Sử ký – Tây Nam Di liệt truyện

Leave a comment

Người dịch: Trương Thái Du

Bản nháp, trích từ sách: KHẢO CHỨNG TIỀN SỬ VIỆT NAM bằng THIÊN VĂN HỌC CỔ ĐẠI TRUNG HOA. Research prehistory of Vietnam under Chinese classical Astronomy.

Link đến nguyên văn Sử Ký được số hóa bởi người Mỹ: 西南夷列傳

Người Di ở phía tây nam có hàng chục tù trưởng, lớn nhất là Dạ Lang; phía tây Dạ Lang lại có hàng chục tù trưởng người Mi Mạc, lớn nhất là Điền; từ Điền đi về phía bắc cũng có hàng chục tù trưởng, lớn nhất là Cung Đô: Tất cả họ đều búi tóc, làm ruộng và tụ hợp thành làng mạc. Phía tây khu vực này từ Đồng Sư đi về phía đông, phía bắc đến Diệp Du, có người Tây và Côn Minh, họ đều tết tóc, du cư theo đàn gia súc, không ở cố định một chỗ, không có tù trưởng, khu vực sinh sống hoạt động trải dài hàng ngàn dặm. Từ đó đến vùng đông bắc có hàng chục tù trưởng, Tỉ và Tạc Đô lớn nhất. Từ Tạc Đô đi lên phía đông bắc, có hàng chục tù trưởng, lớn nhất là Nhiễm Mang. Phong tục tập quán sinh hoạt ở đây nửa du cư, nửa định cư, đây là phía tây đất Thục. Từ Nhiễm Mang đi lên đông bắc, có hàng chục tù trưởng, lớn nhất là Bạch Mã, đều là người Đê. Tất cả đều là người Man và người Di phía ngoài tây nam đất Ba và đất Thục.

Bắt đầu từ thời Sở Uy Vương (339 BC – 329 BC), đã sai tướng quân Trang Kiểu theo thượng lưu Trường giang chiếm các vùng phía tây đất Ba và Kiềm Trung. Trang Kiểu là hậu duệ của Sở Trang Vương ( 613 BC – 591 BC). Kiểu đến hồ Điền, rộng ba trăm dặm, xung quanh đất đai bằng phẳng phì nhiêu trải dài cả ngàn dặm, dùng binh lính trấn áp rồi gộp vào nước Sở. Kiểu muốn quay về Sở báo tin, nhằm lúc Tần đang đánh Sở để chiếm Ba quận và Kiềm Trung quận (316 BC), đường bị chặn, bèn quay lại xưng vương xứ Điền, đổi cách ăn mặc, sinh hoạt bằng tập quán bản địa như tù trưởng. Thời Tần thường làm những trục lộ chính năm thước[1], đặt quan nhỏ tại một số nơi. Hơn mười năm Tần bị diệt. Đến Hán hưng, những khu vực này bị quên lãng, triều đình chỉ quán xuyến đến đất Thục cũ mà thôi. Dân Ba Thục có kẻ lén ra ngoài buôn bán, thu mua ngựa của nước Tạc, nô tì và mao ngưu (bò lông dài, bò Tây Tạng) của người Bặc, nhờ vậy Ba Thục phú thịnh.

Năm Kiến nguyên thứ sáu (135 BC), đại hành tướng Vương Khôi đánh Đông Việt, dân Đông Việt giết vương tên Dĩnh để đầu hàng. Khôi dựa vào uy binh sai quan huyện Phiên Dương là Đường Mông đến báo tin cho Nam Việt. Vua Nam Việt đãi Mông món tương làm bằng quả cẩu (Lycium barbarum) của nước Thục, Mông hỏi nguồn gốc, vua đáp: “Phía tây bắc sông Tang Kha, sông Tang Kha rộng mấy dặm, chảy ra biển phía dưới thành Phiên Ngung”. Mông về Trường An, hỏi thương nhân người Thục, người ấy bảo: “Chỉ đất Thục mới có tương cẩu, nhiều người lén mang bán ở Dạ Lang. Dạ Lang nằm kề sông Tang Kha, sông rộng hơn trăm bộ (một bộ sáu thước ~ 1.98m), đủ để đi thuyền. Nam Việt dùng của cải mong sát nhập Dạ Lang, để phía tây đến tận Đồng Sư, nhưng họ không chịu lệ thuộc”. Mông bèn viết thư thuyết phục hoàng thượng: “Nam Việt Vương ngồi xe mui vàng, trên xe cắm cờ tả đạo (như thiên tử), đất đai đông tây hơn vạn dặm, danh là ngoại thần, nhưng làm chủ hẳn một châu. Nay từ Trường Sa và Dự Chương đi xuống, đường thủy đứt đoạn, khó đi. Nghe nói Dạ Lang có tinh binh, có thể đến hơn mười vạn, xuôi thuyền dọc sông Tang Kha, bất ngờ xuất quân, là cách hay khống chế Nam Việt vậy. Quân Hán lớn mạnh, đất Ba Thục giàu có, thông con đường Dạ Lang, đặt quan trấn nhậm, rất dễ thực hiện.” Vũ đế đồng ý. Bèn bái Đường Mông làm trung lang tướng, giúp cho một ngàn quân, thêm hơn một vạn phu vận chuyển lương thảo, theo lối cửa ải Tạc của Ba Thục đi vào, gặp Dạ Lang hầu Đa Đồng. Mông ban phát cho Đa Đồng rất hậu, dùng uy đức nhà Hán dụ dỗ, hứa bổ nhiệm làm quan, cho con Đồng chức huyện lệnh. Các ấp nhỏ cạnh Dạ Lang đều tham tơ lụa của người Hán, cho rằng đường từ Hán vào hiểm trở, khó bề chiếm đóng nơi này, bèn nghe lời hứa hẹn của Mông. Vũ đế được tin báo, liền thành lập quận Kiền Vi. Bắt đầu cho lính Ba Thục sửa sang đường, từ lối đất Bặc đến Tang Kha giang. Tư Mã Tương Như người đất Thục cũng nói đất Cung đất Tạc miền tây Di cũng có thể lập quận. Lại sai Tương Như làm lang trung tướng đi đến hiểu dụ, giống miền nam Di, đặt một đô úy, hơn mười huyện, nhập vào đất Thục.

Tại thời điểm này, bốn quận của Ba Thục (Ba, Thục, Quảng Hán, Hán Trung) mở đường đến tây nam Di, cần rất nhiều lính thú cũng như nhân lực vận chuyển lương thảo. Sau vài năm, đường không thông, quân lính mệt mỏi đói khát trong khí hậu ẩm thấp nên chết rất nhiều; người Di tây nam một số làm phản, phát binh nổi dậy đánh đuổi, hao phí mà chẳng được gì. Vua lo lắng, sai Công Tôn Hoằng đi đến xem xét. Hoằng về thưa rằng không thuận tiện. Sẵn dịp Hoằng làm ngự sử đại phu, lúc này đúng thời điểm đang đắp đất sửa thành Sóc Phương dựa vào Hoàng Hà để đuổi giặc Hồ, nhân đó bảo rằng khai phá tây nam Di không có lợi, nên dừng, tập trung sức lực chống Hung Nô. Vua bãi tây Di, chỉ đặt ở hai huyện nam Di mỗi một đô úy, ra lệnh quận Kiền Vi tự thân vận động.

Đến năm Nguyên thú thứ nhất (122 BC), bác vọng hầu Trương Khiên đi sứ Đại Hạ về, nói rằng lúc ở đó có thấy vải đất Thục, gậy trúc xứ Cung Đô, hỏi xuất xứ họ nói: “Ở phía đông nam là nước Thân Độc, cách khoảng vài ngàn dặm, mua được từ nhà buôn Thục”. Có kẻ nghe nói phía tây Cung Đô khoảng hai ngàn dặm có nước Thân Độc. Khiên nhân đó nhấn mạnh Đại Hạ ở về phía tây nam Đại Hán, rất hâm mộ Trung Quốc, bị Hung Nô ngăn trở, nếu mở lối thông với Thục, đường đến nước Thân Độc kế bên thuận tiện, hữu lợi vô hại. Do vậy vua bèn sai Vương Nhiên Vu, Bách Thủy Xương, Lữ Việt Nhân cùng nhau đi sứ về phía tây của tây Di, hướng về nước Thân Độc. Khi đến nước Điền, Điền vương là Thường Khương bèn lưu lại, rồi phái hơn mười nhóm người hỗ trợ tìm đường đi về phía tây. Hơn một năm, tất cả đều bị người Côn Minh cản trở, chẳng ai đến được nước Thân Độc.

Điền vương hỏi sứ giả Hán: “Hán và Điền nước nào lớn hơn?” Dạ Lang hầu cũng hỏi như thế. Vì đường không thông, bọn họ làm chúa một châu, không biết rằng nước Hán rộng lớn. Sứ giả trở về, liền nhấn mạnh Điền là một nước lớn, đủ điều kiện để kết giao. Hán Vũ đế rất lưu tâm.

Đến lúc Nam Việt làm phản, (Năm 112 BC) Hán Vũ đế sai Trì Nghĩa Hầu dựa vào quận Kiền Vi tập hợp quân lính nam Di. Tù trưởng Thả Lan sợ đi xa, các bộ tộc bên cạnh vào bắt những người già cả yếu đuối ở nhà, liền tập hợp dân chúng làm phản, giết sứ giả và thái thú quận Kiền Vi. Nhà Hàn bèn đem những tội nhân Ba Thục định dùng đánh Nam Việt, dưới quyền tám viên hiệu úy, bình định Thả Lan. (Năm 111 BC) Khi Nam Việt đã bị diệt, tám viên hiệu úy ấy (theo đường sông Tang Kha) vẫn chưa đến Phiên Ngung, liền dẫn quân quay ngược lại, trừ khử bộ tộc Đầu Lan. Đầu Lan vốn thường ngăn cách con đường đi đến nước Điền. Sau khi diệt Đầu Lan, đánh dẹp hết người nam Di, đặt Tang Kha quận. Dạ Lang hầu đầu tiên ỷ thế Nam Việt, Nam Việt mất, quân Hán quay về diệt phản, Dạ Lang bèn vào triều chầu kiến. Hán Vũ đế cho làm Dạ Lang vương.

Sau khi diệt Nam Việt, tiếp tục truy sát tù trưởng Thả Lan, tù trưởng bộ tộc Cung, đuổi giết Tạc hầu, các bộ tộc Nhiễm và Mang sợ hãi xin được làm bầy tôi và đặt quan lại trấn nhậm. Bèn lấy Cung Đô làm Việt Tây quận, Tạc Đô làm Trầm Lê quận, Nhiễm Mang thành Vấn Sơn quận, đất Bạch Mã phía tây Quảng Hán trở thành quận Vũ Đô.

Hán Vũ đế sai Vương Nhiên Vu lấy uy phong phá Nam Việt và diệt người nam Di để dụ Điền vương nhập triều thần phục. Điền Vương có mấy vạn người, phía đông bắc có Lao Tẩm và Mi Mạc đều cùng họ hỗ trợ, cho nên chưa chịu nghe. Lao Tẩm và Mi Mạc nhiều lần xâm phạm sứ giả và quân lính nhà vua. Năm nguyên phong thứ hai (109 BC), Hán Vũ đế điều động quân đội Ba và Thục tiêu diệt Lao Tẩm và Mi Mạc, quân tới sát nước Điền. Điền vương lúc này mới bắt đầu nhún nhịn, để khỏi bị giết. Điền vương li khai với người Di tây nam, đầu hàng nhà Hán, xin được đặt quan trấn nhậm và vào triều chầu bái. Hán Vũ đế lấy đất Điền lập quận Ích châu, ban cho Điền vương ấn tín để trở về chăm lo cho dân.

Các tù trưởng miền tây nam Di có đến hàng trăm người, chỉ riêng Dạ Lang và Điền nhận được ấn vương. Điền chỉ là một ấp nhỏ bé, lại được sủng ái nhất.

Thái sử công nhận xét: Tổ tiên nước Sở nhận được lộc trời chăng? Đầu thời Chu thì làm thầy Văn Vương, rồi được phong đất Sở. Đến ngày Chu suy tàn, nước Sở đất đai rộng năm ngàn dặm. Sau khi Tần diệt (sáu nước), chỉ có hậu duệ nước Sở vẫn ở trên ngôi vương tại xứ Điền. Nhà Hán sát diệt tây nam Di, bao nhiêu tiểu quốc bị xóa sổ, chỉ có Điền vẫn là vị vương được quí mến. Việc bình định tây nam Di, bắt đầu từ món tương Cẩu mà Nam Việt vương đãi Đường Mông ở Phiên Ngung, gậy chống ở nước Đại Hạ có nguồn gốc từ cây trúc xứ Cung. Tây Di sau đó lại bị chia làm hai phương, cuối cùng mới được Hán Vũ đế thiết trí thành bảy quận.

[1] Tần Thủy Hoàng diệt lục quốc nên mê tín số 6, lấy số 6 làm đơn vị, thành một bộ. Đường 5 thước ở đây có lẽ ý nói pháp luật nhà Tần lỏng lẻo tại vùng tây nam.

Độc giả có thể tham khảo một bản dịch khác của Tích Dã, tại đây.

Dịch, Tượng và Cửu chân – Nhật nam

4 Comments

Trước khi tiếp tục đi sâu vào những văn bản Hán cổ phức tạp, chúng tôi muốn quý độc giả giải lao bằng một đoạn văn giả tưởng về những gì đã diễn ra liên quan đến Tượng quận:

Năm 75 BC, gần vãn một buổi chầu như thường lệ của triều đình Hán Chiêu Đế tại kinh đô Trường An, có vị quan trẻ hiếu học bước ra kính cẩn tâu trình:

“Thỉnh cầu bệ hạ, đại Hán ta trên thuận thiên, dưới hợp địa, giữa được lòng muôn dân, tứ di thuần phục. Xưa trời trao Trung Nguyên nguyên vẹn cho Cao Tổ, sách vở cũ còn ghi Tượng quận. Vậy mà ngu thần không hiểu vì sao quận ấy ngày nay đã mất dấu. Chẳng lẽ khoảnh đất cả trăm dặm non xanh nước biếc có cánh bay, có chân đi? Hay nó đã bị người Nam man tái chiếm?”

