hùng

Các ngài chẳng nói gì hẳn đồng ý với tôi như vậy.

Rất tiếc Lê Tắc không ghi chú Uy Vũ Miếu nằm ở địa phương nào tại Việt Nam, trong khi đó 伏波祠 – Phục Ba Từ – Đền thờ Phục Ba bên bờ biển mà Lê Tắc nhắc đến có thể chính là Phục Ba Từ (vẫn còn giữ nguyên tên) tại Trạm Giang – Quảng Đông – Trung Quốc (ảnh dưới). Không loại trừ Tô Đông Pha bị đi đày từ Quảng Châu. Do đó cũng có thể tồn tại một đền Phục Ba khác tại hải cảng Quảng Châu, nơi Lộ Bác Đức đã đánh thành Phiên Ngu của Nam Việt.

Leizhou_Fubo_Ci_2014.02.27_14-49-36

Trạm Giang chính là trị sở xa xưa của quận Hợp Phố thời Hán, nơi Mã Viện tập hợp binh thuyền trước khi viễn chinh đến Việt Nam dập tắt cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng. Những nguyên nhân có thể có đã đưa Mã Viện và Lộ Bác Đức vào đền thờ ở phương nam có thể liệt kê như sau:

a. Giản dị nhất là vì Hầu hiệu của hai ông đều là Phục Ba – Khuất phục sóng dữ. Nó đã trở thành tín ngưỡng của những người đi biển nói chung và dân di cư gốc Âu Việt từ lãnh thổ Nam Việt cũ xuống Việt Nam từ sau năm 111 BC. Không loại trừ ở Bắc Việt, miếu thờ Phục Ba là nơi hương khói cho cả Lộ Bác Đức và Mã Viện. Đặc biệt là phong tục thờ Phục Ba của di dân Hoa Nam đến Nam Việt Nam từ cuối thời Minh chắc chắn không phải từ việc hàm ơn Mã Viện hoặc bắt chước tục thờ Mã Viện của người Bắc Việt như Li Tana đề xuất ở trên.

b. Mã Viện là một viên tướng xâm lược nổi tiếng, đồng chủng, đồng văn và suốt 200 năm đồng triều với các quan lại Hán cai trị khắp châu thổ sông Hồng và sông Mã từ sau năm 43, việc thờ tự ban đầu xuất phát từ đấy.

c. Như đã khảo sát trong “Nguồn gốc dân tộc Việt Nam“, thành phần di truyền chính của người Kinh Việt Nam hiện nay là từ Hoa Nam. Công cuộc thực dân của Mã Viện đã mở toang cánh cửa di dân xuống châu thổ sông Hồng và sông Mã. “Công ơn” ấy có thể đã được ghi nhớ bằng các miếu thờ Mã Viện rất phổ biến ở Bắc Việt trước đây.

***

Trên không gian mạng Việt ngữ chúng tôi thấy có tác giả Lý Vĩnh Huê với tục danh “Hoa Bộ” hay Robert Lý nổi tiếng từng khảo cứu một bài thơ của Lê Quý Đôn, xin chép lại ở đây để mọi người tham chiếu:

《經鬼門謁伏波將軍廟》 KINH QUỶ MÔN YẾT PHỤC BA TƯỚNG QUÂN MIẾU

瞻謁山祠向水涯 Chiêm yết sơn từ hướng thủy nhai

修然心緒動追依 Tu nhiên tâm tự động truy y

鄉並款段仙為者 Hương tịnh khoản đoàn tiên vi giả

塞漠旌旄壯亦哉 Tái mạc tinh mao tráng diệc tai

當日偉談傳米穀 Đương nhật vĩ đàm truyền mễ cốc

千秋公議恨雲臺 Thiên thu công nghị hận Vân đài

炎郊處處依餘庇 Viêm Giao xứ xứ y dư tý

鳶詀元曾此地來 Diên chiếm Nguyên tằng thử địa lai

 

散盡千金惠故人 Tán tận thiên kim huệ cố nhân

間並一劂事明君 Gian tình nhất quyết sự minh quân

應知功大多貽累 Ưng tri công đại đa di lụy

只為情深苦服勞 Chỉ vị tình thâm khổ phục lao

能記荒蔞酬主簿 Năng ký hoang lâu thù chủ bạc

仙緣薏苡圓將軍 Tiên duyên ý dĩ viên tương quân

至今浩氣英風在 Chí kim hạo khí anh phong tại

繚繞吳山粵嶠雲 Liễu nhiễu Ngô sơn Việt kiệu vân

 

