Tín điều trong trống đồng Việt Nam

Leave a comment

Theo Ben Kiernan trong quyển Viet Nam: A history from earliest times to present (2017), kỷ nguyên đồ đồng tại vùng đất là nước Việt Nam ngày nay diễn ra muộn hơn Lưỡng Hà, Trung Hoa (3000 – 2800 BC) hay Ai Cập và Âu Châu (2200 – 2000 BC) rất nhiều. Nó cùng thời với mảnh đất Thái Lan, chỉ vào khoảng 1500 – 1400 BC.

Theo nghiên cứu “The Distribution of Bronze Drums of the Heger I and Pre-I Types: Temporal Changes and Historical Background“, của sử gia người Nhật Keiji Imamura, quá trình hình thành và phát triển trống đồng được chia làm 4 giai đoạn như liệt kê bên dưới, kèm theo họa đồ phân bổ. Các diễn giải và khớp nối lịch sử theo sau là của chúng tôi.

  1. Giai đoạn thứ nhất, phase 0, TK 4 đến TK 3 trước công nguyên:

Phase0

Phát tích trống đồng có lẽ là từ Vân Nam. Nhánh thứ nhất lan truyền xuống châu thổ sông Hồng dọc theo Hồng hà và Đà giang. Nhánh thứ hai đến đầu nguồn Tây Giang ở Quảng Tây. Ở giai đoạn này trống đồng chưa xuất hiện tại Đông Sơn – Thanh Hóa.  Cuối TK 4 BC, Vân Nam đã bị người Sở thôn tính. Chuyện này ghi rõ trong Sử Ký: “Bắt đầu từ thời Sở Uy Vương (339 BC – 329 BC), đã sai tướng quân Trang Kiểu theo thượng lưu Trường giang chiếm các vùng phía tây đất Ba và Kiềm Trung. Trang Kiểu là hậu duệ của Sở Trang Vương ( 613 BC – 591 BC). Kiểu đến hồ Điền, rộng ba trăm dặm, xung quanh đất đai bằng phẳng phì nhiêu trải dài cả ngàn dặm, dùng binh lính trấn áp rồi gộp vào nước Sở. Kiểu muốn quay về Sở báo tin, nhằm lúc Tần đang đánh Sở để chiếm Ba quận và Kiềm Trung quận (316 BC), đường bị chặn, bèn quay lại xưng vương xứ Điền, đổi cách ăn mặc, sinh hoạt bằng tập quán bản địa như tù trưởng”.

  1. Giai đoạn thứ hai, phase 1, TK 3 đến TK 1 trước công nguyên:

Phase1

Dưới sức ép thực dân của người Sở rồi sau đó là người Tần và Hán, trống đồng bắt đầu thiên di về phía nam tạo nên đỉnh cao Đông Sơn. Phase 1 này cũng xuất hiện ở Miến Điện, Thái Lan và Nam Lào.

  1. Giai đoạn thứ ba, phase 2, TK 1 trước công nguyên đến TK 2 sau công nguyên:

Phase2

Đông Sơn trở thành trung tâm trống đồng cho đến khi Mã Viện đánh vào Cửu Chân. Từ Cửu Chân, người Đông Sơn đã giong buồm xuống phía nam chạy giặc. Đó là lý do các đảo ở Indonesia xuất hiện dày đặc trống phase 2. Số lượng trống đào được đến năm 2017 đã lên đến 50 chiếc (Ben Kiernan – 2017).

  1. Giai đoạn thứ tư, phase 3, TK 2 sau công nguyên trở đi:

Phase3

Người Hán đã làm chủ những vùng đồng bằng màu mỡ ven biển và cao nguyên Vân Nam trù phú. Các bộ tộc bản địa đi sâu vào rừng rồi lại ngược lên Quảng Tây. Văn hóa trống đồng bỗng bừng sáng ở trung lưu Tây Giang rồi khiêm tốn là một nét văn hóa dân tộc thiểu số ở Hoa Nam từ đó đến nay.

Điều đặc biệt nên lưu ý là Quảng Đông, xứ sở của người Âu Việt, con cháu nước Việt chiến quốc, địa bàn nước Nam Việt của Triệu Đà hoàn toàn không xuất hiện một chiếc trống đồng nào cả. Ở phase 1, Quảng Tây trong thời điểm các bộ tộc Lạc Việt đang bị tấn công, đồng hóa và Hán hóa dữ dội nhất, cũng thấy rất ít trống đồng.

***

Lần theo dấu vết trống đồng, chúng tôi thấy muộn nhất là ở thế kỷ thứ 4 trước công nguyên người Thái cổ ở Vân Nam đã đặt chân đến miền bắc Việt Nam. Ở khía cạnh ngôn ngữ, học giới nói chung đã công nhận Mon – Khmer là lõi ngôn ngữ của các cư dân bản địa Việt Nam thời đồ đá. Sắc dân này có nước da đen như người Khmer, Champa. Hình thái xã hội bộ lạc săn bắt hái lượm, lãnh tụ là tộc trưởng. Một số từ Việt có gốc Mon – Khmer tiêu biểu như sau: Con – Koun; Cháu – Chau; Tay – Dai; Một – Moui; Hai – Pir; Ba – Bei; Bốn – Buon; Năm – Pram; Bầu (bí) – Lpầu; Khèn (kèn) – Khèn; Khố (quần)- Kho-ô; Mẻ – Khmés; Ná (cung nỏ) – Sna…