Đa số các quan rất đỗi ngạc nhiên. Chỉ một số người có kiến thức thiên văn kín đáo trao đổi những ánh mắt bối rối rồi cùng nhìn về hoàng đế. Lên ngôi từ năm 8 tuổi, Lưu Phất Lăng năm ấy vừa tròn 20, đĩnh ngộ hơn người, lại là học trò những vị đại sư hàng đầu đế quốc nên ông không hề bối rối:

“Câu hỏi hay lắm. Trẫm rất thích những người đặt câu hỏi thông minh. Tuy nhiên sau buổi chầu ta phải vào lớp học Dịch lý nên tạm thời không có thời gian. Khanh và ai quan tâm sẽ có câu trả lời ở lần khai triều tiếp theo”.

Trưa hôm đó Chiêu đế chỉ chấm đũa qua loa rồi vội vào thư phòng với các chuyên gia lịch sử kiêm thiên văn, lịch pháp đang đợi sẵn.

“Tên tiểu lại kia con cái nhà ai mà đầu óc tự do thế. Y chưa được dạy Dịch lý, thuộc Dịch văn ư? Chưa bị nhốt vào chiếc lồng son Dịch kinh, Thoán truyền, Tượng truyền, Hệ từ, Văn ngôn của thánh nhân ư? Tại sao?” Chiêu đế hỏi, ngữ điệu hơi căng thẳng.

Thái sử công cúi mình tâu: “Bẩm bệ hạ. Dịch dạy người sáng suốt phương pháp tư duy, trói kẻ u mê trong tín điều mê tín và cuồng tín. Cứ mỗi ngàn năm sẽ xuất hiện một kẻ thoạt nhìn là đang hủy hoại Dịch Kinh. Nhưng theo chính thuyết âm dương tương hợp, lẽ thuận nghịch hài hòa của Dịch, người đó sẽ làm mới đức tin cho Dịch. Chỉ như vậy giá trị thực sự của Dịch mới trường tồn.”

“Vậy theo khanh ta sẽ phải nói trắng ra Tượng quận không có thật đâu. Đấy chỉ là Quan tượng quận mà thôi. Quan tượng tức là thực hành thiên văn đấy. Trời sao thì đất vậy, cho nên mới có tinh phân, tinh dã thể hiện những vùng đất của nhà Chu, nhà Tần rồi đến Hán ta. Trời tròn ắt đất sẽ tròn, chứ không vuông như kiến thức lạc hậu và đáng tội nghiệp của Khổng Phu Tử”. Chiếu đế vừa nói vừa đi tới đi lui bực dọc.

“Thánh thượng anh minh. Mật chỉ của các tiên vương muôn đời là không phổ biến kiến thức thiên văn ra ngoài xã hội, sợ sinh biến, tao loạn. Ai cũng làm được lịch và xem thiên tượng thì tứ di còn coi Trường An là thủ đô đế quốc nữa không? Vì vậy xin thánh thượng cân nhắc câu trả lời”.

“Vua Tần đánh xuống Ngũ Lĩnh, chiếm Giao Chỉ, cũng một phần vì Lã Thị Xuân Thu bảo nơi ấy có thuốc trường sinh, có chân nhân bất tử. Tại sao chiếm xong rồi, khai thác phần lớn thủy ngân làm sông làm suối trong Ly lăng rồi, không đặt nơi ấy thành quận huyện và dời Giao Chỉ xa xuống phương nam như cha ta và tiền nhân trước kia?” Chiêu đế hỏi.

Thái sử công lại vòng tay kính cẩn: “Ông ấy không tin người xưa, chỉ khát khao cái mới nên bày vẽ, lật ngược tất thảy. Oái oăm là cuối đời, bao nhiêu tâm trí sáng suốt xưa kia đã gộp thâu được lục quốc của họ Doanh bị chính chu sa thần sa tước đi sạch. Ông ấy nghe bọn đạo sĩ bất lương uống kim đan sai công thức nên trúng độc: co giật, run rẩy, mất cảm giác, gan và não bị hủy hoại. Sự hoang tưởng, tính cuồng bạo, sát sinh vô tội vạ, đốt sách, chôn học trò của ông ta có lẽ có nguyên do từ đấy. Chắc chắn thái tử Phù Tô bị biếm ra biên ải trong một cơn say thuốc của vua cha”.

“Thuốc bất tử trở thành đoản sinh. Ô hô ai tai!” Chiêu đế giơ hai tay lên trời ta thán nhưng chợt nhớ rằng Giao Chỉ lúc này đang được gọi vừa là bộ, vừa là quận. Ông hốt hoảng: “Dưới Giao Chỉ quận tại sao cha ta đặt tên là Cửu Chân và Nhật Nam? Như vậy đến con cháu ta thì hết được dùng khái niệm Giao Chỉ rồi sao?”

Thái sử công nhẹ nhàng kiên nhẫn giải thích: “Thưa thánh thượng, ở Phiên Ngung giữa trưa ngày hạ chí thổ khuê đã đứng bóng rồi. Đi xa nữa về phía nam chúng thần đoán biết có một nơi mà ngày xuân phân và thu phân thổ khuê lại đứng bóng, Vũ đế chấp thuận gọi nơi ấy là Cửu Chân. Còn Nhật Nam nghĩa là vùng đất lúc nào bóng thổ khuê cũng ở phía nam thì xa lắm, nơi ngày đông chí thổ khuê đứng bóng trở xuống. Con cháu ngài dùng thuật ngữ này khai mở đế quốc, giáo hóa man di, chứ không nên dùng Giao Chỉ nữa. Nó hiện đại hơn, cập nhật tri thức nhiều hơn và sau hết nó mô tả đất đai Đại Hán bao la hơn bao giờ hết. Công nghiệp ấy, lớn lao cỡ như Vũ đế mới nhìn thấy.”

“Ta hiểu rồi. Còn câu trả lời về Tượng quận, theo khanh thì làm thế nào?”

“Rất đơn giản thưa đấng chí tôn. Thần viết ngay một bản ghi chép (kỷ), lùi lại mùa thu năm trước, bệ hạ duyệt vào. Chiều nay thần hơ qua hơi nước sôi và phơi nắng cho nó cũ đi. Kỷ sẽ có nội dung hoàng đế ra lệnh bãi Tượng quận chia vào Uất Lâm quận và Tang Kha quận. Nếu gã tân lại kia tiếp tục thắc mắc thì một là điều chuyển y lên miền bắc lạnh lẽo làm giám quân, hoặc nếu y thật sự giỏi giang, thần sẽ nhận nó làm học trò, truyền thụ thiên văn, toán pháp và lịch pháp để nối bước chúng thần làm thư ký cho bệ hạ.”

“Khanh có chắc như thế là tối ưu không?” Chiêu đế hỏi và quay lưng lại người nghe, chăm chú nhìn vào tủ sách đồ sộ chất đầy cổ thư là những bó thẻ tre cuộn tròn.

Thái sử công len lén vuốt râu một cách khinh mạn và mỉm cười trả lời: “Sau hai ngàn năm thì không chắc, chứ trong hai ngàn năm, thần tin rằng không một kẻ đầu đen nào có thể hiểu bản chất của thiên văn học Đại Hán chúng ta ở những thuật ngữ này. Lại càng không thể có kẻ nào biết bản ghi chép kia làm ra để chữa cháy”.

KHÁI NIỆM GIAO CHỈ TRƯỚC NĂM 239 BC NẰM TẠI QUÝ CHÂU và HỒ NAM

2 Comments

Around 239 BC, Jiaozhi (交阯) is a concept and could be localized at Guizhou (贵州) and Hunan (湖南) .

Book: Research prehistory of Vietnam under Chinese classical Astronomy by Truong Thai Du. Trích đoạn sách: ” KHẢO CHỨNG TIỀN SỬ VIệT NAM bằng THIÊN VĂN HỌC CỔ ĐẠI TRUNG HOA”. Tác giả Trương Thái Du

Năm 239 trước công nguyên, sách Lã Thị Xuân Thu, quyển bách khoa toàn thư tập đại thành kiến thức Trung Hoa cuối thời Chiến quốc được soạn bởi khoảng 3000 tân khách của thừa tướng Lã Bất Vi mô tả Giao Chỉ, vùng biên viễn phía nam nhà Hạ: 南至交阯、孫樸、續樠之國,丹粟、漆樹、沸水、漂漂、九陽之山,羽人、裸民之處,不死之鄉Phía nam đến Giao Chỉ, con người nhún nhường, giản dị chất phác, thông nối với nước Man, sản vật có đơn túc ( tức đơn sa, một vị thuốc trường sinh), cây thất (để luyện thuốc trường sinh), núi Cửu Dương có mạch nước nóng sôi sục phun trào, người ở đây ở trần (có lẽ mặc khố?), làm đẹp bằng lông chim (?) và bất tử.

Xét thêm Sơn Hải Kinh (山海經), sách này đề cập mười ngọn núi trong toàn bộ Trung Hoa có thể có đơn túc: phía bắc không, phía tây 7 ngọn, vùng trung bộ 2 ngọn, phía nam (Nam sơn kinh) có một núi duy nhất: “《南次二經》之首,曰柜山,西臨流黃,北望諸毗,東望長右。英水出焉,西南流注于赤水,其中多白玉,多丹粟” Tạm hiểu: Đứng đầu nhóm núi thứ hai của phương nam là Cử sơn, phía tây núi này có thị tộc Lưu Hoàng, phía bắc nhìn đến Chư sơn, phía đông ngó qua dãy Trường hữu sơn. Suối Anh thủy bắt nguồn từ đây, chảy theo hướng tây nam nhập vào suối Xích thủy, trong lòng suối có nhiều bạch ngọc, nhiều đan túc.

Là sách cổ tiên Tần, nội dung Sơn Hải Kinh bao hàm địa lí, lịch sử, thực vật, động vật, khoáng vật, y dược, quỷ thần, thần thoại, tế tự, ghi chú về 40 thị tộc bộ lạc bốn phương xung quanh Trung Nguyên. 550 sơn mạch và 300 thủy đạo của nó hầu hết xa lạ với các sách đời sau. Tuy vậy chỉ dấu thổ nhưỡng, thực vật, động vật; đặc biệt là bạch ngọc (ở ba núi khác nhau phía nam) và đơn túc (một núi duy nhất), đã dẫn chúng tôi đến kết luận vùng phía nam mà nó đề cặp là hai bờ Trường giang. Nói cách khác Sơn Hải Kinh xác nhận biên giới Trung Hoa và hiểu biết của người Trung Hoa về vùng biên giới phía nam của họ trước thời Tần chỉ đến bờ nam Trường giang mà thôi. Khả năng Cử sơn chính là Cửu dương sơn của Lã Thị Xuân Thu là rất cao.

Hơn nữa, mô tả về suối nước nóng phun trào của Lã Thị Xuân Thu trùng khớp với đặc điểm địa chất hình thành các mỏ sulfua thủy ngân: Chu sa thường xuất hiện dưới dạng khoáng thạch có vân, gắn liền với hoạt động của núi lửa còn âm ỉ và suối nước nóng kiềm tính.

Ngày nay, có một địa danh thỏa mãn tất cả các điều đã nói phía trên, thuộc tỉnh Quý Châu, vùng giáp giới Hồ Nam, cách Trường giang ở đoạn gần đến thành phố Trùng Khánh khoảng 295km và Hà Nội là khoảng 770km theo đường chim bay, đó là Vạn sơn chu sa cổ trấn 万山朱砂古镇: Công viên khoáng sơn quốc gia nổi tiếng của Quý Châu. Đây là di tích công trường cổ khai thác quặng thủy ngân niên đại hàng ngàn năm, bao gồm một bảo tàng khoáng vật, các hang núi, sạn đạo… đã mở cửa cho du khách viếng thăm từ tháng 5 năm 2016.

Tóm lại: Không nghi ngờ gì nữa, cho đến năm 239 BC, Giao Chỉ vẫn là khái niệm nói về vùng đất giáp giới phía nam vương quốc Trung Hoa và có thể xác định một cách tương đối vị trí của nó là ở vào khoảng hai tỉnh Hồ Nam và Quý Châu ngày nay.

Những người Trung Quốc đầu tiên đến vùng đất hoang sơ này có lẽ là các đạo sĩ. Qua quan sát của họ, chúng ta thấy nhân quần vẫn ở tình trạng bộ lạc thị tộc. Có ít nhất ba cách hiểu nội hàm “bất tử” của Lã Thị Xuân Thu:

Một là tạo viễn cảnh tươi sáng cho những người chi tiền cho cuộc thám hiểm, tìm thuốc trường sinh.

Hai là ghi nhận thực tế dân cư tại đây chỉ mới có ý niệm ngày và tháng, chưa có ý niệm năm, tức là tuổi. Chỉ cần trải qua vài chục năm giữa rừng sâu, lam sơn chướng khí, săn bắn hái lượm cực nhọc từ bé để mưu sinh, bề ngoài một già làng “Giao Chỉ” sẽ không khác những người hơn trăm tuổi tại Trung Nguyên.

Ba là Cửu dương sơn chính là tiền đề cho sự ra đời của khái niệm Cửu chân sau này. Nó nằm trong hình dung của Đạo giáo về thế giới thần tiên của chân nhân khi rời bỏ thế tục lên trời. Tất cả xuất phát từ thần thoại: Đan khâu là núi đan (núi đỏ), nơi vũ nhân (phượng hoàng) bất tử trú ngụ, từ đó người ta luận ra đan sa (cát đỏ) ở Đan khâu có công dụng trường sinh. Đoạn thơ phần Viễn du của Sở từ do Khuất Nguyên viết khẳng định điều đó: 仍羽人於丹丘,留不死之舊鄉。朝濯發於湯谷兮,夕晞余身兮九陽. Nhưng vũ nhân ư đan khâu, lưu bất tử chi cựu hương. Triêu trạc phát ư thang cốc hề, tịch hi dư thân hề cửu dương.