(Tạm dịch: QUA QUỶ MÔN VIẾNG MIẾU PHỤC BA TƯỚNG QUÂN

Bái viếng núi đền nhìn ra chân trời; Tấm lòng kính cẩn nhớ về thuở nào. Làng quê thờ phụng vị tiên; Cờ xí biên ải thêm hùng tráng thay. Thuở ấy bậc lưu hầu truyền dạy [cho dân trồng] mễ cốc; Ngàn thu bàn luận còn ghi mối hận đài mây. Cả Viêm bang lẫn Giao Chỉ thảy được nương nhờ; Diều hâu Nguyên Mông từng thử ghé chốn này.

Trút ngàn vàng đền ơn người cũ; Cùng nắm con dao thờ minh chúa. Đành chịu công lớn nhiều âu lo; Chỉ bởi thâm tình nên phải chịu khổ. Cỏ hoang còn biết báo đáp quan ngài; Lau lách nhờ duyên trọn theo tướng quân. Chí khí phi thường đến nay vẫn còn; Quanh quẩn trong mây ở núi Ngô non Việt).

***

Người Việt Nam hiện nay luôn thắc mắc tại sao cha ông họ từng thờ tự một kẻ xâm lược. Lịch sử cần phải được truy xét biện chứng, nếu không tư duy chúng ta cứ quanh quẩn trong lối mòn tù đọng mà không tự ý thức được. Chẳng hạn việc tồn tại đền thờ Sầm Nghi Đống ở Hà Nội là rất bình thường. Thứ nhất là do triều Tây Sơn rất ngắn. Thứ hai là tâm tình hoài Lê ở châu thổ sông Hồng rất mạnh. Sầm Nghi Đống là đồng minh của nhà Lê, cũng như mới đây quân đội Mỹ là đồng minh của Nam Việt Nam và người Việt ở California đã đang và sẽ dựng những tượng đài vinh danh tướng lính Mỹ đã sát cánh cùng họ trong chiến tranh Việt – Mỹ.

Tuy nhiên tục thờ Mã Viện xưa cũ hơn và ẩn giấu một bí ẩn mà chúng tôi đã khai mở trong quyển sách “Khảo chứng tiền sử Việt Nam bằng Cổ thư và Thiên văn học“. Nó liên quan đến quá trình hình thành dân tộc Việt Nam, chủ yếu từ nhánh Hoa Nam đã Nam Tiến trong suốt 2000 năm qua!

T.T.D

@Phodong Village 11.2017

Nguồn gốc dân tộc Việt Nam

2 Comments

Trong hơn mười năm trở lại đây, hội địa lý quốc gia Hoa Kỳ (National Geographic) đã bán dịch vụ tìm tổ tiên cho một số lượng khá lớn người Việt muốn đi đến sự thật cuối cùng. Họ đa số là Việt Kiều sống ở một số nước phương Tây. Các mẫu gene Việt đã cho ra kết quả không nằm ngoài dự đoán của chúng tôi tại quyển sách Khảo chứng tiền sử Việt Nam bằng cổ thư và thiên văn học: Người Kinh ở Việt Nam có 57% gene từ tổ phụ Đông Bắc Á, 43% gene của tổ mẫu Đông Nam Á.

NationalGeo

 (Nguồn ảnh: Chụp từ National Geographic)

Ngày 3.10.2017, tạp chí khoa học hàng đầu thế giới Nature (phiên bản trực tuyến) đã công bố kết quả một công trình nhân chủng học lớn, hội tụ 13 nhà nghiên cứu quốc tế có tên tuổi trong đó có ba cái tên Việt Nam: S. Pischedda, R. Barral-Arca, A. Gómez-Carballa, J. Pardo-Seco, M. L. Catelli, V. Álvarez-Iglesias, J. M. Cárdenas, N. D. Nguyen, H. H. Ha, A. T. Le, F. Martinón-Torres, C. Vullo & A. Salas: Phylogeographic and genome-wide investigations of Vietnam ethnic groups reveal signatures of complex historical demographic movements.