Thời điểm 400 BC – 300 BC có khả năng là lúc lớp vỏ nông nghiệp Thái cổ đi vào tiếng Việt đồng thời với trống đồng. Văn minh lúa nước và công nghệ luyện kim của trống đồng đã thiên di xuống từ Vân Nam. Xã hội chuyển hóa lên hình thức liên minh các bộ lạc có tù trưởng (chiefdom). Lớp vỏ Thái cổ cùng với hệ thống thanh điệu của nó đã phủ lên tiếng Việt: mương, đồng ruộng, vịt, bún – pún, dứa, ớt… Bằng chứng rõ nét của sự hợp chủng là các từ đẳng lập Việt (Mon – Khmer) – Thái: Chim Chóc, Chó Má, Mặt Nạ…

Sớm nhất là sau năm 81 BC, bắt đầu ở Cửu Chân và sau đó tại quận Giao Chỉ và Nhật Nam người Hán thâm nhập Việt Nam. Từ đó ngôn ngữ Việt được khoác lên bộ áo ngoài rực rỡ nhất, lòe loẹt nhất, chiếm đến 70% từ vựng Việt Ngữ.

Giai đoạn cuối của trống đồng Vân Nam – Đông Sơn bất ngờ bừng sáng tại Quảng Tây từ thế kỷ thứ 2 sau công nguyên là một chi tiết thú vị, nếu chúng ta liên kết với cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng năm 40 – 43.

Hiện trên mạng lưu truyền rất nhiều thông tin cho rằng có những đền thờ Hai Bà Trưng ở rất sâu trong đất Trung Quốc. Họ giải mã bằng hệ địa – chính trị hiện đại và cho đó là dấu hiệu lãnh thổ Lạc Việt từng một thời rộng mênh mông. Rất tiếc, chúng tôi chưa thấy một tài liệu thuyết phục nào cả, trừ bài thơ thời Lê, thế kỷ 15 có tựa “Đề Khâm Châu Trưng nữ tướng miếu – 題欽州徵女將廟” của Nguyễn Thiên Túng.

Giả thiết của chúng tôi là: Từ năm 43 AD đến 100 AD, khi người Hán đã chiếm xong các vùng đồng bằng màu mỡ, giao thông thuận tiện, ven biển hoặc ở các cửa sông, phần lớn người Lạc Việt đã bỏ xứ ra đi. Trên bộ họ tỏa đi mọi hướng, lên rừng phía tây thành người Mường, xuôi nam hoặc ngược bắc đến lãnh thổ Champa sau này hoặc Quảng Tây. Trên biển, xuất phát từ Thanh Hóa, người Lạc Việt xuôi gió mùa đông bắc xuống các đảo Indonesia. Duy nhất nhánh Lạc Việt ở Quảng Tây đã bảo tồn thành công văn hóa trống đồng từng bị Mã Viện âm mưu tận diệt. Sau thời Đông Hán họ tự gọi mình là người Lý, người Lê. Hiện nay lại có thêm tên Tráng tộc, Thủy tộc…

ZH_06-02

Ảnh: Lễ hội trống đồng của người Tráng ở Quảng Tây – Trung Quốc ngày nay.

Trống đồng tại đỉnh cao rực rỡ Đông Sơn – Thanh Hóa của nó hoàn toàn suy tàn, nằm yên dưới nhiều thước đất trong 1800 năm đằng đẵng. Đó chính là lý do sử gia Lê Tắc, hậu duệ của thứ sử Giao Châu thời Đông Tấn ghi nhận các bộ tộc nhỏ sử dụng trống đồng còn ở lại Việt Nam quãng thế kỷ 14 là Man Tử (bọn mọi) hoặc Liêu Tử (bọn hoang dã hung ác). Nguyên văn Hán ngữ trong An Nam Chí Lược như sau:

獠子: 獠子者蠻子異名也. 多隸湖廣雲南. 有服役於交阯. 又有雕題鑿齒者. 種類頗多. 古載有頭形獠子, 赤裩獠子, 鼻飲獠子. 皆居巖窟或橧巢, 飲蘆酒, 好戰敵. 擊銅鼔以髙大者為貴. 鼔初成置庭中設酒招同類來者盈門. 豪富女子以金銀釵擊鼔叩畢留與主人. 或云銅鼔乃諸葛亮征蠻鉦也.

Liêu tử: Liêu tử là tên khác của bọn mọi (Man tử). Đa phần cư trú ở Hồ Quảng (đây là một khu hành chính thời Nguyên và Minh, bao gồm phía nam Hồ Bắc, Hồ Nam, phía đông Trùng Khánh, bắc Quảng Đông và một vài vùng của Quảng Tây) và Vân Nam. Họ cũng phục dịch ở quận Giao Chỉ. Thêm nữa họ còn vẽ trán, cà răng. Có nhiều chủng loại. Sách xưa liệt kê Liêu tử đầu hình (có lẽ là búi tóc), Liêu tử mặc khố đỏ và Liêu tử tị ẩm (theo chúng tôi là uống rượu bằng cần trúc). Họ đều sinh sống cư trú ở hang động trên núi cao hoặc nhà sàn. Họ hay uống các vò rượu có cần trúc hoặc sậy, thích đánh nhau, gõ trống đồng, trống càng to lớn thì càng quý giá. Trống vừa đúc xong thì đặt giữa sân, bày rượu, mời đồng loại đến chật nhà. Con gái các nhà giàu (làm khách) thường dùng những chiếc thoa bằng vàng hoặc bạc gõ vào trống, chúc mừng xong thì trao tặng luôn cho chủ nhân. Có người nói rằng trống đồng chính là chiêng của Gia Cát Lượng khi nam chinh đánh mọi.