Ảnh: Di tích khoáng sơn tại Vạn sơn chu sa cổ trấn – 万山朱砂古镇

chusacotran

Hà đồ, Lạc thư, thuyết Âm dương, Ngũ hành và Kinh Dịch, “chén thánh” của văn minh Á Đông

1 Comment

Yellow River Map, Lo Shu Square, Yin Yang, Five Elements and Yi Jing, the “Holy Grail” of East Asian Civilization

Trong hàng chục năm trở lại đây, giới cổ học Việt Nam liên tục đưa ra những giả thiết chấn động: Hà đồ, Lạc thư, thuyết Âm dương, Ngũ hành và Kinh Dịch là sản phẩm trí óc của người Việt cổ. Đa số chúng dựa trên những biện giải chưa thật sự thuyết phục, tuy gây nhiều tranh cãi nhưng cuối cùng vẫn đi vào hình thức đánh trống bỏ dùi. Tác giả Viên Như có lần trả lời phỏng vấn báo chí như sau: “Có thể nói Dịch học là bản thể luận đầu tiên của nhân loại; đồng thời là hiện tượng luận… Chính vì điều này nó không những cung cấp hiểu biết về bản chất của nhân sinh và vũ trụ, mà còn cho phép con người có những dự đoán dựa trên những kết quả có tính siêu nhân quả”.

“Chén thánh – Holy grail” là một thuật ngữ văn hóa và tín ngưỡng của văn minh phương Tây, ý nghĩa thần kỳ của nó được xây dựng dựa trên truyền thuyết các hiệp sĩ bàn tròn. Ở góc độ nào đó, Hà đồ, Lạc thư, thuyết Âm dương, Ngũ hành và Kinh Dịch cũng có bản chất “chén thánh”.

Trong quá trình viết quyển sách ” KHẢO CHỨNG TIỀN SỬ VIệT NAM bằng THIÊN VĂN HỌC CỔ ĐẠI TRUNG HOA”, chúng tôi có một hướng tiếp cận các vấn đề nói trên từ thiên văn và lịch pháp.

BOX

HÀ ĐỒ VÀ LẠC THƯ

Con người biết ngày – đêm khi thấy sáng tối, có hoặc không có ánh mặt trời. Tiếp theo họ sẽ quan sát các pha trăng để rút tỉa ra quãng thời gian một tháng. Cổ Sử Trung Hoa khẳng định trước khi có Dịch lý, người ta dùng lối kết thằng結繩 (thắt nút) để sinh hoạt. Khi mơ ước trở về xã hội bán khai, nơi nhân quần vui sống với nhau giản dị, trung thực, ngay thẳng, Lão Tử đã viết trong Đạo Đức Kinh “使民復結繩而用之”, nghĩa là “Nên khiến dân chúng quay trở lại dùng lối thắt nút”.

Người ta cũng biết hình thức kết thằng này đã từng tồn tại lâu dài ở Hawaii và đế chế Inca tại Nam Mỹ như ảnh dưới, với tên gọi Quipu. Các nhà nghiên cứu có khuynh hướng xem quipu là công cụ tính toán, hơn là yếu tố huyền hoặc khai sinh chữ viết.

quipu_Inca

Quipu của đế chế Inca, Nam Mỹ.

Chúng tôi cho rằng “kết thằng” chính là tạo các nút dây, bắt chước và mở rộng thuật bấm độn. Hẳn là xưa kia, ngày tháng, tuần trăng được tính toán bằng cách đếm các đốt ngón tay, như những ông thầy bói Á Đông hiện nay vẫn làm. Hành vi này, dưới ánh sáng thiên văn, có tuổi đời không dưới 4000 năm (trễ nhất là trước khi năm chí tuyến – tropical year đã được hầu hết các nền văn minh xác định khá chính xác, căn cứ vào quan trắc độ cao mặt trời, là khoảng 365.25 ngày). Hoàn toàn không phải tình cờ khi chúng tôi nhận thấy những qui luật làm lịch thấp thoáng trên hai bàn tay con người: Ngũ hành: 5 ngón tay. Âm Dương: hai mặt bàn tay, tay trái – tay phải, nam tả nữ hữu. Tháng trăng 28 ngày bằng số đốt ngón tay trên hai bàn tay. Thiên can: 10 ngón tay. Địa chi: 12 đốt trên 1 bàn tay không tính hai đốt ở ngón cái. Nhị thập bát tú: Đúng bằng số đốt ngón tay ở hai bàn tay.

Nhìn vào Hà Đồ dưới đây chúng ta thấy các nút dây, những con số tự nhiên từ 1 đến 9. Giả thiết là: khi trí tuệ người cổ đại đã vượt qua được hai bàn tay của chính mình, đã biết một tháng trăng (chu kỳ giữa hai thời điểm trăng tròn) dài hơn 29 ngày, họ thiếu đốt ngón tay để diễn tả điều này (cũng như những con số khác lớn hơn trong thực tế cuộc sống). Kết thằng được khai sinh trên cơ sở ấy.

hado

Hà đồ

Chúng tôi đặt mình vào vị trí những cư dân Á Đông giữa kỷ nguyên đồ đá và thấy rằng nếu những nút thắt của Hà Đồ cùng màu, đơn điệu, lập đi lập lại, sẽ rất dễ gây nhầm lẫn. Mỗi khi đọc số phải cẩn thận đếm từng nút dây một. Do đó nếu số lẻ được thắt bằng nút dây màu nhạt, số chẵn dùng sợi thừng đậm hơn, tốc độ nhận dạng con số sẽ nhanh hơn đáng kể.

Cải tiến cuối cùng để tăng tối đa tốc độ đọc số là tạo khối vuông và chữ nhật cho các số chẵn 4-6-8, Lạc Thư hẳn phải ra đời từ đó. Hơn thế nữa, chín số tự nhiên của Lạc Thư lại được sắp xếp thành một ô vuông ma thuật 3×3. Sự huyền diệu của các con số bắt đầu được xây dựng.

Lạc thư và ma phương 3×3

Người trung quốc cho rằng Hà Đồ thuộc về thời đại huyền sử Phục Hy, ước chừng năm 2600 BC, Lạc Thư của vua Vũ, khoảng 2150 BC. Đến đời Thương, giáp cốt văn đã có bộ số đếm từ 1 đến 9, do đó vai trò của các nút thắt có thể đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử. Tuy nhiên một số đặc thù văn hóa của chúng vẫn còn hiện diện: Hai màu sáng tối để phân biệt các số lẻ và chẵn được khoác vào thuộc tính tương ứng lần lượt là dương và âm. Vẻ đẹp toán học của các con số trong ma trận kỳ ảo sẽ được trình bày như sự linh thiêng. Đây chính là cơ sở ra đời cho Chu Dịch.

Chinese Abacus 02

Chiếc bàn tính truyền thống của người Trung Hoa, là sự tổng hợp các nút dây và những con số trong Hà Đồ và Lạc Thư.

Ở góc độ nào đó chúng ta mơ hồ thấy rằng cổ nhân hình thành thiên văn khi truy lục ý niệm thời gian, và cùng với thiên văn toán học đã ra đời. Con người hiện đại ngày nay vẫn dùng đôi bàn tay trẻ em để dẫn chúng vào thế giới toán học bao la, hoặc hướng dẫn chúng xác định tháng dương lịch nào có 30 hoặc 31 ngày. Riêng bản thân tôi, tôi tin chắc rằng các phép tính cơ sở cộng trừ nhân chia cũng ra đời từ hai bàn tay chúng ta. Chẳng hạn 3×4=12 chính là tổng số đốt tay trên một bàn tay, không tính ngón cái.

Đi xa hơn nữa, chúng tôi ngờ rằng thuyết Ngũ hành được xây dựng đầu tiên từ bàn tay trái của người Trung Hoa: Ngón lớn nhất trong bàn tay là ngón cái, vừa dùng để đếm/bấm vào các đốt ở bốn ngón kia từ phải sang trái, từ trên xuống dưới, vừa là hành Thổ trung ương/cuối cùng khi xếp nó nằm giữa bàn tay. Trật tự này cũng có thể dẫn đến cách viết từ phải sang trái, từ trên xuống dưới khi văn tự ra đời.

Quá trình đếm ngũ hành bắt đầu bằng số 1, hành thủy, ngón út; đến số 5, hành thổ, ngón cái, có vẻ khá logic và tương đối hợp lý: từ nhỏ đến lớn. Nó cũng có thể là nguyên do Tần Thủy Hoàng đã chọn thủy đức màu đen cho đế chế Đại Tần của mình, nghĩa của nó là một, đầu tiên, đứng đầu. Và thực tế ông đúng là nhà cách mạng đầu tiên trong lịch sử Á Đông đã khai mở hình thức nhà nước phong kiến tập quyền.

Ảnh: Ngũ hành và thuật bấm độn

ÂM DƯƠNG VÀ KINH DỊCH

Mãi đến gần đây, Chủ nghĩa cấu trúc (structuralism) của văn minh phương Tây mới chỉ ra rõ ràng rằng nhị nguyên đối lập (binary opposition) là thuộc tính hằng hữu của mọi tồn tại. Về cơ bản, chúng thường thống nhất và bổ xung hàm ý cho nhau. Văn hóa Trung Hoa nêu ra phạm trù này dưới tên gọi Âm – Dương muộn nhất là từ thời Chu. Trong rất nhiều nghĩa của hai đơn tự Âm 陰 và Dương陽 , hầu hết chúng tạo thành các cặp nhị nguyên đối lập như Mặt Trăng – Mặt Trời, Nam – Nữ, Tăm Tối – Tươi Sáng…

Nền tảng tư duy của từng cá nhân hay cả một tổ chức xã hội cũng dựa trên cấu trúc này, nhưng thông thường nhân loại từ Đông sang Tây xưa nay đều có xu hướng chọn mặt tích cực của vấn đề. Chẳng hạn, người ta gọi là “đời sống” chứ không phải “đời chết”, cho dù SỐNG chính là hành trình một chiều đi đến cái CHẾT.

Theo Lịch Thư trong Sử Ký của Tư Mã Thiên, người Trung Hoa trước hết dùng lịch sao (tinh lịch), từ thời Hoàng Đế huyền sử. Chúng tôi tin rằng đây là dấu vết thuở sơ khai, khi thiên văn học chỉ mới đạt đến mức quan sát ngày đêm và tháng trăng. Nếu hiểu tinh lịch theo thiên văn hiện đại, tức là định được chính xác tuyệt đối giờ, ngày, tháng đầu năm bằng vị trí (xích kinh và xích vĩ) của một chòm sao nào đó trên bầu trời đêm, thì khối lượng kiến thức phải đồ sộ như thiên văn phương Tây cuối thời Phục Hưng, cộng thêm với dụng cụ đo thời gian chuẩn, sai số luôn cố định và không quá 5 -10 giây một ngày.

Đến thời Nghiêu Thuấn, Nghiêu Điển đã cho thấy sự hoàn thiện và tổng hợp qui luật chuyển động của mặt trời (nhật), mặt trăng (nguyệt), hành tinh (tinh) và định tinh (thần). Đây cũng có lẽ là thời điểm ra đời nhánh mê tín, phi khoa học của thiên văn gọi là Dịch.

Nếu chọn cặp nhị nguyên đối lập Nhật – Nguyệt để diễn giải Kinh Dịch, chúng ta có thể mường tượng ra một trong những nguồn gốc khả tín của Chu Dịch, được kiện toàn bởi Khổng Tử:

Ký hiệu Dương – một gạch ngang liền lạc tượng trưng cho mặt trời. Ký hiệu Âm – một gạch ngang khuyết ở giữa tượng trưng cho mặt trăng. Hai gạch dưới tên gọi Dương và Âm đó là phù hiệu của Lưỡng Nghi.

hinh-tu-tuong

Khi chồng hai phù hiệu của Lưỡng Nghi lên nhau theo mọi trật tự trên – dưới có thể có, người ta hình thành được Tứ Tượng: [Âm – Dương] gọi là Thiếu Dương, dương khí khởi sinh, tương ứng với mùa xuân. [Dương – Dương] gọi là Thái Dương, cực điểm nóng nực, tương ứng với mùa hạ. [Dương – Âm] gọi là Thiếu Âm, âm khí khởi sinh, mùa thu . [Âm – Âm] gọi là Thái Âm, cực điểm lạnh lẽo, mùa đông. Tứ tượng bốn mùa này, ở góc độ nào đó là ánh xạ của khái niệm tứ tượng trong thiên văn là Nhật-Nguyệt-Tinh-Thần.

Tiếp tục chia bốn mùa thành các giá trị nhỏ hơn, người ta lần lượt ghép vào Tứ Tượng hai vạch Âm và Dương phía dưới, tạo thành Bát Quái (đơn quái): Càn (trời), Khảm (nước), Cấn (núi), Chấn (sấm), Tốn (gió), Ly (lửa), Khôn (đất), Đoài (đầm).

Từ tám Đơn Quái, nếu tiếp tục chồng chúng lên nhau sẽ cho ra 64 Trùng Quái hay còn gọi là quẻ Chu Dịch. Mỗi quẻ có 6 gạch Âm và Dương, 64 quẻ tạo bởi 384 gạch. Những gạch này gọi là Hào. Căn cứ trên hình thế của 64 quẻ và vị trí của 384 hào, người ta tạm đủ yếu tố để giải thích cũng như suy diễn mọi thứ ở đời, trên thiên văn, dưới địa lý, từ hiện tại đến tương lai, thậm chí quay ngược trở về quá khứ…

Khi chúng tôi trình bày cách hiểu về Chu Dịch ở trên trong một status facebook Việt ngữ, một số ý kiến phản ứng khá gay gắt nhằm bảo vệ cho niềm tin của họ. Chúng tôi bèn áp dụng cách dựng Bát Quái của Chu Dịch với cặp nhị nguyên đối lập Âm là Nữ, Dương là Nam. Diễn giải đến Bát Quái của nó đã xuất hiện lỗ hổng: thực tế là có những người lưỡng giới mà Lưỡng Nghi, Tứ Tượng và Bát Quái không chỉ ra được.

Lưỡng nghi:

ÂM (NỮ) – DƯƠNG (NAM)

Tứ tượng:

DƯƠNG DƯƠNG (thuần nam) – ÂM ÂM (thuần nữ) – DƯƠNG ÂM (gay) – ÂM DƯƠNG (lesbian)

Bát quái (tạm dùng tên theo Chu Dịch):

Càn: Thuần nam, nam tính.