“From an anthropological point of view, the overall scenario is that present-day Vietnamese have a dual ethnic origin: a major component coming from South of China, superimposed to a minor component originating from a Thai-Indonesian composite. The Nam tiến has probably been key for the configuration of the genome architecture of present-day Vietnamese”.

“Đứng trên quan điểm nhân chủng học, kịch bản chung là người Việt Nam ngày nay có nguồn gốc dân tộc kép: thành phần chính đến từ Hoa Nam, chồng lên thành phần phụ từ hợp chủng Thái – Indonesia. Nam tiến có lẽ là từ khóa cho sự mô tả cấu trúc di truyền của người Việt Nam hiện đại.”

***

Đã đến lúc bóc bỏ chiếc nhãn “Bản địa” được dán lên lịch sử và văn hóa Việt Nam bởi chủ nghĩa dân tộc mù quáng, bởi các sử gia kém chuyên môn nhưng giỏi tuyên huấn.

Các kết quả có được nhờ thành tựu di truyền và nhân chủng học ở trên hoàn toàn trùng khớp với nghiên cứu của chúng tôi dựa vào Hán sử, cấu trúc ngôn ngữ và khảo cổ trống đồng. Nói cách khác, hai hướng tiếp cận đã bổ sung cho nhau để đi đến tóm tắt lịch sử Việt Nam như sau:

Trước năm 330 BC chủ nhân vùng đất từ bắc bộ Việt Nam đến Thanh Hóa – Nghệ An là người Mon Khmer, ngoại hình thấp lùn, da ngăm đen (giống người Chàm ngày nay). Khi Trang Kiểu đánh chiếm và ở lại làm vua vùng hồ Điền – Côn Minh – Vân Nam, một số bộ lạc Thái cổ (dáng người cao ráo, da trắng) ở đấy bỏ chạy theo sông Hồng và sông Mã xuống Việt Nam, hòa trộn với người Mon Khmer bản địa, xây dựng văn hóa bộ lạc hoặc liên minh bộ lạc Đông Sơn khá rực rỡ. Chủ nhân văn hóa này được Hán sử gọi là người Lạc Việt.

Ở thời điểm Công nguyên, người Hán bắt đầu thực dân hóa Việt Nam, đó là động lực và nguyên nhân cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng.

900 năm tiếp theo, Việt Nam là nơi hội tụ và hợp huyết của các nhóm người: Lạc Việt (da hơi ngăm, tầm vóc trung bình), Âu Việt con cháu Câu Tiễn di cư xuống từ lãnh thổ Mân Việt và Nam Việt cũ (da hơi sáng, tầm vóc trung bình, có tục xăm mình), quan binh người Hán viễn chinh đồn trú và tội nhân Hán đi đày hoặc lánh nạn (da trắng, cao lớn, đa số mắt một mí). Giới tinh hoa của xã hội Việt Nam khi ấy chắc chắn có dòng máu từ mẹ Lạc Việt nhưng mang đậm nét văn hóa Âu Việt và Hán.

Năm 938, Ngô Quyền ly khai khỏi Nam Hán, lấy tên cũ của Nam Hán là Đại Việt (năm 917) để dựng nước. Rõ ràng quốc danh Đại Việt hàm ý quyền lực Việt Nam khi ấy thuộc về người gốc Âu Việt và Nam Việt. Các họ Đinh – Lê – Lý – Trần tiếp nối sau đó có lẽ đều là người Việt Nam gốc Âu Việt hoặc Hán. Hậu quả là chính sử Việt Nam bắt đầu từ thời Trần đã đưa Triệu Đà làm vua khai quốc.

Đến thời Hậu Lê, hoàng gia gốc Thái đầu tiên nắm quyền ở Việt Nam. Họ dần dần loại bỏ Triệu Đà khỏi sử sách. Người miền trong Thanh Hóa – Nghệ An – Hà Tĩnh (gốc Thái chiếm ưu thế) không tin tưởng người phía bắc (nặng gốc Âu Việt và Hán). Sự kiện gia tộc Nguyễn Trãi bị tru di hoặc gia tộc Tày – Thái của Mạc Đăng Dung được ưu ái, nên được nhìn dưới con mắt mâu thuẫn huyết thống và văn hóa, hơn là chính trị.