***

Trống đồng từ Mã Viện (Mã Viện Liệt Truyện – Hậu Hán Thư) vốn chỉ được xem như nguyên liệu để nấu chảy đúc ngựa đồng, cột đồng; đến Lê Tắc coi đó là sản phẩm của những sắc dân bán khai, là 1300 năm. Các cổ vật này rõ ràng không được người Hán hoặc giới tinh hoa phong kiến Việt Nam đánh giá cao. Với người Hán thì thật dễ hiểu, đồ đồng Thương Chu của họ đã tinh xảo và mang tính mỹ thuật hàng đầu nhân loại. Nhà Tần đã đúc được những tượng ông trọng nặng 1000 thạch là khoảng 10,9 tấn. Về phía người Việt, điều hợp lý có thể nhìn nhận ở đây là họ đã tự cho mình là một chi Hán, ít nhất là về mặt văn hóa. Do đó sự vô cảm với trống đồng đã diễn ra rất tự nhiên. Hơn nữa trống đồng là vật phẩm tuy có giá trị thẩm mỹ nhất định, nhưng nó phục vụ đời sống (tập hợp dân chúng khi có chiến tranh) và tín ngưỡng (gõ ở các lễ hội cầu mưa hoặc mừng mùa mới) trong không gian bộ lạc bé nhỏ. Dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, trống đồng vô dụng và hẳn nhiên đã bị quên lãng.

Tình cờ, các công trình khảo cổ học Đông Sơn đầu thế kỷ 20 trùng với thời điểm người Việt Nam hiện đại đang xây dựng cho mình mô hình nhà nước dân tộc để giải phong kiến và giành lại độc lập từ thực dân Pháp. Trống đồng bỗng trở thành vưu vật mang tính biểu tượng mà trời đất ban cho mảnh đất hình chữ S, niềm tự hào quá khứ xa xăm, dù lúc đó cổ sử Việt hãy còn tuyệt đối mù mờ.

Sản phẩm dễ thấy nhất của nhà nước dân tộc là tinh thần dân tộc, đôi khi khá thiên lệch. Tinh thần ấy đã phong tỏa và làm biến dạng mọi công trình khảo cổ trống đồng trên đất nước Việt Nam. Cô lập nó khỏi các thành tựu khảo cổ trống đồng ở trong khu vực, từ Indonesia, Thái Lan, Lào, Miến Điện, đến Trung Quốc. Người Việt ngày nay đa số đặt cược vào trống đồng một nền văn minh bản địa thuần Việt rực rỡ, vĩ đại hơn văn minh Trung Hoa rất nhiều. Nhưng đáng tiếc đó chỉ là một tín điều mang bản chất tôn giáo yếm thế và tự ti.

Saigon @2017

 

Trang Việt sử đầu tiên

Leave a comment

The learner always begins by finding fault, but the scholar sees the positive merit in everything. – Hegel

Dưới đây là nguyên văn trang đầu tiên của quyển quốc sử Việt Nam đầu tiên còn lưu giữ được cho đến ngày nay, đó là An Nam Chí Lược của Lê Tắc, được viết vào khoảng năm 1335. Sách này nằm trong bộ sử thứ chín của “Khâm định tứ khố toàn thư” nhà Thanh. Lê Tắc vốn gốc họ Nguyễn ở khu vực Thanh Hóa ngày nay, hậu duệ của Thứ sử Giao Châu Nguyễn Phu thời Đông Tấn (317 – 420).

annamchiluoc

古南交周號越裳,秦名象郡。秦末,南海尉趙佗擊併之,自立國僣號。西漢初,髙帝封為南越王。歴數世其相吕嘉叛,殺其王及漢使者。孝武遣伏波將軍路博德平南越,滅其國,置九郡,設官守任。今安南居九郡之內,曰交阯、九真、日南是也。後歴朝沿革,郡縣不一。五季間,愛州人吳權領交阯。後丁、黎、李、陳相繼篡奪。宋因封王爵。官制刑政稍效中州。其郡邑或仍或革,姑槩存之。

Âm Hán Việt: Cổ Nam Giao Chu hiệu Việt Thường, Tần danh Tượng quận. Tần mạt, Nam Hải úy Triệu Đà kích tính chi, tự lập quốc thiết hiệu. Tây Hán sơ, Cao đế phong vi Nam Việt vương. Lịch số thế kì tương Lữ Gia bạn, sát kì vương cập Hán sứ giả. Hiếu vũ khiển Phục ba tướng quân Lộ Bác Đức bình Nam Việt, diệt kì quốc, trí cửu quận, thiết quan thủ nhậm. Kim An Nam cư cửu quận chi nội, viết Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam thị dã. Hậu lịch triều duyên cách, quận huyện bất nhất. Ngũ Quý gian, Ái châu nhân Ngô Quyền lĩnh Giao Chỉ. Hậu Đinh, Lê, Lý, Trần tương kế soán đoạt. Tống nhân phong vương tước. Quan chế hình chánh sảo hiệu trung châu. Kì quận ấp hoặc nhưng hoặc cách, cô khái tồn chi.