Đoài: Thuần nam, nữ tính

Ly: Gay, nam tính, đóng vai trò chồng trong hôn nhân đồng tính nam.

Chấn: Gay, đóng vai trò vợ trong hôn nhân đồng tính nam.

Tốn: Lesbian, đóng vai trò chồng trong hôn nhân đồng tính nữ

Khảm: Lesbian, đóng vai trò vợ trong hồn nhân đồng tính nữ

Cấn: Thuần nữ, nam tính

Khôn: Thuần nữ, nữ tính

Chúng ta đều biết bản chất nhị phân Âm – Dương của Chu Dịch hoàn toàn tương đồng với nhị phân 0-1 trong toán học phương Tây và nền tảng kỹ thuật số của nhân loại ngày nay. Xem Âm = 0 và Dương = 1, Lưỡng Nghi ( 1 bit), Tứ Tượng (hai bit) và Bát Quái (ba bít) thể hiện các con số từ 0 đến 7 (màu đỏ) như sau:

hinh-tu-tuong_binary

Nếu chồng bát quái lên nhau, 8×8 = 64 quẻ Chu Dịch, ta có bộ số tự nhiên từ 0 đến 63 và cần 6 bit. Con số càng lớn thì số bit (tức là số vạch liền và vạch khuyết) càng nhiều. Trong cổ thư Trung Quốc trước công nguyên, người ta đã dùng đến số hàng triệu khi áng chừng chu vi hoàng đạo tại điểm phân là 1.071.000 lý (Chu Bễ Toán Kinh). Nếu dùng Dịch thể hiện con số này thì phải dùng đến 21 vạch lưỡng nghi mới cho ra số nhị phân cùng giá trị [100000101011110011000]. Hẳn nhiên là không thể dễ dàng đọc được bằng mắt, viết được chính xác nếu không có các mạch điện tử.

Như vậy, ra đời sau bộ số đốt ngón tay (chỉ có 28 số tự nhiên), kết thằng (không có số 0), Chu Dịch đã thể hiện được số 0 nhưng lại phát sinh vấn nạn rất lớn khi xử lý văn bản hoặc thể hiện chúng trên thẻ tre hay lụa để viết số. Vì Chu Dịch không thể tồn tại ở vai trò bộ số tự nhiên, người ta đã dùng thuộc tính Âm – Dương và quan hệ kỳ diệu giữa các con số trong ma phương để xây dựng nên huyền bí học.

Tư duy biện chứng nằm trong chén thánh

Quay trở lại với câu trích của Lão Tử phía trên, chúng tôi xin đặt câu hỏi: Ở cùng thời đại Chiến Quốc nhiễu nhương với nhau, tại sao Lão Tử không xiển dương Chu Dịch đang hưng khởi bởi sự quan tâm của Khổng Tử và học trò?  Ông có ý gì khi khuyên con người hãy trở lại chất phác với những nút kết thằng, trước khi Hà Đồ và Lạc Thư đã mang vẻ huyễn hoặc?

Thật ra chúng tôi không có tham vọng trả lời những câu hỏi rất hóc búa ở trên, mà chỉ muốn chỉ ra rằng, theo quan điểm của Lão Tử, Hà Đồ và Lạc Thư không phải sản phẩm của một nền văn minh khác, sáng lạn, đến từ ngoài vũ trụ. Nó đơn giản là kết tinh lao động trí óc của những bộ não con người cuối thời đồ đá. Huyền bí hóa, suy diễn năng lực thần thánh từ con số ấy, là đi ngược lại logic phát triển tất yếu từ thấp đến cao của tri thức.

Về cơ bản, Kinh Dịch là một trong những phép biện chứng giản lược của Trung Hoa cổ đại. Cùng thời với nó, ở Hy Lạp và Ấn Độ cũng xuất hiện những hình thái tương tự (biện chứng Socrates, Aristotle, Hindu, Phật giáo). Sự triển khai của Dịch không nằm ngoài ý niệm 有無相生 (hữu vô tương sinh) trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử. Bằng trực kiến đơn thuần, thiếu chứng nghiệm và cơ sở khoa học, các học giả khai sáng nền Nho học Á Đông đã gắn kết các con số nhị phân sáu bít với các khái niệm cơ sở ở thời đại của mình, nhằm mô tả thế giới xung quanh một cách rất chung chung. Chúng thiếu rất nhiều thứ để trở thành một hệ thống tư tưởng hoàn chỉnh của phép biện chứng, song lại thừa lỗ hổng cho mê tín dị đoan, đoán hung định cát phát triển tối đa.

Chẳng hạn quẻ Khôn mô tả hình dạng trái đất như sau: 直,方,大 – Thẳng, vuông, to lớn. Đây chính là quan niệm “trời tròn đất vuông” của thiên văn Trung Hoa khi Kinh Dịch ra đời. Nó hoàn toàn lạc hậu và phản khoa học, ngay cả với Trương Hành, thiên văn gia cách đây gần 1900 năm đã cho rằng trái đất như lòng đỏ trứng gà, bầu trời như vỏ trứng.

Ở Á Đông, chưa thấy ai từng bị thiêu sống, như Vatican đã làm với Giordano Bruno, người phủ nhận thuyết địa tâm của Kinh Thánh. Nhưng không vì thế mà Kinh Dịch là vô hại, không giữ vai trò cản trở sự tiến hóa của xã hội ở những khía cạnh nhất định.

Chu Dịch, Hệ từ hạ viết: 上古結繩而治,後世聖人易之以書契,百官以治,萬民以察,蓋取諸夬Tạm hiểu: Thời thượng cổ (vua chúa) cai trị bằng lối kết thằng – thắt nút, hậu thế thánh nhân dùng Dịch sáng tạo ra chữ viết khắc trên xương thú và mai rùa, nhờ đó trăm quan quản lý, vạn dân được giám sát, được thế là bởi có quái (quẻ Dịch).

Dịch, như đã phân tích ở trên là hệ số nhị phân, 64 quẻ phổ biến nhất, tương đương với 64 chữ số từ 0 đến 63. Nói Dịch sáng tạo ra chữ viết là một sự huyền thoại hóa rất ngây ngô. Nhưng ý kế tiếp lại rất đúng, lột tả trọn vẹn một bản chất sắc xảo của Chu Dịch là công cụ cai trị, nô dịch, giám sát không những người dân Trung Hoa mấy ngàn năm nay, mà cả người dân của những dân tộc xung quanh.

Chúng tôi không và cũng không thể phủ nhận Dịch như là nguồn cảm hứng của tín ngưỡng, phân tích tâm lý, thương mại, văn chương và nghệ thuật… ở các lãnh thổ trong vòng ảnh hưởng của nó. Nhưng chúng tôi cho rằng nên nhìn nhận Dịch là phương pháp biện chứng thuần phác, và đối xử với nó bằng biện chứng luận hiện đại, nhằm tiến tới hợp đề. Có như vậy mới vô hiệu hóa được những góc tối không nên có của bộ ngũ Hà đồ, Lạc thư, thuyết Âm dương, Ngũ hành và Kinh Dịch, mà không hủy hoại chúng, những di sản văn hóa đã có nhiều đóng góp cho văn minh Á Đông.

Dialettica_hegeliana

Sự hình thành của Dịch lý có thể diễn giải đơn giản như sau: Đi từ [A] đến [B] (tức là không A), không nên là quá trình thủ tiêu [A], mà là hợp đề [A-B] để đưa ra Tứ Tượng. Tuy mới chỉ là đơn tuyến, song Chu Dịch đã thoát ly được biện chứng mông muội “Bỏ A để đi đến B” như hình bên trái. Muốn dẫn chứng “biện chứng mông muội” sống động và thú vị hơn, xin độc giả nhớ lại cảnh Tôn Hành Giả ăn đào tiên, trong văn học Trung Hoa.

Dịch lý đã tiếp cận rất gần vòng xoáy trôn ốc của biện chứng Hegel như hình bên phải: Chính đề [A] không bị phản đề [B] phủ nhận, mà chúng kết hợp với nhau trên cung xoáy trôn ốc để đi đến hợp đề [C]. [C] đến đây lại trở thành một chính đề mới và tiếp tục tìm kiếm phản đề của nó. Trí tuệ nhân loại đã có khi phát triển như thế.

Có bạn đọc thắc mắc tại sao nguồn gốc tưởng như bí truyền của Hà đồ, Lạc thư, thuyết Âm dương, Ngũ hành, Kinh dịch bị tôi lột tả giản dị thế mà lại khai sinh được Trung Y linh nghiệm, với những thành tựu vĩ đại trong hàng ngàn năm qua.

Là một người tìm hiểu lịch sử thiên văn cổ đại Trung Quốc, tôi không dám bước quá xa tầm kiến thức hạn hẹp của mình. Chỉ xin lưu ý một chi tiết: Một trong những  vị thuốc trường sinh của Tần Thủy Hoàng là Chu sa hay còn gọi là thần sa, đan sa, xích đan, cống sa. Chúng được nhắc đến rất nhiều lần trong sách vở Tần – Hán trở về trước (trong đó có một ngữ cảnh của Lã Thị Xuân Thu đã giúp chúng tôi xác định khái niệm Giao Chỉ trước năm 239 BC là ở tỉnh Quý Châu, Trung Quốc ngày nay). Tại lăng mộ Triệu văn vương, cháu nội Triệu Đà, phát lộ năm 1983 ở Quảng Châu, các nhà khảo cổ cũng tìm thấy dấu vết Chu sa trong các viên kim đan.

Chu sa chính là một loại khoáng thạch chứa sulfua thủy ngân (Mercury sulfide) thiên nhiên. Độc tính của nó rất đáng ngại, đã được ghi nhận ở Rome trước công nguyên. Thuốc trường sinh của Tần Thủy Hoàng có khi đã hạ tuổi thọ của ông ta xuống đáng kể.

Tóm lại muốn chứng minh Hà Đồ, Lạc Thư, thuyết Âm – Dương, Ngũ hành và Kinh Dịch là sáng tạo của dân tộc nào, thì phải tiếp cận với lịch sử tư duy cốt lõi của chính dân tộc ấy. Chúng tôi cho rằng công cuộc đi tìm nguồn gốc những thứ nói trên hiện nay ở Việt Nam chỉ mới là những tiếp xúc bề mặt sơ sài, thiếu trọng tâm. Các tựa sách báo “giật gân”, “chấn động” không phải là cách học giới kim cổ truy tầm sự thật.

Trương Thái Du

4.2017

CHINESE ALREADY KNEW THE EARTH IS IN SPHERE SHAPE FROM WESTERN HAN DYNASTY

Leave a comment

NGƯỜI TRUNG QUỐC ĐÃ BIẾT TRÁI ĐẤT HÌNH CẦU TỪ THỜI TÂY HÁN

CHINESE ALREADY KNEW THE EARTH IS IN SPHERE SHAPE FROM WESTERN HAN DYNASTY

周髀算經

卷下:

春分、秋分,日在中衡。春分以往日益北,五萬九千五百里而夏至。秋分以往日益南,五萬九千五百里而冬至。中衡去周七萬五千五百里。中衡左右冬有不死之草,夏長之類。

(http://ctext.org/zhou-bi-suan-jing/juan-xia)

English translation:

Zhou Bi Suan Jing (周髀算經) Book 2 (卷下) (50BC-100AD)

In Chunfen (春分 – Vernal equinox) and Qiufen (秋分 – Autumnal equinox) the Sun is at equator (中衡 middle road). After Chunfen the Sun reaches to the north (to Tropic of Cancer), Tropic of Cancer is about 59500 Chinese miles (long). After Qiufen the Sun backs to the south (to Tropic of Capricorn), Tropic of Capricorn is about 59500 Chinese miles (long). A round of the equator is 75,500 Chinese miles. In the right side and left side of equatorial area (中衡 middle road) there are grass for elixir of immortality, growth in summer.

Note: One mile in the context is about 415.8 m. It means the lengths stated in the book are really good (24,740 km and 31,332 km), in comparison with current features: Tropic of Cancer ~ Tropic of Capricorn ~ 36,787.5 km. Equator ~ 40,075 km.

***

Âm Hán Việt: Chu bễ toán kinh, quyển hạ:

Xuân phân thu phân nhật tại trung hành. Xuân phân dĩ vãng nhật ích bắc, ngũ vạn cửu thiên ngũ bách (59500) lí nhi hạ chí. Thu phân dĩ vãng nhật ích nam, ngũ vạn cửu thiên ngũ bách (59500) lí nhi đông chí. Trung hành khứ chu thất vạn ngũ thiên ngũ bách (75500) lí. Trung hành tả hữu đông hữu bất tử chi thảo, hạ trưởng chi loại.

Dịch nghĩa:

Tại ngày xuân phân và ngày thu phân mặt trời nằm trên đường Trung Hành (tức Xích đạo). Sau xuân phân mặt trời dịch chuyển về phía bắc (đến vòng tròn hạ chí), vòng tròn hạ chí dài 24.740km. Sau ngày thu phân mặt trời dịch chuyển về phương nam (đến vòng đông chí), vòng tròn đông chí dài 24.740km. Một vòng xích đạo dài 31.332 km. Hai bên xích đạo có mọc cỏ bất tử, sinh trưởng vào mùa hạ.

Ghi chú: Vòng tròn bắc và nam chí tuyến (hạ chí và đông chí) ngày nay gần bằng nhau, dài 36.787 km. Vòng xích đạo dài 40.075 km. Cách đây hơn 2000 năm người TQ đã tính được chiều dài xích đạo là 31.332 km thì không thể hiểu nổi họ tính bằng cách nào.

3.7.2017

泰游 – Trương Thái Du

 

 

 

 

KTS Nguyễn Hữu Thái đạo văn trắng trợn trên báo Tuổi Trẻ!

2 Comments

A: HÀNH VI ĐẠO VĂN TRẮNG TRỢN.

Ảnh 1: Tiểu đoạn [Vì sao có tên gọi “Hòn ngọc Viễn Đông”] của chủ nhân blog này, đăng trên BBC ngày 1.4.2016. Link trên BBC. :BBC_1_4_2016

Ảnh 2: Chụp báo giấy Tuổi Trẻ tiểu đoạn [“Hòn ngọc Viễn Đông”?] của KTS Nguyễn Hữu Thái, ngày 20.8.2016. Link trên Tuổi Trẻ Online.