Cuối Minh đầu Thanh, chính trị trung ương bắc triều hỗn loạn, làn sóng di cư từ Hoa Nam xuống Việt Nam dâng cao. Thuyết Đại Việt của Lưu Nham từ năm 917 sống lại. Quang Trung có lẽ đã rất tin tưởng các đô đốc hải quân gốc Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông và Hải Nam của mình. Ông mơ đến một nước Đại Việt hùng cường bao gồm cả Lưỡng Quảng. Giả thuyết trên càng có căn cứ hơn với đề xuất của Gia Long với Thanh triều, đặt tên mới Nam Việt cho đế quốc của ông. Nam Việt chính là phiên bản Đại Việt xưa hơn, gắn với tên tuổi Triệu Đà.

Giải pháp Việt Nam của Gia Khánh vừa uyển chuyển vừa khôn khéo loại trừ được mầm mống tư tưởng Đại Việt. Thập kỷ 30 của thế kỷ 20, Trung Quốc cũng đã phải đối mặt với một luận thuyết tương tự từ một quốc gia Đông Nam Á. Đó là thuyết Đại Thái, tuyên xưng lãnh thổ dân tộc Thái bao gồm cả Vân Nam và một số vùng đất Hoa Nam khác.

Ngày 2.9.1945 lãnh tụ Hồ Chí Minh khai sinh nước Việt Nam mới, kết thúc hơn một ngàn năm phong kiến. Tương tự như vua Nhật từng đặt niên hiệu MINH TRỊ, cụ Hồ đặt tên mình là CHÍ MINH. Minh Trị hay Hướng Minh/Chí Minh đều xuất phát từ một câu Chu Dịch: NAM DIỆN HƯỚNG MINH NHI TRỊ. Nó nói lên ý chí độc lập của một quốc gia có chủ quyền bên cạnh Trung Hoa, chia sẻ cùng đất nước của Chu Công các giá trị văn hóa phổ quát cũng như lịch sử và di truyền của tổ tiên.

@T.T.D 10.2017

Tư duy phi tuyến tính – Lateral thinking

Leave a comment

Khái niệm này được nhà tâm lý học Malta, Edward de Bono, đặt tên năm 1967. Ví dụ tác giả đưa ra là phán quyết của vua Do Thái Solomon (Judgment of Solomon): Đối mặt với vụ tranh chấp con của hai bà mẹ, Solomon yêu cầu cưa đôi đứa trẻ, mỗi người nhận một nửa. Bà mẹ thật sự là người đã phải chấp nhận nhường nhịn kẻ mạo danh để bảo vệ tính mạng con mình.

Ở góc độ nào đó, lateral thinking đứng trên tư duy critical thinking (tư duy phản biện, phân tích) thông thường. Nó đòi hỏi sự sáng tạo những ý tưởng mới từ cái có sẵn, dựa trên những giá trị có tính động (movement value).

Hoa ngữ và Nhật ngữ đều phiên dịch khái niệm này là “thủy bình tư khảo” và định nghĩa đây là tư duy đa hướng, thêm chiều ngang vào chiều dọc (phản biện, phân tích) hoặc phi tuyến tính. Người Việt dịch thành “tư duy ngoại biên” là bám theo tự nghĩa, chứ không phải tính chất.

Tư duy phi tuyến tính hoàn toàn không mới trong các nền văn minh lớn, Edward de Bono chỉ có công đặt tên cho nó mà thôi. Trong lĩnh vực văn học trinh thám Đông – Tây, tư duy phi tuyến tính được nhắc đến rất nhiều. Chẳng hạn tại bộ film “The Invisible Guest” nổi tiếng gần đây, người ta nêu ra trường hợp điển hình như sau: “Trong một cái nhà kho bằng gỗ hoàn toàn bỏ trống. Có một người đàn ông được tìm thấy treo cổ trên cây xà ngang chính. Sợi dây thừng ông ấy dùng để treo cổ là 3 mét. Chân ông ấy cách sàn nhà là 25 cm. Bức tường gần nhất cách 6 mét. Không thể leo tường hoặc với tới xà ngang. Vậy mà người đàn ông đó có thể tự treo cổ được. Làm sao ông ấy làm được điều đó? Ông ấy leo lên một tảng băng, rồi nó tự tan dần bởi nhiệt”.