Dịch nghĩa: Cõi Nam Giao ngày xưa, nhà Chu gọi là Việt Thường, tên thời Tần là Tượng quận. Cuối Tần, quan úy quận Nam Hải là Triệu Đà đánh chiếm thôn tính, tự lập quốc và dùng đế hiệu. Đầu Tây Hán, Cao đế Lưu Bang phong Triệu Đà làm Nam Việt vương. Sau khi trải qua nhiều đời, thừa tướng Lữ Gia ở đấy làm phản, giết Nam Việt vương và sứ giả nhà Hán. Vũ đế chí tôn sai Phục ba tướng quân Lộ Bác Đức bình định Nam Việt, diệt quốc, trí đặt chín quận, thiết lập quan chức trấn nhậm. Nước An Nam ngày nay từng thuộc chín quận ấy, bao gồm ba quận là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Sau khi trải qua sự thay đổi của nhiều triều đại, quận huyện không còn tương đồng. Đến thời Ngũ Quý (907 – 960), Ngô Quyền, người Ái châu thống lĩnh Giao Chỉ. Sau thì đến các họ Đinh, Lê, Lý, Trần nối nhau tiếm đoạt. Nhà Tống dựa vào đó mà phong vương tước. Quan chế pháp lệnh hình luật (ở trung ương) mô phỏng khá giống Trung Quốc. Bậc quận huyện thì có chỗ chiếu theo, có nơi khác biệt, (sau đây) tạm sơ lược lưu biên.

Phân tích: Về cơ bản, đây là quan điểm sử học Việt Nam thời Trần. Các tài liệu lịch sử phong kiến cũng như hiện đại sau này hầu như tiếp thu hoàn toàn nội hàm ở đây để diễn giải quá khứ dân tộc. Hai chỗ chúng tôi gạch chân phía trên là hai sai lầm của sử gia, dẫn đến việc suy đoán cổ sử Việt Nam thiên lệch và thiếu logic.

1.Tính bản địa: Châu thổ sông Hồng vốn được gọi là quận Giao Chỉ từ thời Tây Hán, chín quận phía nam trong đó có quận Giao Chỉ lại được gọi là Giao Chỉ bộ. Do đó ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam được cho là Nam Giao Chỉ (bộ). Nó tương đương với cụm chữ Hán ở “Nam Man Tây Nam Di Liệt Truyện” trong Hậu Hán Thư: “Giao Chỉ chi nam”. Từ đó các sử gia phong kiến Việt Nam thống nhất cho rằng Nam Giao Chỉ chính là Nam Giao, một địa danh trong sách Thượng Thư ở tận thời Nghiêu Thuấn cách đó hơn 3000 năm. Nghĩa là trong suốt 3000 năm, người Việt, nước Việt hầu như không thay đổi…

2.Tính hư cấu: “Nam Man Tây Nam Di Liệt Truyện” trong Hậu Hán Thư chép: 交阯之南有越裳國Giao Chỉ chi nam hữu Việt Thường quốc. Nghĩa là phía nam Giao Chỉ có nước Việt Thường. Sự kiện Việt Thường này được nhắc đến sớm nhất là trong sách Trúc Thư Kỷ Niên xuất lộ từ một ngôi mộ thời Chiến Quốc. Khớp nối Việt Thường, nhiều khả năng là một từ phiếm chỉ được sáng tác trong sách dạy làm vua triều Chu, với vùng phía nam Giao Chỉ bộ là cách tư duy bất chấp thời gian và không gian.

Hai đặc tính trên đây của cổ sử Việt Nam, sẽ bị bác bỏ bằng tất cả các phương tiện khảo sát lịch sử xưa nay như cổ thư, khảo cổ, văn hóa, ngôn ngữ, phong tục… Đặc biệt chúng tôi sẽ bóc tách lịch sử thiên văn học Á Đông khỏi lịch sử Trung Quốc, từ đó soi chiếu ngược vào những khoảng trống còn mơ hồ. Điều này chắc chắn có tác động và những hiệu quả tương tự như Jared Diamond đã dùng Sinh vật học kiến giải lịch sử nhân loại trong “Guns, Germs, and Steel”.

Dr. Li Tana was wrong!

Leave a comment

Đây là trang thứ 2 tài liệu nghiên cứu “Jiaozhi in the Han Period Tongking Gulf” của Tiến sĩ sử học Li Tana, đại học quốc gia Australia, cựu cử nhân sử học đại học Bắc Kinh.

Litana

Nó là căn cứ của một số người Việt để phản bác quyển sách của tôi. Những cái sai của Li Tana trong đoạn ngắn này:

1. Căn cứ vào Sử Ký, Hán Thư và Hậu Hán Thư, không có chuyện sau năm 111 BC trung tâm quyền lực phía nam nhà Hán chuyển từ Quảng Đông – Phiên Ngu đến quận Giao Chỉ. Nó chỉ dời sâu vào nội địa khoảng 200km, dọc theo Tây Giang. Trị sở Quảng Tín – Thương Ngô ngày nay là thành phố Ngô Châu. Lý do của sai sót này: Nhầm lẫn giữa Giao Chỉ Bộ và Giao Chỉ Quận.