TT_20_8_2016

Ảnh 3: Tô màu đỏ những chữ khác nhau của hai đoạn văn.

5sosanh

Bản của BBC có 319 chữ. Bản của Tuổi Trẻ 357 chữ. KTS Nguyễn Hữu Thái đã lấy 90,9% số chữ của BBC đưa vào báo Tuổi Trẻ, số chữ này bằng 81,2% tổng số chữ của tiểu đoạn trên Tuổi Trẻ. Các thao tác sau khi copy và paste “nguyên con” khiến có sự sai lệch là: dịch thêm tên sách sách France in Indochina: Colonial Encounters ra tiếng Việt, đảo từ kép như [đối ứng -> ứng đối], thay từ na ná với nhau như [thực sự -> thật sự], [các -> những], [xin xét -> thử xét], [được vận động bởi -> tạo động lực]  …

Mang theo cái sai từ BBC sang báo Tuổi Trẻ: Copy phần dịch của tôi mà không google truy nguyên gốc thì thật ẩu tả và tùy tiện. Gần nửa tiểu đoạn của BBC là phần dịch. Nguyên văn tiếng Anh đoạn dịch trong bài báo của tôi thực ra không nằm trong quyển sách Colonial Encounters. Đó là sự nhầm lẫn nhưng rất may không ảnh hưởng đến logic và suy luận nội tại. Đoạn viết này hiện diện tại một bài viết của tác giả Nicola Cooper tự giới thiệu quyển sách đã đề cặp: “The colonization of the various territories which later made up Indochine française took place over a number of years. The French conquest began in the South, in Cochinchina, in the 1860s. Throughout the next 30 years, France pushed steadily North, gaining territories in Annam and Tonkin, and also Cambodia and Laos. These territories were formally brought together under the name Indochine française in 1885. This desire to establish a French empire in South-East Asia was partly driven by imperial rivalry with Great Britain. French Indochina was intended to rival British India: the French created their ‘Perle de l’Extrême-Orient’ in response to the ‘Jewel in the Crown’ that India represented for Britain”.

Cái sai này cũng đã được bạn bè tôi trong facebook chỉ ra:

10.jpg

B: THÁI ĐỘ CỦA BÁO TUỔI TRẺ:

Ngay sau khi đọc bài báo của KTS Nguyễn Hữu Thái, tôi đã nêu vấn đề này trong tài khoản facebook của mình. Có ít nhất hai nick từ báo Tuổi Trẻ đã đọc và comment là Bùi Thanh (hình như ông từng là phó tổng biên tập Báo Tuổi Trẻ, bút danh Bút Bi, nổi tiếng là một ngòi bút đạo đức, luôn vạch trần thói dối trá ngoài xã hội) và Le Thi Thai Hoa.

11

9

Dễ dàng thấy rằng trước cáo buộc của tôi, họ phủ nhận trước đã, rồi tính sau. Thậm chí nick Thai Hoa còn dẫn comment của blogger Đông A nổi tiếng (nghe nói là một tiến sĩ thực thụ, ghét cay ghét đắng giả trá trong khoa học và các tiến sĩ giấy) để biện hộ cho luận điểm của mình:

8

Một số người quen thân của tôi cũng đã phản hồi quyết liệt dưới bài báo trên Báo Tuổi Trẻ online.

Tất cả đều chìm vào sự im lặng đáng sợ.

Ngay cả khi một số tài khoản facebook khác khẳng định đây là một vụ đạo văn và tag nhà báo Thai Hoa của báo Tuổi Trẻ vào, cô bèn áp dụng chiêu “im lặng là vàng”.

7

C. KTS NGUYỄN HỮU THÁI – ÔNG LÀ AI?

Khi tìm kiếm từ mục “KTS Nguyễn Hữu Thái” trên Báo Tuổi Trẻ online chúng tôi nhân thấy đây là một tác giả gạo cội, đã cộng tác lâu dài với Báo Tuổi Trẻ, một trí thức lớn tuổi đã được hưởng nền giáo dục Thực dân khai hóa và sau đó là nền giáo dục tự do học thuật VNCH.

12

Tôi chỉ thấy vấn đề đạo văn này trở thành “to tát” nếu KTS Nguyễn Hữu Thái, người đạo bài báo trên trang web BBC của tôi chính là ông Nguyễn Hữu Thái “đại trí thức XHCN”, đã cùng Trịnh Công Sơn hân hoan chào đón những người cộng sản vào tiếp quản Sài Gòn ngày 30.4.1975.

Thật vậy, cách đây 5 năm tôi đã tình cờ nhận ra nghi án Trịnh Công Sơn “đạo nhạc”, sau đó vì bị các fan của TCS tấn công một cách cảm tính tới tấp trên truyền thông, tôi đã phải đổi giọng “Mỹ và Pháp đạo nhạc Trịnh Công Sơn” và chỉ ra thêm nhiều ca khúc khác, toàn loại “đình đám” trải suốt các thời kỳ sáng tác của TCS có âm hưởng Mỹ – Pháp.

Mối “nghiệt duyên” của tôi với hai ông thật là bẽ bàng. Tôi tiếc cho những người CS đã được chào đón bởi những cá nhân có nghi vấn tì vết trong đạo đức học thuật: ĐẠO NHẠC và ĐẠO VĂN!

D. KẾT LUẬN

Hôm nay 27.8.2016, tròn một tuần từ ngày đoạn văn ăn cắp của KTS Nguyễn Hữu Thái “chường mặt” trên báo in Tuổi Trẻ và từ đó đến nay vẫn trâng tráo thách thức dư luận bằng phiên bản online.

Tôi tin rằng thông tin này đã đến được tất cả những nơi cần biết, kể cả ông “đại trí thức” KTS Nguyễn Hữu Thái. Họ đã chọn im lặng một cách sống sượng và hèn nhát, bới nói cho cùng ăn cắp từ lâu đã trở thành chuyện nhỏ, chuyện thường ngày ở xã hội này.

Là một người viết amateur đơn độc, tôi chỉ có thể cố gắng trình bày cụ thể sự việc, rõ ràng và rành mạch, rồi lưu lại mãi mãi trên trang nhật ký điện tử của mình cũng như thế giới cyber.

Xin cảm ơn tất cả các bạn đã quan tâm và chia sẻ. Mong rằng hệ luân lý Việt Nam sẽ không bao giờ chấp nhận hành vi xấu xa của KTS Nguyễn Hữu Thái và sự đồng lõa trơ trẽn của những người có trách nhiệm tại Báo Tuổi Trẻ – Cơ quan ngôn luận của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

15

Lịch sử Nam tiến của Việt Nam qua góc nhìn quốc tế

2 Comments

Khảo cứu của GS.TS. Song Jung Nam – Trường Đại học Ngoại ngữ Hàn Quốc.

Việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam được tiến hành chủ yếu về phía Nam bởi hai nguyên nhân chính là dùng triết lý sức mạnh và do yếu tố địa chính học. Nguyên nhân thứ nhất cụ thể là sự hùng mạnh của Trung Quốc, nguyên nhân thứ hai là dãy Trường Sơn.

Với mục đích chính trị – kinh tế, khi tiến hành quá trình mở mang lãnh thổ và tăng cường sức mạnh của mình, Việt Nam đã không thể tiến lên phía Bắc vì có Trung Quốc mạnh hơn mình. Vô hình trung, Việt Nam không còn cách nào khác là phải chống lại quá trình mở mang lãnh thổ về phía Nam của Trung Quốc và kết quả là Việt Nam đã phải trải qua một quá trình lịch sử đấu tranh lâu dài.

Mặt khác, Việt Nam cũng đã mấy lần thử tiến về phía Tây là nước Lào với mục đích và nguyên nhân như đã nêu trên nhưng giữa hai nước có dãy núi dài hiểm trở nên không được như mong muốn. Kết quả là Việt Nam và Lào tiếp tục duy trì mối quan hệ hữu nghị truyền thống bất chấp quy luật lịch sử “giữa các nước láng giềng không có quan hệ tốt”.

Dù thế, trong lịch sử, quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Lào không hẳn đều tốt đẹp. Dưới triều đại Hậu Lê hay triều đại nhà Nguyễn, Việt Nam đã hợp nhất một phần lãnh thổ ở phía Đông Bắc Lào với vùng biên giới của mình. Tuy nhiên, mức độ và số lần căng thẳng về chính trị không nhiều và sâu sắc, đất chiếm lĩnh thì chưa được khai thác, dân số của Lào ít nên sau khi chiếm lĩnh được cũng không đủ lực lượng lao động tại chỗ để khai thác. Hơn nữa, có nhiều lý do nên không thu hút được dân nước mình khai thác vùng đất đó nên việc tiến sang Lào của Việt Nam không dễ dàng. Tương tự, triều Nguyễn đã lấy đất của Lào và nhập vào lãnh thổ của mình 6 trấn là Trấn Man, Trấn Biên, Trấn Ninh, Trấn Tĩnh, Trấn Định, Lạc Biên và rồi trả lại cho Lào khi Pháp tiến vào (2).

Vì khó tiến lên phía Tây Bắc nên Việt Nam tiến về phía Nam là một kết quả tất yếu. Ở đây, so với các nước ở phía Nam, Việt Nam chiếm ưu thế về sức mạnh, so với phía Tây Bắc thì không tồn tại trở ngại nào, sau khi chiếm lĩnh có thể khai thác mở rộng bằng lực lượng lao động phong phú tại chỗ. Không những thế, về mặt địa lý, phía Nam nối liền với đường biển rất thuận tiện nên dễ tiến hơn đường bộ. Việc chinh phục được Champa hiếu chiến là đỉnh cao của vị thế và sự phát triển của Việt Nam.

Cũng như lịch sử trường kỳ của Việt Nam, việc mở rộng lãnh thổ mất thời gian dài. Trong thời gian đó, việc mở rộng lãnh thổ bắt đầu từ triều nhà Lý. Bài nghiên cứu này xem xét việc mở rộng lãnh thổ về phía Nam của triều đại hậu Lê, thời kỳ mà công cuộc mở mang lãnh thổ được tiến hành sâu rộng và mạnh mẽ nhất trong lịch sử Việt Nam.

Nhà Lý là triều đại tồn tại lâu nhất trong lịch sử Việt Nam, ngoại trừ 100 năm hưng thịnh, còn lại đều là thời kỳ bất ổn. Việc mở rộng lãnh thổ dưới triều đại Lý được hoàn thành trong 260 năm, thời kỳ bất ổn định bởi Trịnh – Nguyễn phân tranh, tức là thời kỳ đối lập và phân chia Nam Bắc.

Tài liệu tham khảo của bài nghiên cứu này là Đất nước Việt Nam qua các đời của Đào Duy Anh, Việt Nam quốc hiệu và cương vực qua các thời đại của Nguyễn Đình Đầu, Khảo sát chế độ đất đai và mở rộng lãnh thổ phía Nam Việt Nam và Quốc hiệu và lãnh thổ của Việt Nam của Song Jung Nam (3).

Khác với các bài nghiên cứu trước, bài nghiên cứu này mang tính phức hợp và xem xét đến các vấn đề lịch sử trong giới hạn một thời đại và một chủ đề, đồng thời có mục đích phân tích tính chất thời đại trong việc mở rộng lãnh thổ – vấn đề chưa được đề cập trong các bài nghiên cứu trước. Để thực hiện mục đích này, bài viết phân chia thời kỳ trước và sau khi chúa Trịnh và chúa Nguyễn – 2 nhà quyền lực dưới 1 triều đại trong 1 quốc gia – phân tranh quyền lực và xem xét bối cảnh, quá trình triển khai, tính chất của việc mở rộng lãnh thổ trong từng thời kỳ. Ở thời kỳ trước khi Trịnh Nguyễn phân tranh, trong mối liên hệ với thời kỳ sau, chúng tôi xem xét đến thời điểm việc mở rộng lãnh thổ được triển khai; Thời kỳ sau Trịnh Nguyễn phân tranh, bài viết sẽ xem xét đến khi Pháp tiến vào ngăn chặn việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam.

THỜI KỲ TRƯỚC KHI PHÂN CHIA NAM BẮC

Ngay sau thời kỳ Bắc thuộc tức là sau thời kỳ thuộc địa của Trung Quốc thì ranh giới phía Nam của Việt Nam là Hà Tĩnh. Lợi dụng lúc nước Đường khó giữ được An Nam bởi tình hình hỗn loạn nghiêm trọng cuối thời Đường như sự xâm chiếm Java, Chiêm Thành, Nam Triều, Campuchia và sự nổi dậy của An Nam… cũng là lúc mà Chiêm Thành đang ở trong thời kỳ hưng thịnh mở rộng lãnh thổ từ Ai Vân (còn gọi là Hải Vân) đến Hoành Sơn, nay được phỏng đoán là đã quyết định Indrapura của huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam làm thủ đô (4).

Lãnh thổ Việt Nam năm 1100.

Việc mở rộng lãnh thổ về phía Nam được bắt đầu từ thời kỳ Việt Nam có vương triều độc lập. Nhưng vì thời gian tồn tại của Ngô, Đinh, Tiền Lê ngắn và chưa được vững vàng, thiếu chuẩn bị nên lãnh thổ không có thay đổi gì kể cả phía Nam. Trong 3 triều đại kể trên thì triều đại Tiền Lê đã viễn chinh đến thủ đô của Chiêm Thành nhưng không thể mở rộng được lãnh thổ. Nhưng kể từ đấy, Chiêm Thành đã trở thành nước triều cống của Việt Nam (5).