Truyện dân gian Việt Nam, có lẽ do nhà Nho nào đấy sáng tác từ các chất liệu văn hóa Trung Hoa, cũng có phiên bản phán quyết của Solomon: “Một bà già mất gà đã nổi điên chửi hàng xóm hết ngày này qua ngày khác. Cả xóm chịu hết nổi, bèn kéo nhau đến công đường nhờ phân xử. Vị quan cho phép mọi người thẳng tay tát kẻ làm náo loạn. Hầu hết mọi người nghĩ đến tình làng nghĩa xóm, lại thương bà già của đau con xót, nên chỉ vung tay rất nhẹ. Riêng kẻ trộm, sẵn cáu tiết vì bị nguyền rủa, đã xuống tay rất mạnh. Y liền bị bắt vì tội trộm cắp”.

Tôi không nhớ bất cứ một câu chuyện Bao Công phá án nào cả, nhưng tôi tin chắc bạn đọc sẽ tìm ra giùm tôi ít nhất là vài tình huống mà tư duy phi tuyến tính đã được áp dụng.

lateral

Trong quyển sách “Khảo chứng tiền sử Việt Nam bằng cổ thư và thiên văn học” chúng tôi đã áp dụng tư duy phi tuyến tính để lấp đầy các khoảng trống ở Việt sử trước công nguyên.

Theo chính sử Việt Nam từ thời phong kiến đến nay, người ta đều xác quyết có vua Hùng và An Dương Vương cũng như xung đột giữa Triệu Đà với An Dương Vương. Trong khi đó Hán sử lại hoàn toàn thiếu vắng các sự kiện này.

Do đó chúng tôi đã đi đường vòng:

  1. Một là chứng minh Nam Giao, Giao Chỉ, Tượng Quận, Cửu Chân và Nhật Nam khởi đi là các khái niệm thiên văn hoặc liên quan đến thiên văn và là những giá trị động (movement value).
  2. Hai là chứng minh người Hán rất yếu hàng hải và Triệu Đà không có đủ điều kiện về kỹ thuật, tri thức cũng như vật chất để thực hiện hải hành trên quãng đường gần 1000km từ Quảng Châu đến Hà Nội để xâm lược mảnh đất tiền Việt Nam.

Từ đó lý thuyết di cư đã được áp dụng. Nó đã đủ hợp lý để phủ nhận hoàn toàn hư cấu bản địa của văn hóa Việt Nam. Nói cách khác, tiền sử Việt Nam có quá nhiều khoảng trống. Nó cần sử gia tư duy phi tuyến tính, thì mới có thể làm sáng tỏ được những điều khuất tất.

@ T.T.D. 2017

Sử Ký: Tây Nam Di Liệt Truyện

Leave a comment

Người dịch: Trương Thái Du

Nguồn: 西南夷列傳

Ghi chú: Dạ Lang là một liên minh các bộ lạc lớn ở Hoa Nam, địa bàn phía bắc vào khoảng từ huyện Nguyên Lăng, Hồ Nam đến huyện Đồng Nhân, Quý Châu, Trung Quốc. Trung tâm nước Điền chính là thành phố Côn Minh ngày nay. Nhiễm Mang là miền đông Tây Tạng. Sông Tang Kha là sông Tây giang đổ ra biển tại Phiên Ngu, theo mô tả trong các ngữ cảnh phía dưới, phần thượng lưu của nó có thể là Mông giang chảy vào Tây giang tại Mông Giang trấn.

Figure-5-Tomb-M24-at-the-Dian-site-of-Lijiashan-richly-furnished-with-bronze-musical

Ảnh: Sơ đồ mộ táng một thủ lĩnh Điền Việt – Vân Nam tại Thạch Trại Sơn, trong đó có trống đồng tiền Heger I, thủy tổ trống đồng Đông Sơn.