2. Căn cứ vào Sử Ký, Hoài Nam Tử, không có chuyện Linh Cừ được đào từ năm 223 BC (lúc Tần Thủy Hoàng chưa thống nhất thiên hạ) đến năm 214 BC. Thực ra Linh Cừ chỉ bắt đầu được đào vào năm 211 BC.

Như mọi sử gia thông tuệ và có bằng cấp khủng, Li Tana không thèm đọc sử liệu gốc (hay không thể đọc được cổ văn?), bà sử dụng các nghiên cứu chưa chắc đã đúng của những người đi trước được liệt kê chiếm đến 7/25 trang tài liệu. Tôi cũng chẳng rảnh để chỉ ra tất cả các sai sót của bà trong 18 trang nghiên cứu này.

Cái vô lối của một số đôc giả Việt nói riêng và học thuật Việt Nam nói chung là luôn suy tôn Tây hoặc Tàu, không cần phản biện hoặc kiểm chứng.

Quyền trượng – scepter – tượng trưng cho tri thức?

2 Comments

Scepter symbolizes knowledge?

Einstein: “It is easy to find a superficial analogy which really expresses nothing. But to discover some essential common features, hidden beneath a surface of external differences, to form, on this basis, a new successful theory, is important creative work”.

Darius_the_Great

Relief carving of Darius the Great of Persia on his throne, holding a scepter and lotus

Quyền trượng có lẽ là hình ảnh tối cổ của thổ khuê/cây nêu/gnomon, một dụng cụ cực kỳ giản dị đã giúp khai mở thiên văn, toán học và chữ viết cho những nền văn minh tiên phong.

Local Noon

Khi đi vào tín ngưỡng, quyền trượng biến hình thành Kim tự tháp tượng trưng cho trời hoặc thiên đường. Một kiến trúc cổ đại khác kết nối trời và đất là obelisk, chắc chắn cũng là phản ảnh của thổ khuê. Một số người lại giải thích đó là hình ảnh sinh thực khí nam của tín ngưỡng phồn thực, nhưng quên rằng độ dài “siêu thực” của nó không ủng hộ hướng nhìn này.

Washington_Monument_obelisk_scale-3

Washington Monument, an obelisk.

Có thể suy luận các cấu trúc tháp là biểu tượng cho tri thức. Người phương Tây từ thời đại Hy Lạp đã vay mượn nội hàm văn hóa Egypt và Mesopotamia này để sử dụng, nhưng không thấu hiển bản chất giản dị của nó.

Ở Việt Nam có Tháp bút, ý nghĩa thiên văn và tri thức của nó rất sai lạc và méo mó. Vị trí tháp như truyền tụng là sẽ cho bóng ngòi bút chấm vào nghiên mực ngày Đoan ngọ. Thật ra bóng tháp chỉ phụ thuộc vào mặt trời, dựa vào lịch âm mặt trăng là cái sai thứ nhất. Hà Nội vĩ độ khoảng 20 độ, Đoan ngọ thường rất gần với Hạ chí, lúc đó mặt trời ở phía bắc tháp, nghiên mực cũng ở phía bắc, bóng tháp sẽ đổ về phía nam, ngòi bút không thể chấm vào nghiên mực được, đó là cái sai thứ hai. Chỉ có thể phỏng đoán nếu đủ điều kiện (độ cao Tháp bút, góc lệch của nó với nghiên mực phù hợp) ngòi bút sẽ chấm vào nghiên mực vào khoảng trước sau ngày lập Hạ mùng 5 hoặc 6 tháng 5 dương lịch.

thapbut

Biểu tượng quyền trượng ít xuất hiện trong văn hóa Trung Hoa bởi họ không thoáng như Egypt và Mesopotamia. Họ biết rõ tri thức là sức mạnh và luôn bảo mật rất kỹ càng. Khi không được trao đổi học thuật rộng rãi, vô hình trung tri thức sáng lạn cổ đại của họ chỉ dẫm chân tại chỗ và dần dần suy tàn. Đó là lý do ba thế kỷ tụt hậu của Trung Quốc so với phương Tây vừa qua.

@T.T.D 7.2017

Lý thuyết vùng đệm an ninh và ngôn ngữ đế quốc

Leave a comment

Văn bản đề cặp đến lý thuyết vùng đệm an ninh xưa nhất của đế quốc mà tôi tiếp xúc được bằng nguyên ngữ nằm trong Hậu Hán Thư: “Xứ Man Di tuy ngăn cách núi cao lũng sâu, nhưng có đất sinh sống, nối liền với vùng Kinh Sở là đất Giao, che chở đất Ba Thục cần một vùng ngoại Di, không thể xác định chỗ tận cùng. Tuy nhiên Man Di hung ác mạnh mẽ tinh ranh mưu lược, như bọn Khương Địch, có vượt qua chỗ trọng yếu bằng sự hung dữ tàn ác, cũng chẳng thể vào sâu”.