Trong lịch sử Việt Nam, việc mở rộng lãnh thổ về phía Nam được bắt đầu từ năm 1069 dưới triều đại Lý – triều đại đầu tiên có thời gian tồn tại lâu nhất. Kết quả là Chiêm Thành đã nhường 3 châu Bố Chánh, Địa Lý, Ma Linh (6). Căn cứ vùng đất thuộc Địa Lý ở huyện Lê Ninh, tỉnh Quảng Bình, Ma Linh ở huyện Bến Hải, tỉnh Quảng Trị, Bố Chính ở huyện Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hóa tỉnh Quảng Bình thì có thể nói là triều đại Lý đã mở rộng lãnh thổ phía Nam đến tỉnh Quảng Trị ngày nay. Năm 1075, Địa Lý và Ma Linh đã đổi tên thành châu Lâm Bình và Minh Linh (7). Năm 1104, với sự xâm lược của Chiêm Thành 3 châu này bị chiếm mất nhưng ngay sau đó với sự tấn công của Lý Thường Kiệt, Việt Nam đã giành lại được (8).

Năm 1307, thông qua cuộc hôn nhân với Chế Mân –vua của Chiêm Thành, Trần Nhân Tông đã nhận được châu Ô, Lý. Đại Việt sử ký toàn thư có ghi “Trước đây vua Chiêm Thành là Chế Mân đem đất đó làm lễ vật dẫn cưới, dân các thôn La Thủy, Tác Hồng, Đà Bồng không phục, vua bèn sai Đoàn Nhữ Hài đến đó để tuyên thị đức ý của triều đình, chọn dân ở đấy ban cho chức quan, cấp cho ruộng vườn, miễn tô thuế 3 năm để vỗ về” (9).

Trong lịch sử chinh phục Chiêm Thành của Việt Nam, việc nhận được lãnh thổ do nhà trai cho nhà gái là việc lấy lãnh thổ thông qua quan hệ hữu nghị (10). Chúng tôi sẽ đề cập sau, trong lịch sử cũng có sự kiện tương tự như thế nhưng lại kết thúc bởi sự di trú của người dân thông qua quan hệ hôn nhân. Năm sau đó, triều đại nhà Trần đã đổi vùng đất này thành Thuận Châu (bây giờ là Quảng Trị), Hóa Châu (bây giờ là Thừa Thiên Huế) (11). Triều đại nhà Trần vì phải đương đầu với 3 cuộc xâm lược kéo dài và quyết liệt của quân Mông Cổ nên cũng như các triều đại trước và sau đó, ngoài trường hợp trên, Việt Nam không nhận được một tất đất nào từ Champa. Ngược lại, do bị tổn thất nặng nề trong thời kỳ chiến tranh chống Mông Cổ và sự mạnh lên của Chiêm Thành, Thăng Long đã vài lần phải lâm vào thế tự vệ và thậm chí năm 1368 còn bị Chiêm Thành yêu cầu trả lại châu Hóa – một phần trong lãnh thổ là lễ vật hôn thú trước đây.

Tháng 2 năm 1368, Chiêm Thành sai Mục Bà Ma sang đòi lại đất biên giới Hóa Châu” (12).

Với yêu cầu này của Chiêm Thành, trước hết nhờ sức mạnh sẵn có nhưng Việt Nam còn có tư cách đòi phạt hay bồi thường đối với một phần lễ hôn thú bị mất. Kết hôn chưa được một năm thì vua Chiêm Thành mất, theo phong tục Suttee của Ấn Độ, công chúa phải chết cùng với vua, phía Việt Nam đã dùng mưu lược phục thù nhằm cứu công chúa (13).

Việc mở rộng lãnh thổ về phía Nam cũng được tiếp tục với triều Hồ. Năm 1402, nhà Hồ xâm chiếm Chiêm Thành và nhận được Chiêm Động chia thành hai châu Thăng và Hóa; đồng thời nhận được Cổ Lũy chia thành 2 châu Tư và Nghĩa 14. Châu Thăng và Hóa ngày nay thuộc huyện Duy Sơn, Quế Sơn, Tam Kỳ Thăng Bình của tỉnh Quảng Nam, Châu Tư và Nghĩa nay thuộc huyện Đức Phổ, Mộ Đức, Tư Nghĩa, Sơn Tịnh, Bình Sơn của tỉnh Quảng Ngãi. Điều này có nghĩa là lãnh thổ phía Nam Việt Nam được mở rộng đến Quảng Nam và Quảng Ngãi.

Nhưng khi nhà Minh cai trị thì khu vực này bị Chiêm Thành chiếm lại. Đại Việt sử ký toàn thư có ghi “Minh Vĩnh Lạc thứ 12, Phủ Thăng Hoa tuy có đặt quan, nhưng Chiêm Thành vẫn có trưởng lộ chiếm giữ, nên nhà Minh chỉ ghi tên không mà thôi (15). Đào Duy Anh đã lấy ở Hoàng Minh thực lực và đưa ra bằng chứng về điều này “Năm Vĩnh Lạc thứ 13, tháng 11, vua nước Chiêm Thành là Chiêm Ba Dịch Lai… lại xâm đoạt đất 4 châu 11 huyện thuộc phủ Thăng Hoa đuổi cướp nhân dân” (16).

Trong lịch sử Việt Nam, triều đại hậu Lê là triều đại có được nhiều lãnh thổ nhất. Kết quả là Việt Nam có lãnh thổ gồm phần phía Nam ngày nay. Việc mở rộng lãnh thổ của triều đại hậu Lê có thể chia thành 100 năm hưng thịnh và 260 năm suy vong. Ở chương này chủ yếu tập trung vào thời kỳ hưng thịnh.

Năm 1470, Lê Thánh Tông đem 26 vạn đại quân chiếm Chiêm Thành và năm 1471 đã lấy lại 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa bị mất trong thời gian cai trị của nhà Minh đặt tên gọi là Quãng Nam thừa tuyên (17). Ngoài ra, qua cuộc viễn chinh này, vua Lê Thánh Tông đã chiếm được vùng đất từ Hoài Nhân đến đèo Cù Mông (18). Do đó, Việt Nam đã mở rộng lãnh thổ đến Bình Định ngày nay, và năm 1490 đưa Quảng Nam và Thăng Hoa nhập vào lãnh thổ đã chiếm được (19).

Cuộc viễn chinh lớn vào năm 1470 đã giúp cho Việt Nam sau này có bàn đạp để có thể dễ dàng hợp nhất Chiêm Thành. Ngoài lãnh thổ chiếm được, Việt Nam chia Chiêm Thành thành 3 khu vực Nam Bàn, Hoa Anh, Phiên Lung vốn đã chịu nhiều thất bại nặng nề (20) để có thể dễ dàng hợp nhất khu vực này vào bất cứ lúc nào. Cụ thể là Việt Nam cho Nam Bàn nhập vào Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc; Hòa Anh vào Phú Yên, Khánh Hòa; Phiên Luân vào Ninh Thuận thuộc Phan Rang. Việt Nam đã phân ly Chiêm Thành thành 3 vùng ban sắc phong cho 3 vua và đặt nền móng cho việc hợp nhất Chiêm Thành. Ngoài ra, trong thời kỳ hưng thịnh triều đại hậu Lê cũng đã mở rộng lãnh thổ về phía Tây. Khác với cách xâm lược và hợp nhất như khi mở rộng lãnh thổ ở phía Nam, ở đây có tính chất lệ thuộc và hợp nhất nhiều hơn.

Vào năm 1353, Angcowat độc lập, ở vương quốc Lan Xang của Lào có bộ lạc Bồn Man ở khu vực trung tâm Quảng Bình thuộc Sơn La – vùng tiếp giáp với biên giới Việt Nam. Tộc họ Câm cai trị khu vực này nhiều đời và có quan hệ đối ngoại với Việt Nam từ thế kỷ 15. Năm 1447, theo đề nghị quy phục của Bồn Man, Việt Nam đã tiếp thu điều này và đổi thành châu Quy Hợp (21) nhập vào phủ Lâm An (22). Cho dù bị quy phục Việt Nam nhưng cũng như lúc quy phục Lan Xang, vùng này vẫn được công nhận là tự trị như trước (23). Đất này bị hợp nhất cho đến khi Việt Nam bị Pháp xâm chiếm.

Sau vương triều độc lập, đến thời kỳ hưng thịnh của triều đại hậu Lê, việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam được tiến hành trong điều kiện năng lực quốc gia yếu kém. Cho dù là triều đại độc lập, nhưng thời kỳ Ngô, Đinh, tiền Lê ở trong tình thế bị đóng khung trong một quốc gia, thời nhà Trần thì tuy là một đất nước có một không hai trên thế giới có khả năng đẩy lùi quân Mông Cổ 3 lần nhưng vì hậu quả chiến tranh, gặp phải nhiều khó khăn nên không thể tiến hành mở rộng lãnh thổ bằng vũ lực.

Việc mở rộng lãnh thổ có tính cách hợp nhất vĩnh viễn đã đẩy mạnh sự phát triển của Việt Nam thông qua sự di trú của người Việt và chính sách phái quan lại người Việt làm quản lý và tiến hành Việt Nam hóa người bản địa. Với sự lệ thuộc của Bồn Man, lãnh thổ của Lào được sát nhập vào lãnh thổ Việt Nam và tuy chính sách phát triển thông qua sự di trú của người dân như ở phía Nam cho dù không được thực hiện nhưng Việt Nam phái người quản lý tới địa phương để trực tiếp quản lý đã cho thấy tính chất chiếm lĩnh vĩnh viễn ở đây. Để dàn xếp sự chống đối của Bồn Man, từ năm 1460 Lê Thánh Tông đã nhiều lần gửi quân đội đến trấn áp, thậm chí tháng 8 năm 1479 đã điều động 18 vạn đại quân bình định đến Luang Prahang (24). Năm 1474, chính sách di trú người Việt tới khu vực Chiêm Thành ra sắc chỉ rằng: Tù nhân bị tội lưu, ở châu gần thì sung làm quân vệ Thăng Hoa, ở châu ngoài thì sung làm quân vệ Tư Nghĩa, ở châu gần thì sung làm quân vệ Hoài Nhân, những kẻ được tha tội cũng sung làm quân vệ Hoài Nhân (25).

Đặc trưng của việc mở rộng lãnh thổ trong thời gian này có khác với thời kỳ suy thoái là đối tượng mở rộng lãnh thổ là ngoài một phần của Lào ra chỉ giới hạn trong khu vực Chiêm Thành. Kết quả là Chiêm Thành ở vùng đệm nên có thể duy trì quan hệ đối ngoại giữa Thái Lan, Campuchia với Việt Nam. Nhưng thời kỳ sau, đối tượng mở rộng lãnh thổ đến cả Campuchia, quan hệ giữa Việt Nam – Campuchia hay Việt Nam – Thái Lan trở thành mối quan hệ đối lập sâu sắc, thậm chí Campuchia là trục chiến lược trong sự cạnh tranh của Việt Nam và Thái Lan.

THỜI KỲ SAU PHÂN CHIA NAM BẮC

Việc mở rộng lãnh thổ trong lịch sử Việt Nam được thực hiện sôi động, nhanh và trong phạm vi rộng lớn nhất là vào thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh. Việc mở rộng lãnh thổ trong thời kỳ này hay được triển khai với mục đích cơ bản vốn có nhưng có thể thấy được sự khác nhau với thời kỳ trước ở chỗ được tiến hành trong sự chia rẽ và đối lập sâu sắc về quyền lực. Việc mở rộng lãnh thổ trong thời gian này không được triển khai qua thời gian lâu dài như thời kỳ trước mà được thực hiện trong thời gian ngắn khoảng 250 năm. Dĩ nhiên có khả năng là vì đã chuẩn bị bàn đạp trong thời kỳ trước. Giống như khi xem xét thời gian tồn tại dài hay ngắn của một vương quốc, thông qua việc mở rộng lãnh thổ cũng có thể nhìn thấy được sức mạnh của quốc gia và tổn thất của Chiêm Thành.

Một mặt, việc mở rộng lãnh thổ ở thời kỳ sau phân chia Nam Bắc được thực hiện thông qua việc hợp nhất hoàn toàn Chiêm Thành và sự mở rộng về phía Campuchia đã kéo theo sự căng thẳng sâu sắc trong quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia và dĩ nhiên ảnh hưởng tới cả quan hệ Campuchia và Thái Lan. Kết quả là ngày nay, đối ngoại giữa 3 nước, đặc biệt Việt Nam – Campuchia hay Thái Lan – Campuchia vẫn còn chịu ảnh hưởng không nhỏ (26).

Để thoát khỏi sự uy hiếp của chúa Trịnh, chúa Nguyễn đi xuống phía Nam thúc đẩy chính sách một cách năng động như chính sách đối ngoại thông thương, chính sách mở rộng lãnh thổ để xây dựng sức mạnh nhằm khôi phục quyền lực đã mất(27).

Do đó, việc mở rộng lãnh thổ của chúa Nguyễn tiếp tục được thúc đẩy không quan tâm đến thời gian 7 lần phân tranh với chúa Trịnh như trích đoạn dưới đây.

Năm 1611, quân Chiêm Thành xâm lấn biên giới. Chúa sai chủ sự là Văn Phong (không rõ họ) đem quân đi đánh lấy được đất ấy, bèn đặt làm một phủ, cho hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa lệ thuộc vào. Nhân sai Văn Phong làm lưu thủ đất ấy (28).

Sự kiện năm 1611 đã chứng minh rằng khác với thời kỳ đầu, đặc trưng của thời kỳ sau là chiếm lĩnh đồng thời sát nhập và hợp nhất lãnh thổ. Đặc trưng này cũng có thể thấy được qua sự kiện xảy ra vào năm 1653. “Vua nước Chiêm Thành là Bà Tấm quấy rối đất Phú Yên. Sai cai cơ Hùng Lộc hầu làm tổng binh và xá sai Minh võ làm tham mưu đem 3000 quân đi đánh. Đến phủ Phú Yên, ngày 3 tháng 4, nhân đêm qua đèo Hổ Dương núi Thạch Bi, ruổi thẳng đến trại của Bà Tấm, phóng lửa đánh gấp, phá tan, đuổi dài đến sông Phan Lang. Bà Tấm sai con là Xác Bà Ân nộp lễ xin hàng. Phúc Tần cho, bắt chia đại giới, lấy đất tự phía đông sông ấy đến Phú Yên đặt làm hai phủ Thái Khang và Diên Ninh, đặt dinh trấn thủ Thái Khang, phía Tây sông vẫn là nước Chiêm Thành, khiến giữ bờ cõi mà nộp cống”. (29) Thái Khang và Diên Ninh bây giờ là Ninh Hòa và Diên Khánh, lúc này lãnh thổ của Việt Nam được mở rộng đến Khánh Hòa.