Người Di ở phía tây nam có hàng chục tù trưởng, lớn nhất là Dạ Lang; phía tây Dạ Lang lại có hàng chục tù trưởng người Mi Mạc, lớn nhất là Điền; từ Điền đi về phía bắc cũng có hàng chục tù trưởng, lớn nhất là Cung Đô: Tất cả họ đều búi tóc, làm ruộng và tụ hợp thành làng mạc. Phía tây khu vực này từ Đồng Sư đi về phía đông, phía bắc đến Diệp Du, có người Tây và Côn Minh, họ đều tết tóc, du cư theo đàn gia súc, không ở cố định một chỗ, không có tù trưởng, khu vực sinh sống hoạt động trải dài hàng ngàn dặm. Từ đó đến vùng đông bắc có hàng chục tù trưởng, Tỉ và Tạc Đô lớn nhất. Từ Tạc Đô đi lên phía đông bắc, có hàng chục tù trưởng, lớn nhất là Nhiễm Mang. Phong tục tập quán sinh hoạt ở đây nửa du cư, nửa định cư, đây là phía tây đất Thục. Từ Nhiễm Mang đi lên đông bắc, có hàng chục tù trưởng, lớn nhất là Bạch Mã, đều là người Đê. Tất cả đều là người Man và người Di phía ngoài tây nam đất Ba và đất Thục.

Bắt đầu từ thời Sở Uy Vương (339 BC – 329 BC), đã sai tướng quân Trang Kiểu theo thượng lưu Trường giang chiếm các vùng phía tây đất Ba và Kiềm Trung. Trang Kiểu là hậu duệ của Sở Trang Vương ( 613 BC – 591 BC). Kiểu đến hồ Điền, rộng ba trăm dặm, xung quanh đất đai bằng phẳng phì nhiêu trải dài cả ngàn dặm, dùng binh lính trấn áp rồi gộp vào nước Sở. Kiểu muốn quay về Sở báo tin, nhằm lúc Tần đang đánh Sở để chiếm Ba quận và Kiềm Trung quận (316 BC), đường bị chặn, bèn quay lại xưng vương xứ Điền, đổi cách ăn mặc, sinh hoạt bằng tập quán bản địa như tù trưởng. Thời Tần thường làm những trục lộ chính năm thước8, đặt quan nhỏ tại một số nơi. Hơn mười năm Tần bị diệt. Đến Hán hưng, những khu vực này bị quên lãng, triều đình chỉ quán xuyến đến đất Thục cũ mà thôi. Dân Ba Thục có kẻ lén ra ngoài buôn bán, thu mua ngựa của nước Tạc, nô tì và mao ngưu (bò lông dài, bò Tây Tạng) của người Bặc, nhờ vậy Ba Thục phú thịnh.

Năm Kiến nguyên thứ sáu (135 BC), đại hành tướng Vương Khôi đánh Đông Việt, dân Đông Việt giết vương tên Dĩnh để đầu hàng. Khôi dựa vào uy binh sai quan huyện Phiên Dương là Đường Mông đến báo tin cho Nam Việt. Vua Nam Việt đãi Mông món tương làm bằng quả cẩu (Lycium barbarum) của nước Thục, Mông hỏi nguồn gốc, vua đáp: “Phía tây bắc sông Tang Kha, sông Tang Kha rộng mấy dặm, chảy ra biển phía dưới thành Phiên Ngu”. Mông về Trường An, hỏi thương nhân người Thục, người ấy bảo: “Chỉ đất Thục mới có tương cẩu, nhiều người lén mang bán ở Dạ Lang. Dạ Lang nằm kề sông Tang Kha, sông rộng hơn trăm bộ (một bộ sáu thước ~ 1.98m), đủ để đi thuyền. Nam Việt dùng của cải mong sát nhập Dạ Lang, để phía tây đến tận Đồng Sư, nhưng họ không chịu lệ thuộc”. Mông bèn viết thư thuyết phục hoàng thượng: “Nam Việt Vương ngồi xe mui vàng, trên xe cắm cờ tả đạo (như thiên tử), đất đai đông tây hơn vạn dặm, danh là ngoại thần, nhưng làm chủ hẳn một châu. Nay từ Trường Sa và Dự Chương đi xuống, đường thủy đứt đoạn, khó đi. Nghe nói Dạ Lang có tinh binh, có thể đến hơn mười vạn, xuôi thuyền dọc sông Tang Kha, bất ngờ xuất quân, là cách hay khống chế Nam Việt vậy. Quân Hán lớn mạnh, đất Ba Thục giàu có, thông con đường Dạ Lang, đặt quan trấn nhậm, rất dễ thực hiện.” Vũ đế đồng ý. Bèn bái Đường Mông làm trung lang tướng, giúp cho một ngàn quân, thêm hơn một vạn phu vận chuyển lương thảo, theo lối cửa ải Tạc của Ba Thục đi vào, gặp Dạ Lang hầu Đa Đồng. Mông ban phát cho Đa Đồng rất hậu, dùng uy đức nhà Hán dụ dỗ, hứa bổ nhiệm làm quan, cho con Đồng chức huyện lệnh. Các ấp nhỏ cạnh Dạ Lang đều tham tơ lụa của người Hán, cho rằng đường từ Hán vào hiểm trở, khó bề chiếm đóng nơi này, bèn nghe lời hứa hẹn của Mông. Vũ đế được tin báo, liền thành lập quận Kiền Vi. Bắt đầu cho lính Ba Thục sửa sang đường, từ lối đất Bặc đến Tang Kha giang. Tư Mã Tương Như người đất Thục cũng nói đất Cung đất Tạc miền tây Di cũng có thể lập quận. Lại sai Tương Như làm lang trung tướng đi đến hiểu dụ, giống miền nam Di, đặt một đô úy, hơn mười huyện, nhập vào đất Thục.