Chắc chắn các đế quốc cùng thời như La Mã, Ba Tư cũng có những thứ tương đương. Lý do là hậu thân của họ – nền văn minh phương Tây – từ nhiều trăm năm nay vẫn luôn áp dụng thuần thục lý thuyết này. Thậm chí họ còn đặt ra những cái tên mỹ miều như “Học thuyết Monroe”, biến toàn bộ châu Mỹ thành vùng đệm an ninh cho đế quốc Mỹ vào đầu thế kỷ 19.

Trước và sau thế chiến thứ hai, bản đồ các đế quốc xáo trộn. Nó là thời điểm hiếm hoi mà lịch sử nhân loại bày ra vô vàn những cuộc dàn xếp vùng đệm an ninh khắp nơi trên địa cầu.

1939 – 1940: Nhật tấn công vùng đệm Mông Cổ của Nga nhưng thất bại. Biên giới Nga – Phần Lan lùi hàng trăm km về phía Phần Lan sau một trận chiến tàn khốc trên băng giá mùa đông. Nga và Đức chia đôi Ba Lan theo một hiệp ước bí mật trước đó. Để “dễ ngủ” hơn, Nga lại chiếm thêm ba nước vùng Baltic.

1945 – 1952: Nga chiếm chuỗi đảo phía bắc Nhật. Anh – Pháp – Nga – Mỹ nhanh chóng thay đổi chế độ chiếm đóng hà khắc tại Nhật và Đức, biến phần đất mình đang đóng quân thành đồng minh, bản chất là chuyển hóa chúng thành các vùng đệm an ninh. Tàu Tưởng tràn sang bắc Việt, họ chỉ rút về khi được đổi miếng bánh lớn hơn đó là Quảng Châu Loan và tất cả các tô giới thuộc Pháp ở Hoa lục. Triều Tiên bị chia đôi, vĩ tuyến 38 là ranh giới.

korea

Đến năm 1954, Việt Nam cuối cùng cũng chung số phận với Đức và Triều Tiên. Đất nước bị xẻ làm hai ở vĩ tuyến 17. Hệ quả ấy có thể thấy trước, nếu sử gia vĩ đại nhất của người Việt không phải là Trần Trọng Kim. Lý thuyết vùng đệm an ninh của đế quốc đã nằm trong Hán sử 1800 năm và phổ biến rộng rãi suốt 1500 năm, từ thế kỷ thứ 5. Người làm sử bỏ sót nó, quả là điều đáng tiếc và không thể biện hộ.

Từ lý thuyết vùng đệm an ninh, các đế quốc thường trao đổi với nhau bằng thứ ngôn ngữ đặc thù mà không phải nước nhỏ nào cũng hiểu sâu sắc. Lỗi lại là ở sử học và các sử gia.

Chẳng hạn trước khi chiến tranh Việt – Mỹ khai mào rất lâu, Bắc Kinh đã “giao thiệp” với Washington nói riêng và thế giới phương Tây nói chung bằng “Bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của CHND Trung Hoa”. Ý nghĩa của nó là: “Tao không care vụ chủ quyền hay chủ quyền lịch sử như đài nhà tao hay nhồi sọ dân chúng đâu. Vấn đề là an ninh quốc gia. Đó là lằn ranh đỏ. Chúng mày bước qua đó là có chiến tranh. Mặt trận Triều Tiên thứ hai sẽ thành hình”. Và để chứng tỏ sự “thấu cảm” rất đế quốc, năm 1974 hạm đội 7 hùng mạnh của chú SAM đã “đá lông nheo” với hạm đội cổ lỗ sĩ lố nhố Hồng vệ binh trói gà không chặt của Mao: “Tới đi bác tài. Tui sẽ đóng ở Subic, bờ đông biển Đông. Thỉnh thoảng ta giao lưu bóng bàn nhé.”

Thầy của các chính trị gia kiệt xuất trên thế giới bao giờ cũng là sử gia. Chẳng phải vô lý mà Mao luôn gối đầu giường quyển sử “Tư Trị Thông Giám” của Tư Mã Quang. Sử học đúng nghĩa không những phải chứa đựng túi khôn, túi dại của tiền nhân trực hệ, mà còn bắt buộc phải thông hiểu ngôn ngữ đế quốc suốt lịch sử loài người. Đó là điều kiện tiên quyết để một quốc gia tự nắm vận mệnh của mình, tiến tới cường thịnh và độc lập, thoát khỏi thân phận là vùng đệm an ninh của bất cứ thế lực nào.

Ở quyển hồi ký The Pianist, nghệ sĩ dương cầm gốc Do Thái Wladyslaw Szpilman đã mô tả nhà nước Ba Lan tiền chiến bạc nhược giữa gọng kềm Đức – Nga, trong khi truyền thông “ngáo đá” luôn cố gắng “phiêu du” bằng cách “dìm hàng” máy bay và xe tăng fascist là những khối hình bằng giấy, chỉ hù dọa được trẻ con. Sự ấu trĩ đã phải trả cái giá đắt nhất xưa nay: trên dưới 17% nhân dân Ba Lan bị giết, đất nước biến thành đống gạch vụn!

Yêu nước cũng có nhiều loại: Thông minh, vô tri hoặc ngu xuẩn.

@T.T.D 7.2017

Could be dated age of a civilization by ancient main axes?

3 Comments

Có thể định tuổi các nền văn minh bằng trục chính đạo?