Tháng 8 năm 1692, chúa Nguyễn chiếm Chiêm Thành và nhân cơ hội chiếm Diên Ninh của Chiêm Thành và tháng 3 năm sau đã bắt được vua Chiêm Thành là Bà Tranh. Lúc này, chúa Nguyễn đã đổi tên Chiêm Thành là Thuận Thành. Chúa Nguyễn đã sai cai đội Nguyễn Trí Thắng, cai cơ Nguyễn Tân Lễ, cai đội Chu Kiêm Thắng đến Phố Hài, Phan Rí, Phan Rang thuộc Bình Thuận ngày này để phòng ngự tàn đảng của Thuận Thành (30).

Đất nước Chiêm Thành đến bây giờ đã hoàn toàn bị biến mất trên bản đồ. Chiêm Thành đã bị hợp nhất hoàn toàn vào Việt Nam năm 1697 nhưng trên thực tế, với tư cách là một quốc gia thì đã bị xóa bỏ vào năm 1693.

Việt Nam năm 1650.

Tháng 8 năm 1693, đổi trấn Thuận Thành làm phủ Bình Thuận, lấy tả trà viên Kế Bà Tử làm khám lý, ba người con Bà Ân làm đề đốc, đề lãnh và cai phủ, bắt mặc quần áo theo lối người kinh và sai về để vỗ yên lòng dân” (31) Việc lấy người Chiêm Thành cai trị người Chiêm Thành thế này là hình thức mà lịch sử Việt Nam đã đối xử với tất cả các dân tộc thiểu số từ trước đến nay. Công nhận sự tự trị nhưng có nghĩa là tự trị dưới cơ cấu cai trị dạng piramid trong quốc gia. Do đó, kể từ bây giờ Chiêm Thành đã trở thành một dân tộc thiểu số của Việt Nam.

Nhưng việc loại trừ hoàn toàn Chiêm Thành làm chúa Nguyễn gặp nhiều khó khăn và trở thành gánh nặng. Từ tháng 12 năm 1693 đến tháng 2 năm sau, người Thanh A Ban và người Chiêm Thành Oc Nha That liên kết với nhau gây ra phản loạn ở Thuận Thành; Tháng 9 năm 1695 người lái buôn Lính đã liên kết Quy Ninh và Quảng Phú ở Quảng Ngãi gây phản loạn; tháng 3 năm 1697, 5 sách huyện Phú Vang nổi dậy… là những ví dụ có thật gây khó khăn cho chúa Nguyễn (32).

Sau khi chiếm Chiêm Thành vào năm 1693, chúa Nguyễn đã thi hành một số chính sách để giảm thiểu gánh nặng và những mối lo lắng đó. Thứ nhất, hợp nhất hoàn toàn đất chiếm lĩnh Thuận Thành vào lãnh thổ của mình, đặt theo hình thức trấn hơn là đơn vị hành chính. Cho dù đã đặt lãnh, phủ, huyện, tổng, tư là đơn vị hành chính địa phương đối với khu vực đồng bằng của chúa Nguyễn lúc đó nhưng chúa Nguyễn đã không áp đặt mà đặt Thuận Thành là trấn. Đây cũng là hình thức cai trị dân tộc thiểu số trong quá khứ. Do đó, ngoài việc dùng phương pháp cực đoan là đàn áp phản loạn, vào tháng 8 năm 1693, chúa Nguyễn đã đổi trấn Thuận Thành thành phủ Bình Thuận rồi tháng năm năm sau lại đổi thành trấn Thuận Thành (33).

Thứ hai, như đã viết ở trên, chúa Nguyễn đã thi hành chính sách đồng hóa hay lấy người Chiêm Thành cai trị người Chiêm Thành. Với phương pháp cụ thể hơn đối với điều này chúa Nguyễn đã dùng Kế Ba Tư làm tả đô đốc của phủ Thuận Thành và tiếp tục cai trị nơi này, đã nộp cống ông ta bởi phiên vương của trấn Thuận Thành và thu thập quân dân nộp cống hằng năm, và đã trả lại những vật lấy được trong cuộc chiến như ấn, gươm, yên, ngựa và những người bị bắt trước đây. Lúc này chúa Nguyễn đã chỉ định những danh sách nộp cống cho Việt Nam là voi đức 2 thớt, bò vàng 20 con, ngà voi 6 cái, sừng tê 10 tòa, khăn vải trắng 500 bức, sáp ong 50 cân, da cá 20 tấm, cát sủi 400 thúng, chiếu tre trắng 500 lá, gỗ mun 200 cây, thuyền dài 1 chiếc (34).

Việc quy định đối với các vật nộp cống và dâng phiên vương có thể nói là một điển hình trong việc nâng cao vị thế so với các nước nhỏ xung quanh của Việt Nam. Cho đến bây giờ khi xem xét đến thông lệ ban sắc phong cho các tù trưởng các dân tộc thiểu số thì có thể thấy đó là mắt xích trong chính sách hợp nhất Chiêm Thành như đã nêu. Khi so sánh thời gian tồn tại hay diện tích lãnh thổ, chính sách thôn tính một quốc gia có thế lực không thua kém mình là một sách lược chính trị khổ nhục.

Nhưng vào năm 1697, Việt Nam đổi trấn Thuận Thành thành Bình Thuận và sát nhập vào một đơn vị hành chính của Việt Nam đồng thời hợp nhất lãnh thổ còn lại của Chiêm Thành từ Phan Rang đến Phan Rí đổi thành 2 huyện An Phuc và Hoa Da rồi sát nhập vào Bình Thuận nên dấu tích của Chiêm Thành hoàn toàn đã bị xóa bỏ trên bản đồ (35).

Việc hợp nhất hoàn toàn Chiêm Thành thể hiện sự vững vàng của một quốc gia thống trị nhưng cũng cho thấy đây là một mắt xích trong việc thực hiện ý định hợp nhất Campuchia có chung đường biên giới. Kể từ trước đó rất lâu, khi trấn Thuận Thành và Phan Rang, Phan Rí vẫn còn là khu vực tự trị của Chiêm Thành, sự tiến vào Campuchia của Việt Nam đã được thúc đẩy qua việc lợi dụng những người di cư của nước Minh để phát triển lãnh thổ Campuchia nhưng lúc này thì Việt Nam không còn lý do gì để tiếp tục giữ chế độ tự trị ở khu vực này. Việc chia rẽ mục đích chính sách này mất cân bằng đối với nhiều dân tộc thiểu số và dân tộc Khơme của Campuchia.

Tham vọng mở rộng lãnh thổ của Chúa Nguyễn không dừng lại ở Chiêm Thành. Điều đó có thể nhìn thấy được vào năm 1621, chúa Nguyễn đã có quan hệ hôn thú với đời thứ 2 Chey Chettha của Campuchia (36). Lúc đó, chúa Nguyễn đã yêu cầu vua Campuchia cho người Việt Nam di trú tự nhiên, di trú Thủy Chấn Lạp với những hình thức miễn thuế, thương mại, phát triển. Kết quả là việc di trú đến Campuchia của người Việt Nam được bắt đầu từ tỉnh Đồng Nai và Mỗi Xoài thuộc Bà Rịa, Vũng Tàu bây giờ (37).

Lúc đó Campuchia lệ thuộc vào vương quốc Ayuthaya của Thái Lan đã mượn sức mạnh của Việt Nam để thoát khỏi sự cai trị của Thái, Việt Nam đã có được cơ hội tiến vào Campuchia một cách hợp pháp và đồng thời trên cơ sở đó, đã có được cơ hội tuyệt vời để có thể cản trở sự tiến vào Campuchia của Thái và xâm chiếm lãnh thổ Campuchia (38). Sau đó, dưới chính sách ngoại giao cận Việt viễn Thái của Campuchia (chữ Hán), năm 1658, lần đầu tiên Việt Nam có cơ hội gửi quân đội theo yêu cầu của Campuchia để giải quyết phân tranh vương vị và kết quả là nhận được sự cư trú hợp pháp ở Mỗi Xoài, Đồng Nai và nộp cống, thần phục từ Campuchia (39).

Vào năm 1674, Việt Nam đã gửi quân đội đến Campuchia lần thứ hai để giải quyết tranh chấp vương vị và có thể bước một bước sâu hơn vào việc hợp nhất lãnh thổ Campuchia bằng cách đặt ra chế độ chính vương và phó vương (chữ Hán). Lúc này, phó vương sống ở Sài Gòn. Trên cơ sở này, vào tháng 1 năm 1679 Việt Nam đã đem 50 chiến thuyền với hơn 3 nghìn quân, lợi dụng những người quản lý của nước Minh Trung Quốc đầu hàng như Dương Ngan Địch, Hoàng Tiến, Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình … tiến hành thực hiện việc phát triển Mỹ Tho và Biên Hòa (40). Những khu vực này là kết quả chiến thắng trong cuộc phân tranh vũ lực với Thái trên lãnh thổ Campuchia của Việt Nam, vì một phần thuộc khu vực mà Nạc Ông Nộn được bổ nhiệm cai trị, nên Việt Nam có thể định cư ở đó. Năm 1679, do chính vương và phó vương của Campuchia xung đột, Việt Nam và Thái đều gửi quân đội can thiệp nên chiến tranh đã xảy ra, Việt Nam đã hoàn toàn không thể đưa ra các giải quyết vấn đề này.

Những người có thế lực khai phá đất, xây dựng thành Đông Phố và biến nơi đây thành nơi thương mại quốc tế đông đúc với những chiếc thuyền của nhà Thanh – phương Tây – Nhật – Java. Thời điểm này, có thể nói ngoài người Việt Nam ra, người Trung Quốc cũng phát triển Thủy Chân Lạp. Vào năm 1680, việc phát triển Thủy Chân Lạp dựa vào Mạc Cửu người Quảng Đông Trung Quốc. Ông ta được bổ nhiệm làm quản lý của Campuchia và đã phát triển Phú Quốc, Cần Bọt, Gia Khê, Luỗng Cây, Hương Úc, Cà Mau (41). Ở đây, vào năm 1810 đã đổi thành trấn Hà Tiên rồi năm 1831 đổi thành tỉnh Hà Tiên.

Năm 1688, với cuộc phản loạn của Hoàng Tiến đã trở thành cơ hội cho Việt Nam thực hiện hợp nhất lãnh thổ Campuchia. Hoàng Tiến gây ra phản loạn, quốc vương của Campuchia Nặc Ông Thu đã từ chối thần phục và nộp cống cho Việt Nam và dương ngọn cờ phản loạn. Việt Nam đã gửi quân vào Sài Gòn để bình định việc này nhưng không thành công. Tuy nhiên, trong trong một thời gian dài nắm giữ, Việt Nam thực sự đã có ảnh hưởng ở khu vực này. Tiếp đó, năm 1691, người có thực quyền ở đây là phó vương Nặc Ông Nộn tử vong đã tạo ra một khoảng trống quyền lực đã xúc tiến quá trình hợp nhất của Việt Nam ở khu vực này. Trên cơ sở đó, từ năm 1698, bắt đầu hợp nhất khu vực Gia Định khai thác được dựa vào người Trung Quốc và người bản xứ trước đây.

Năm 1698 là năm sau khi Việt Nam hoàn toàn hợp nhất Chiêm Thành. Điều này rất quan trọng vì thể hiện được tính quan hệ tương hỗ trong việc hợp nhất Chiêm Thành và Campuchia của Việt Nam. Tức là, trước năm 1698, Việt Nam có thể lợi dụng khoảng trống cai trị của Campuchia trên mảnh đất do người Trung Quốc và người bản xứ khai phát và hợp nhất nhưng trong khi chưa hợp nhất hoàn toàn Chiêm Thành nên có thể gặp nhiều khó khăn; hoặc trong trường hợp đã hợp nhất hoàn toàn Chiêm Thành nhưng có khả năng xảy ra phản loạn và chống đối nên có thể cho rằng sức lực sẽ bị phân tán nên đã không thực hiện và chuẩn bị cho đến năm 1698 mới tiến hành hợp nhất Campuchia.

Bắt đầu đặt phủ Gia Định. Sai thống suất Nguyễn Hữu Kính kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, mỗi dinh đều đặt các chức lưu thủ, cai bạ, ký lục và cơ độ thuyền thủy bộ tinh binh và thuộc binh. Mở rộng đất được nghìn dặm, được hơn 4 vạn hộ, bèn chiêu mộ những dân xiêu dạt từ Bố Chính trở về nam cho đến ở cho đông. Thiết lập xã thôn phường ấp, chia cắt giới phận, khai khẩn ruộng nương, định lệ thuế to dung, làm sổ đinh điền. Lại lấy người Thanh đến buôn bán ở xã Minh Hương. Từ đó người Thanh ở buôn bán đều thành dân hộ của ta” (42).

Nội dung trên cho thấy việc hợp nhất lãnh thổ Campuchia của Việt Nam khác với phương pháp hợp nhất Chiêm Thành trong thời kỳ trước. Khi hợp nhất lãnh thổ của Chiêm Thành, đa số dùng phương pháp chiếm bằng vũ lực nhưng khi hợp nhất lãnh thổ Campuchia thì lợi dụng người trong nước hay người nước ngoài trước hết là khai thác rồi lợi dụng khi quyền lực cai trị của Campuchia yếu đi thì hợp nhất một cách tự nhiên. Không những thế, ở đây còn cho thấy sự ưu tiên phương pháp nhận lãnh thổ bằng cách hỗ trợ giải quyết nội chiến của Campuchia hơn là dùng vũ lực trực tiếp.

Vào năm 1708, Mạc Cửu cảm thấy bất an với nội tình của Campuchia, nhờ thần phục Việt Nam mới có được đường biên giới của Campuchia bây giờ còn Việt Nam thì có được khu vực ở phía cực nam bao gồm đảo Phú Quốc, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu (43). Khu vực này là một trong 6 tỉnh thuộc tỉnh Hà Tiên thời nhà Nguyễn. Điều này cũng như đã đề cập ở trên cho thấy hình thức hợp nhất không liên quan đến vũ lực của Việt Nam.