Tại thời điểm này, bốn quận của Ba Thục (Ba, Thục, Quảng Hán, Hán Trung) mở đường đến tây nam Di, cần rất nhiều lính thú cũng như nhân lực vận chuyển lương thảo. Sau vài năm, đường không thông, quân lính mệt mỏi đói khát trong khí hậu ẩm thấp nên chết rất nhiều; người Di tây nam một số làm phản, phát binh nổi dậy đánh đuổi, hao phí mà chẳng được gì. Vua lo lắng, sai Công Tôn Hoằng đi đến xem xét. Hoằng về thưa rằng không thuận tiện. Sẵn dịp Hoằng làm ngự sử đại phu, lúc này đúng thời điểm đang đắp đất sửa thành Sóc Phương dựa vào Hoàng Hà để đuổi giặc Hồ, nhân đó bảo rằng khai phá tây nam Di không có lợi, nên dừng, tập trung sức lực chống Hung Nô. Vua bãi tây Di, chỉ đặt ở hai huyện nam Di mỗi một đô úy, ra lệnh quận Kiền Vi tự thân vận động.

Đến năm Nguyên thú thứ nhất (122 BC), bác vọng hầu Trương Khiên đi sứ Đại Hạ về, nói rằng lúc ở đó có thấy vải đất Thục, gậy trúc xứ Cung Đô, hỏi xuất xứ họ nói: “Ở phía đông nam là nước Thân Độc, cách khoảng vài ngàn dặm, mua được từ nhà buôn Thục”. Có kẻ nghe nói phía tây Cung Đô khoảng hai ngàn dặm có nước Thân Độc. Khiên nhân đó nhấn mạnh Đại Hạ ở về phía tây nam Đại Hán, rất hâm mộ Trung Quốc, bị Hung Nô ngăn trở, nếu mở lối thông với Thục, đường đến nước Thân Độc kế bên thuận tiện, hữu lợi vô hại. Do vậy vua bèn sai Vương Nhiên Vu, Bách Thủy Xương, Lữ Việt Nhân cùng nhau đi sứ về phía tây của tây Di, hướng về nước Thân Độc. Khi đến nước Điền, Điền vương là Thường Khương bèn lưu lại, rồi phái hơn mười nhóm người hỗ trợ tìm đường đi về phía tây. Hơn một năm, tất cả đều bị người Côn Minh cản trở, chẳng ai đến được nước Thân Độc.

Điền vương hỏi sứ giả Hán: “Hán và Điền nước nào lớn hơn?” Dạ Lang hầu cũng hỏi như thế. Vì đường không thông, bọn họ làm chúa một châu, không biết rằng nước Hán rộng lớn. Sứ giả trở về, liền nhấn mạnh Điền là một nước lớn, đủ điều kiện để kết giao. Hán Vũ đế rất lưu tâm.