  1. Đồng hồ mặt trời cổ đại

Làm cách nào để hai chiếc đồng hồ cổ đại Egypt (A1 – trái – 1500 BC) và China (A2 – phải – Western Han, khoảng 100 BC) như hình dưới đây chỉ thời gian chính xác, ít nhất là solar noon, tức thời điểm mặt trời nằm trên thiên kinh tuyến địa phương.

Với A1: Đường kính ở đáy sundial phải trùng với vĩ tuyến địa lý tại điểm đặt nó. Nếu dùng A1 tại Washington, tốt nhất là ra Lincoln Memorial và đặt đường kính đáy A1 song song với tim trục đường từ Lincoln Memorial đến Capital Hill. Nếu dùng A1 bên cạnh bất cứ Kim tự tháp nào ở Egypt thì phải đặt đường kính đáy A1 song song với cạnh đông – tây của Kim Tự Tháp. Nếu Dùng A1 tại di tích Babylon thì cũng phải đặt đường kính đáy A1 song song với các bức tường đông – tây của các cung điện và nhà thờ. Sai số trong định vị trục đông – tây sẽ chính là sai số của sundial khi chỉ solar noon.

Với A2: Cạnh dọc của sundial phải trùng kinh tuyến địa phương. Nếu dùng A2 tại hoàng thành Bắc Kinh, cạnh dọc của nó phải song song với ngự đạo (御道) tức trục chính bắc – nam của hoàng thành.

Bản chất của sundial chính là sự kết hợp của một miếng đá chỉ thị thời gian (dial plate) có đục lỗ để cắm cây nêu (gnomon). Trong một ngữ cảnh của Sử Ký (khoảng 100 BC) có mô tả thời kế của người thời Xuân Thu (547 BC – 490 BC). Nó là tổ hợp của gnomon và đồng hồ nước: “穰苴既辭,與莊賈約曰:「旦日日中會於軍門。」穰苴先馳至軍,立表下漏待賈。賈素驕貴,以為將己之軍而己為監,不甚急;親戚左右送之,留飲。日中而賈不至。穰苴則仆表決漏,入,行軍勒兵,申明約束. Dịch nghĩa: Sau khi Nhương Tư từ biệt Cảnh Công, ông hẹn với Trang Cổ: “Ngày mai giữa trưa chúng ta sẽ gặp nhau tại cổng doanh trại”. Hôm sau Nhương Tư đến nơi, dựng biểu và mở van đồng hồ nước đợi Trang Cổ. Trang Cổ xưa nay ngạo mạn, lại cho rằng mình là Giám quân của quân đội chính mình, chẳng cần vội vàng; vì thân thích tả hữu tiễn biệt, nán lại uống rượu. Chính ngọ Cổ vẫn chưa tới. Nhương Tư xô đổ biểu can và đập vỡ đồng hồ nước, đi vào doanh trại, điều binh khiển tướng, trình bày pháp lệnh”.

  1. Trục chính đạo của các nền văn minh

Đa số các cổng chính của thành quách, đền thờ và lăng mộ của văn minh Lưỡng Hà và Egyp đều mở về phía đông và độ chính xác của trục đông – tây tăng dần theo thời gian. Đến pyramid Djoser (2700 BC) và hoàng cung cũng như điện thờ Babylon (2300 BC) độ chính xác của trục chính đạo đông – tây của hai kiến trúc này đã đạt tới ±5 độ. Djoser -5 độ, nghĩa là nó hơi lệch về phía nam. Babylon +5 độ, nghĩa là nó hơi lệch về phía bắc.

Pyramid of Djoser_2700BC_5

Picture 1: Photo of Djoser pyramid by Google Map.

babylon_2300BC_10

Picture 2: Master plan of Babylon (2300 BC)

Ở Indus và Hy Lạp cũng vậy, tuy nhiên độ chính xác kém hơn rất nhiều: Di tích Dholavira Harappan (2600 BC) lệch -10 độ. Di tích Knossos (1600 BC) lệch -13 độ.

Trung Hoa là một nền văn minh phát triển độc lập. Họ chọn trục chính đạo vuông góc với trục chính đạo đông – tây của phương Tây, tức là bắc – nam. Di tích thành quốc Đào Tự (2300 BC) và Nhị Lý Đầu (1900 BC) đều có sai số tương tự ở Egypt 2700 BC và Babylon 2300 BC là ±5 độ. Đào Tự – 5 độ, hơi lệch về phía tây. Nhị Lý Đầu +5 độ, hơi lệch về phía đông.

Taosi_Plan_5degree_2300BC

Picture 3: Master plan of Taosi (陶寺) site (2300 BC)

erli_1900_1500BC_5

Picture 4: Master plan of Erlitou (二里头) site 1900 BC.

Trục chính đạo đông – tây của Lưỡng Hà, Ai Cập, Ấn Độ và Hy Lạp trong tương quan với trục chính đạo bắc – nam Trung Hoa về cơ bản là trục tung và trục hoành của hệ trục tọa độ Cartesian (Cartesian coordinate system) mà thôi. Nói cách khác trục chính đạo đông – tây hay bắc nam là một nửa hệ tọa độ Cartesian khi thiên văn và toán học của con người còn rất sơ khai. Một cách tình cờ người phương Tây đã chọn đông – tây và người Trung Hoa lại chọn bắc – nam. Nó khiến cho việc tìm hiểu thời cổ đại vốn rất ít manh mối, trở nên rõ ràng và có căn cứ nhất định, ít nhất là với thiên văn và toán học.