Do đó, trong 6 tỉnh, Việt Nam đã hợp nhất 3 tỉnh là Biên Hòa, Gia Định, Hà Tiên. Ba tỉnh còn lại vẫn trong tình trạng chưa hợp nhất được là Định Tường, Vĩnh Long, An Giang. Ba tỉnh này ở trong địa thế hình răng cưa, nằm xem kẽ giữa hai tỉnh Biên Hòa – Gia Định và tỉnh Hà Tiên. Vì thế, để bảo tồn tỉnh Hà Tiên ở vị trí xa nên việc hợp nhất 3 tỉnh còn lại là một việc cần thiết. Do đó qua 3 lần liên tiếp thực hiện hợp nhất, khu vực này được hợp nhất với phương pháp khác với trước đây là bằng vũ lực.

Lần thứ 1, năm 1732, Việt Nam đã gửi quân đội tới, lấy Mỹ Tho, Sa Đéc ở phía Tây Gia Định, và đặt châu Định Viễn, lĩnh Long Hồ (44). Những khu vực này thuộc tỉnh Định Tường. Những khu vực này bây giờ thuộc tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp. Với cơ hội này, vào năm 1744 chúa Nguyễn đã xác lập khu vực hành chính với cơ cấu 12 lĩnh và 1 trấn (45).

Lần thứ 2 cũng dành được thành quả bằng vũ lực. Chúa Nguyễn đã hai lần viễn chinh Campuchia vào năm 1753 và 1755 do hiệp ước quan hệ của chúa Trịnh và YuRin Côn Man của Nạc Ông Nguyên là vua Campuchia. Lúc này Nạc Ông Nguyên tị nạn ở Hà Tiên và năm 1756, đưa Mạc Thiên Tứ đề nghị thần phục và nộp cống cho chúa Nguyễn và đã dâng 2 phủ Tam Bon, Loi Lap (46). Nơi này giáp với tỉnh Định Tường thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Lần cuối cùng, năm 1757, trong quá trình lên ngôi, vua Cao Miên nhận sự giúp đỡ đã nhận từ Nạc Ông Tôn 2 phủ Trà Vinh, Ba Thắc và Tầm Phong Long (47). Trong 6 tỉnh, những khu vực này thuộc tỉnh An Giang. Do đó, Việt Nam đã xác lập được lãnh thổ phía Nam bây giờ.

Đối với sự kiện của năm 1757, khi xem xét biên giới lãnh thổ Việt Nam qua ghi chép là “Năm 1757, Nạc Ông Nguyên nước Chân Lạp chết. Người chú họ là Nạc Nhuân Tạm coi việc nước. Biên thần tâu xin nhân đó lập Nhuận để tỏ ân nghĩa, cho vững biên cương. Chúa bắt phải hiến hai phủ Trà Vinh, Ba Thắc, rồi sau mới y cho …” (48) chúng ta có thể thấy rõ hơn. Nói cách khác, cho dù đã hợp nhất Định Tường và Vĩnh Long nhưng dưới thời chúa Nguyễn, không có tỉnh An Giang nên Châu Đốc, Cần Thơ, Sóc Trăng có địa thế như răng rụng nên Việt Nam cần có được vùng này với cái giá là phải can thiệp chính trị.

Ngoài ra, cùng năm 1757, Việt Nam đã được vua Camphuchia Nạc Ông Tôn dâng 5 phủ Hương Úc, Cần Bọt, Chân Sum, Sài Mạt, Linh Quỳnh (49). Khu vực này tiếp giáp với Hà Tiên nhưng trong thời gian vua Tự Đức tại vị đã trả lại cho Campuchia (50).

Việc mở rộng lãnh thổ phía Nam của chúa Nguyễn đã gặp phải một số yếu tố nên phải tạm dừng ở đây. Thứ nhất, do sức lực quốc gia của chúa Nguyễn bị yếu đi nên không đủ nội lực để mở rộng lãnh thổ hơn nữa. Thứ hai, trong thời gian ngắn không đủ năng lực để khai thác quản lý lãnh thổ tăng nhiều (51).

Việc mở rộng lãnh thổ về phía nam của Việt Nam cũng được tiếp tục dưới triều đại cuối cùng trong lịch sử Việt Nam là triều đại nhà Nguyễn. Như đã đề cập ở trên, Việt Nam đã hợp nhất một phần lãnh thổ của Lào tiếp giáp với khu vực từ Quảng Bình tới Lạng Sơn, đã gửi quân đi 6 phủ và bổ nhiệm làm tộc trưởng ở đây theo hình thức cai trị gián tiếp. Khi xem xét đến nhiều điều kiện như chính trị – kinh tế – địa chính học, Việt Nam tiếp tục thúc đẩy hợp nhất Cao Miên để dành lợi cho quốc gia, và kết quả là năm 1835, Chân Lạp – quốc hiệu của Cao Miên đã đổi thành Chân Tây Thành và lập 2 huyện, 32 phủ (52). Nhưng cuộc xung đột dành quyền cai trị Campuchia giữa Việt Nam và Thái kéo dài, cộng với việc phản đối sự cai trị của Việt Nam trên toàn Campuchia và các cuộc phản loạn trong nước nên đã đẩy Việt Nam vào thế bất lợi. Cho nên, năm 1847, Việt Nam đã ký hiệp định với Thái và rút quân. Do đó, cho đến khi Việt Nam và Campuchia đều trở thành thuộc địa của Pháp thì Campuchia chỉ duy trì mối quan hệ nộp cống cho Việt Nam (53). Qua đây, có thể thấy việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam được điều khiển bởi Thái và Pháp. Nếu giả định trường hợp Pháp không tiến hành xâm lược hay không có mâu thuẫn với Thái thì Việt Nam đã có được một vùng rộng lớn trong lãnh thổ của Lào và Campuchia.

Mốc thời gian của quá trình mở rộng xuống phía Nam của Việt Nam.

KẾT LUẬN

Việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam cho thấy một quy luật điển hình trong lịch sử nhân loại là cá lớn nuốt cá bé. Việt Nam đã không ngừng đấu tranh trong trường kỳ lịch sử để sinh tồn bên cạnh một Trung Quốc mạnh hơn mình nhưng ngược lại cũng tiến hành chinh phục Chiêm Thành và Campuchia yếu hơn. Điều này thể hiện hai mặt trong đặc trưng lịch sử của Việt Nam là chủ nghĩa dân chủ đấu tranh và chủ nghĩa dân chủ xâm lược.

Việt Nam đã trải qua quá trình dân chủ đấu tranh và bồi dưỡng sức mạnh quốc gia rồi trên cơ sở đó hướng đến chủ nghĩa dân chủ xâm lược và kết quả là xác lập được lãnh thổ phía Nam bây giờ.

Việc mở rộng lãnh thổ về phía Nam đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là trong việc sản xuất ngũ cốc. Ngoài khí hậu nhiệt đới gió mùa có lượng mưa và lượng nắng nhiều thì vùng này còn có tài nguyên phong phú và đất đai màu mỡ và rộng lớn.

Ở đây cũng không thể bỏ qua sự đóng góp của người dân di trú Trung Quốc. Trong khi không đủ nhân lực phát triển thì việc tham gia của người dân Trung Quốc đã giảm bớt đi gánh nặng cho người dân Việt Nam, thúc đẩy sự phát triển thương mại của phía Nam và đã tăng cường tính đặc trưng đa văn hóa – đa dân tộc của Việt Nam.

Liên quan đến việc tăng cường tính đặc trưng đa văn hóa – đa dân tộc của Việt Nam không thể loại trừ vai trò của Campuchia. Việc hợp nhất Thủy Chân Lạp tức 6 tỉnh phía Nam dành được ngoài mảnh đất màu mỡ và rộng lớn còn có được dân tộc Khơme đông nhất trong 54 dân tộc đã biến Việt Nam từ một nước có văn hóa Phật giáo Đại thừa sang một nước văn hóa Phật giáo Tiểu thừa.

Đồng thời, việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam cũng là một trường hợp điển hình minh chứng cho quy luật lịch sử “giữa các nước láng giềng không có quan hệ tốt ”. Nếu như quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc mới được tái lập vào năm 1991 thì quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Campuchia cũng không được mặn mà khi 20 vạn quân Việt Nam rút lui khỏi Campuchia dưới áp lực của chủ nghĩa tư bản đứng đầu là Mỹ vào năm 1989. Quan hệ giữa Việt Nam và Thái cũng đối lập sâu sắc trong việc gây ảnh hưởng trên đất Campuchia. Xét trên quan điểm địa chính học, quan hệ giữa Việt Nam và Lào có thể là một dị biệt nhưng xét cho cùng thì có thể cũng không khác với những mối quan hệ nước láng giềng đã nêu trên.

Chú thích:

2 Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, T.III, Nxb Giáo dục, H.1961, p.484.

3 Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Văn hóa, H.2006; Nguyễn Đình Đầu, Việt Nam quốc hiệu và cương vực qua các thời đại, Nxb BT, 2003; Song Jung Nam, A study on the land system and territorial expansion in southern part of Vietnam: from the mid – 16 century to 18 century SHPS T 36, 1999; Song Jung Nam, The Name and Territory of Vietnam NCĐNA 16 – 2, 2007.

4 Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, p.227.

5 Đại Việt sử ký toàn thư, T.I, Nxb KHXH, H.1998, p.228 tham khảo; Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb KHXH, H.1997, p.174 tham khảo; Song Jung Nam, Lịch sử Việt Nam, Nxb ĐHPS, 2001, p.134.

6 Đại Việt sử ký toàn thư, T.I, Sđd, pp.274 – 275; Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, p.238; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, T.I, Nxb KHXH, H.1977, p.32; Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb VHTT, H.1999, p.107; Song Jung Nam, The Name and Territory of Vietnam NCĐNÁ 16 – 2, 2007, p.106.

7 Đại Việt sử ký toàn thư, T.I, Sđd, p.278; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục T.I, Sđd, p.32.

8 Đại Việt sử ký toàn thư, T.I, Sđd, p.284; Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, p.546; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, T.I, Sđd, p.32.

9 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Nxb KHXH, H.1998, p.91; Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, p.407; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, T.I, Sđd, p.32.

10 Jung Nam, The Name and Territory of Vietnam NCĐNÁ 16 – 2, 2007, p.107.

11 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, p.91; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, T.I, Sđd, p.32.

12 Đại Việt sử ký toàn th,ư T.II, Nxb KHXH, 1998, p.145; Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, p.458 tham khảo.

13 Đại Việt sử ký toàn thư,T.II, Sđd, p.91; Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Sđd, p.170.

14 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, pp.202 – 203; Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, p.512; Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, p.127; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục T.I, Sđd, p.35.

15 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, p.235; Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, p.546; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục ,T.I, Sđd, pp.37 – 38 tham khảo.

16 Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, p.168.

17 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, pp.441 – 452; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục T.I, Sđd, p.43.

18 Phan Huy Lê, Lịch sử chế độ phong keiens Việt Nam, T.II, Nxb GD, 1960, p.182; Đại Việt sử ký toàn thư T.II, Sđd, p.464.

19 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, p.507.

20 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, p.450; Việt sử thông giám cương mục, T.XI, Nxb Văn Sử Địa, 1959, pp.68 – 69; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, T.I, Sđd, p.43.

21 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, p.363 tham khảo.

22 Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, p.199.

23 Phan Huy Lê, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, T.II, Sđd, p.174 – 177.

24 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, p.477.

25 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, p.464.

26 Song Jung Nam, Quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan thời kỳ truyền thống, Hội thảo khoa học 2007 của hội Việt Nam học Hàn Quốc, 2007, p.44.

27 Song Jung Nam, A Study on the Development Factor of Trade in Dang Trong in 16th – 18th centuries NCĐNÁ 14 – 1, 2004, p.133.

28 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Nxb Sử học, 1962, pp.43 – 44.

29 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.83; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, T.I, Sđd, p.56 tham khảo.

30 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.147; Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777, nhà sách Khai Trí, 1969, pp.217 – 218.

31 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.148.

32 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, pp.148 – 153.

33 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.150.

34 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, pp.150 – 151; Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777, Sđd, pp.217 – 218.

35 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.153.

36 Lê Nguyễn, Xã hội Đại Việt qua bút ký của người nước ngoài, Nxb VN TP HCM, 2004, p.174; Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, T.III, Sđd, p.105; Song Jung Nam, Quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan thời kỳ truyền thống, Bđd, p.43.

37 Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Sđd, pp.105 – 106; Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777, Sđd, pp.400 – 402.

38 Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Sđd, p.105; Yu In Sun, Lịch sử Việt Nam viết mới, Nxb Y San, 2002, 219 tham khảo.

39 Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Nxb Giaos dục, H.1998, pp.74 – 75; Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.98 tham khảo; Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, Nxb Thuận Hóa, 1993, p.542; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, T.I, Sđd, p.58 tham khảo.

40 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.125; Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, Sđd, p.542; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, T.I, Sđd, p.62 tham khảo.

41 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.167.

42 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, pp.153 – 154; Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, Sđd, p.542 tham khảo.

43 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.167; Song Jung Nam, A study on the land system and territorial expansion in southern part of Vietnam: from the mid – 16 century to 18 century SHBS T 36, 1999, p.57.

44 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, 1962, p.195; Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Sđd, p.78; p.241; Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, p.241; Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777, Sđd, p.232.

45 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, 1962, p.208.

46 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.224; Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, Sđd, p.544; Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Sđd, p.78; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục T.I, Sđd, p.69; Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777, Sđd, p.242.

47 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.226; Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, Sđd, p.544; Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Sđd, pp.79 – 80; Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777, p.242; Song Jung Nam, A study on the land system and territorial expansion in southern part of Vietnam: from the mid – 16 century to 18 century SHBS T 36, 1999, p.58.

48 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, pp.225 – 226; Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Sđd, p.79; Đại Việt sử ký tục biên 1676 – 1789, Nxb KHXH, 1991, pp.257 – 258.

49 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.226; Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, Sđd, p.544; Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Sđd, p.79, p.80.

50 Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, p.243.

51 Song Jung Nam, The Name and Territory of Vietnam NCĐNA 16 – 2, 2007, p.110.

52 Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, T.III, Sđd, p.479.

53 Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, T.III, Sđd, p.481.

Older Entries

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)