Đến lúc Nam Việt làm phản, (Năm 112 BC) Hán Vũ đế sai Trì Nghĩa Hầu dựa vào quận Kiền Vi tập hợp quân lính nam Di. Tù trưởng Thả Lan sợ đi xa, các bộ tộc bên cạnh vào bắt những người già cả yếu đuối ở nhà, liền tập hợp dân chúng làm phản, giết sứ giả và thái thú quận Kiền Vi. Nhà Hán bèn đem những tội nhân Ba Thục định dùng đánh Nam Việt, dưới quyền tám viên hiệu úy, bình định Thả Lan. (Năm 111 BC) Khi Nam Việt đã bị diệt, tám viên hiệu úy ấy (theo đường sông Tang Kha) vẫn chưa đến Phiên Ngu, liền dẫn quân quay ngược lại, trừ khử bộ tộc Đầu Lan. Đầu Lan vốn thường ngăn cách con đường đi đến nước Điền. Sau khi diệt Đầu Lan, đánh dẹp hết người nam Di, đặt Tang Kha quận. Dạ Lang hầu đầu tiên ỷ thế Nam Việt, Nam Việt mất, quân Hán quay về diệt phản, Dạ Lang bèn vào triều chầu kiến. Hán Vũ đế cho làm Dạ Lang vương.

Sau khi diệt Nam Việt, tiếp tục truy sát tù trưởng Thả Lan, tù trưởng bộ tộc Cung, đuổi giết Tạc hầu, các bộ tộc Nhiễm và Mang sợ hãi xin được làm bầy tôi và đặt quan lại trấn nhậm. Bèn lấy Cung Đô làm Việt Tây quận, Tạc Đô làm Trầm Lê quận, Nhiễm Mang thành Vấn Sơn quận, đất Bạch Mã phía tây Quảng Hán trở thành quận Vũ Đô.

Hán Vũ đế sai Vương Nhiên Vu lấy uy phong phá Nam Việt và diệt người nam Di để dụ Điền vương nhập triều thần phục. Điền Vương có mấy vạn người, phía đông bắc có Lao Tẩm và Mi Mạc đều cùng họ tộc hỗ trợ, cho nên chưa chịu nghe. Lao Tẩm và Mi Mạc nhiều lần xâm phạm sứ giả và quân lính nhà vua. Năm nguyên phong thứ hai (109 BC), Hán Vũ đế điều động quân đội Ba và Thục tiêu diệt Lao Tẩm và Mi Mạc, quân tới sát nước Điền. Điền vương lúc này mới bắt đầu nhún nhịn, để khỏi bị giết. Điền vương li khai với người Di tây nam, đầu hàng nhà Hán, xin được đặt quan trấn nhậm và vào triều chầu bái. Hán Vũ đế lấy đất Điền lập quận Ích châu, ban cho Điền vương ấn tín để trở về chăm lo cho dân.

Các tù trưởng miền tây nam Di có đến hàng trăm người, chỉ riêng Dạ Lang và Điền nhận được ấn vương. Điền chỉ là một ấp nhỏ bé, lại được sủng ái nhất.

Thái sử công nhận xét: Tổ tiên nước Sở nhận được lộc trời chăng? Đầu thời Chu thì làm thầy Văn Vương, rồi được phong đất Sở. Đến ngày Chu suy tàn, nước Sở đất đai rộng năm ngàn dặm. Sau khi Tần diệt (sáu nước), chỉ có hậu duệ nước Sở vẫn ở trên ngôi vương tại xứ Điền. Nhà Hán sát diệt tây nam Di, bao nhiêu tiểu quốc bị xóa sổ, chỉ có Điền vẫn là vị vương được quí mến. Việc bình định tây nam Di, bắt đầu từ món tương Cẩu mà Nam Việt vương đãi Đường Mông ở Phiên Ngu, gậy chống ở nước Đại Hạ có nguồn gốc từ cây trúc xứ Cung. Tây Di sau đó lại bị chia làm hai phương, cuối cùng mới được Hán Vũ đế thiết trí thành bảy quận.

Older Entries

Anle20's Blog

Just another WordPress.com weblog

levinhhuy

Quắc mắt xem khinh nghìn lực sĩ/ Cúi đầu làm ngựa bé nhi đồng

thôn Sấu

Quê hương yêu dấu (Dọc hành chấm đứng). Xin các bạn vui lòng ghi rõ nguồn và dẫn link đến trang này nếu đăng lại bài của tôi

thienthanh2017.wordpress.com/

Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh - Lão Tử

Học Thế Nào

How We Learn

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Xuân Bình

Nhà báo tự do

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)