Theo Jared Diamond, trong quyển “Guns, Germs and Steel”, căn cứ trên khảo cổ quá trình thuần hóa thực vật và động vật, người Lưỡng Hà bắt đầu định cư cách đây 10500 năm, người Trung Hoa đi sau 1000 năm.

Domesticated

Picture 5: Page 100 of the book “Guns, Germs and Steel”

Khoa học thiên văn đòi hỏi một mốc quan trắc cố định, tức là xã hội định cư. Có như vậy con người mới tổng hợp được qui luật chuyển động tương đối giữa trái đất với mặt trời, mặt trăng, hành tinh, định tinh nhằm xác định ngày tháng năm, mùa màng và phương hướng.

Chúng tôi tạm gọi Lưỡng Hà, Egypt, Indus và Hy Lạp là văn minh Tây Á mở rộng. Họ mất 10500 – (2700 + 2000) = 5800 năm để xác định phương hướng chính xác đến ±5 độ. 2700 BC như đã nói ở trên là niên đại kim tự tháp Djoser, di tích sớm nhất cho thấy sai số trục chính đạo chỉ là -5 độ. Với phép tính tương tự, người Trung Hoa ở Đông Á đi sau người Tây Á 1000 năm, nhưng họ lại tính chính xác nhanh hơn, chỉ mất 5.200 năm.

Ở thời điểm 2300 BC, có thể nói về phương diện thiên văn và toán học, người Babylon và người Trung Hoa giỏi như nhau nhưng người Egypt giỏi nhất, người Indus và Greece nằm cuối bảng. Trừ một số rất ít kim tự tháp có trục chính đạo lệch quá nhiều, có thể do biến động xã hội hoặc chủ thuyết tôn giáo phi truyền thống, về cơ bản hầu hết các kim tự tháp khác ở Egypt có sai số của trục chính đạo ngày càng giảm rõ rệt và xuống dưới ±5 độ.

  1. Ý nghĩa của độ chính xác ±5 độ.

Local Noon

Đối với người quan sát ở phía trên Chí tuyến bắc, local noon là thời điểm bóng cây nêu ngắn nhất trong một ngày nhất định. Khi ấy bóng cây nêu sẽ chỉ đúng hướng bắc. Những nền văn minh chúng ta đang khảo sát ở đây đều thỏa mãn tọa độ địa lý của bài toán thiên văn này. Như vậy độ chính xác của trục chính đạo đông – tây Egypt và Lưỡng Hà hay bắc – nam Trung Hoa phụ thuộc vào kết luận khi nào bóng cây nêu ngắn nhất của các thiên văn gia thời ấy.

Đầu mút bóng cây nêu là hình chiếu vị trí mặt trời trên quỹ đạo của nó xuống mặt phẳng chân trời. Mặt trời chuyển động (tương đối) được một vòng 360 độ xung quanh trái đất trong 24 giờ, tức là một ngày. Do vậy việc lệch đi ±5 độ ở trục chính đạo đông – tây hoặc bắc – nam sẽ dẫn đến sundial chỉ local noon có sai số ±15 phút.

Nói cách khác, người Egypt, Lưỡng Hà và Trung Hoa cách đây ít nhất 4300 năm có thể đã sử dụng những chiếc đồng hồ mặt trời sundial có sai số buổi trưa khoảng ±15 phút. Đây là bằng chứng khoa học không thể phủ nhận và có thể trở thành một chỉ mốc định tuổi văn minh.

  1. Kết luận

Nội dung trên chỉ là một phần nhỏ chúng tôi rút ra khi khảo sát thiên văn học cổ đại Trung Hoa, ở quyển sách Việt ngữ “Research Prehistory of Vietnam under Chinese classical Astronomy and Text“, ISBN 9781370154548.

Do tính liên tục đơn nhất của nó trên hoàn cầu, về cơ bản, nghiên cứu văn minh Trung Hoa từ thiên văn và toán học sẽ phần nào nhận ra tiến hóa của xã hội loài người nói chung và thiên văn – toán học nói riêng ở các nền văn minh khác. Người phương Tây vẫn chưa thật sự hiểu quá trình hình thành và phát triển của lịch sử Trung Quốc. Đó là chưa nói đến tâm thế bề trên trong nhiều tài liệu học thuật khi khảo sát Trung Hoa cổ đại bằng ngôn ngữ phi Hán.

Đây là một bài báo nhỏ của một sử gia không chuyên, nhưng chúng tôi tin nó sẽ là gợi ý có căn cứ, để các chuyên gia thông tuệ khắp hoàn cầu tham khảo và đi sâu nghiên cứu.

@Copyright by Trương Thái Du (张泰游)

thôn Sấu

Quê hương yêu dấu (Dọc hành chấm đứng). Xin các bạn vui lòng ghi rõ nguồn và dẫn link đến trang này nếu đăng lại bài của tôi

thienthanh2017.wordpress.com/

Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh - Lão Tử

Học Thế Nào

How We Learn

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Xuân Bình

Nhà báo tự do

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)