Nguồn gốc quốc danh Việt Nam

9 Comments

Việt Nam is Southern Land or The Origin of the word Vietnam

Từ đẳng lập là một hiện tượng đặc biệt thú vị trong ngôn ngữ. Nó là dấu vết hòa nhập của những nhóm người, bộ lạc, dân tộc… Với tiếng Hán, nó là bằng chứng cụ thể và khó bác bỏ của quá trình phát triển ngôn ngữ cũng như thôn tính lãnh thổ và thực dân. Bằng việc khảo sát các từ đẳng lập, chúng tôi sẽ lần đầu tiên nêu ra tự nghĩa một cách xác đáng nhất của từ Việt越 trong quốc danh Việt Nam cũng như dọc 3000 năm Hán sử.

Tại Trung Quốc, giáp cốt văn thời Thương Ân dùng từ Vực或 để mô tả cương vực, khái niệm quốc gia. Nó ghép bởi chữ Qua戈 là một thứ vũ khí và một hình tròn nhỏ bên cạnh tượng trưng cho chữ Khu 區 chỉ một vùng đất. Ý nghĩa của nó là mảnh đất này có chủ. Chậm nhất là ở thời Tây Chu, quốc gia biểu thị bằng chữ Quốc 國, lúc này cương vực (chữ Vực 或) đã có tường thành (chữ Vi囗) bao quanh. Chu Lễ còn viết: Nước lớn gọi là Bang, nước nhỏ là Quốc. Từ một vùng Đất hiền hòa đến Vực có vũ khí thô sơ đảm bảo chủ quyền, qua Quốc có hộ thành và quân đội, cuối cùng là Bang có chư hầu; ngôn ngữ Trung Quốc đã qua bốn bậc phát triển, hay cũng có thể nói là bốn bậc văn minh. Từ Tần Thủy Hoàng trở đi, chữ Quốc ở bậc thứ ba được dùng cho tới ngày nay.

guo

Ảnh: Giáp cốt văn đời Thương mô tả quốc gia là chữ Vực.

Hán ngữ có từ ghép đẳng lập Khu Vực區域 để chỉ một vùng đất và hiện nay nó vẫn còn tồn tại như một hóa thạch ở Việt Nam, không gian biên viễn của Hán ngữ cổ đại. Khu 區 trong bốc từ (lời giải bói toán) thời Thương mô tả một vùng đất. Chẳng hạn 王其狩區 vương kì thú khu là vùng đất đi săn của vua. Đặc biệt, theo sách “Vạn tính thống phổ” thời Minh, họ Khu區 cũng là họ Âu歐 trong Hoa ngữ thời Chiến Quốc. Ở Sử Ký và Hán Thư (Hung Nô liệt truyện và Tô Vũ truyện), đất Âu Thoát甌脫 còn được viết Khu Thoát 區脫. Nghĩa là Khu 區 đồng nghĩa hoặc đồng âm, hoặc cả hai với Âu 甌, chỉ lãnh thổ của một dân tộc thiểu số ngoài biên cảnh, chậm nhất là ở thời điểm ra đời của Hán Thư, kỷ Tây Hán.

Vì tính chất đa trung tâm của văn minh Hoa Hạ, ngoài Quốc國, chữ Hán còn dùng Ấp 邑 với ý nghĩa tương đồng. Ấp bao gồm chữ Vi chỉ tường thành phía trên, dưới là hình nhân quỳ gối , ban đầu mô tả một khu vực tụ cư của dân chúng. Kim văn trên một vò rượu thời Thương còn ghi “大邑商 – Đại Ấp Thương” chính là chỉ Thương Quốc.

yuewang2

Ảnh: Các hình thức chữ Ấp.

Kinh Đô nhà Thương ở bờ nam Hoàng hà, do đó có lẽ Vực 或 mang âm của các bộ tộc Hoàng hà nói về vùng đất, lãnh thổ hay khái niệm tiền quốc gia. Âu 甌 và Khu 區 nhiều khả năng là Hoa ngữ ký âm nội hàm tương đương với Vực 或, tức vùng đất, lãnh thổ hay khái niệm tiền quốc gia của các bộ tộc kém phát triển hơn ở hai bờ bắc và nam Dương tử. Khi chuyển qua hình thái bộ lạc, có thể họ đã nhất loạt dùng tiền tố Âu hay Khu đứng trước tên riêng. Âu và Khu vốn mang nghĩa gốc là vùng đất nhưng đã được trừu tượng hóa thành khái niệm tiền quốc gia. Khi quyền lực được thống nhất, thủ lĩnh bộ lạc mạnh nhất trở thành lãnh tụ của hình thái nhà nước quân chủ, Âu và Khu trở thành quốc danh, ít nhất là ở khía cạnh đối ngoại với các lân bang văn minh hơn ở phương bắc.

Dưới đây là liệt kê các từ liên quan xuất hiện trong cổ thư Hoa ngữ và phần nào chứng minh luận điểm trên của chúng tôi:

Sách Dật Chu Thư (475 BC – 221 BC) có đề cập đến một nước tên là Âu Đặng甌鄧 từ thời Thương, ở phía nam vương quốc [正南甌鄧]. Nước Đặng là một trong hàng trăm chư hầu tiểu quốc thời Tây Chu, ước định vị trí là phía nam tỉnh Hà Nam hiện nay, đã bị nước Sở xóa sổ năm 678 BC.

甌越 Âu Việt: Xuất hiện 3 lần trong Sử Ký (Triệu thế gia), Chiến Quốc Sách và sách Phương Ngôn thời Tây Hán. Âu Việt ở đây đồng nghĩa với nước Việt Chiến Quốc. Các ngữ cảnh thuật lại nhận xét của Triệu Vũ Linh vương ( 340 BC – 295 BC): 夫翦發文身,錯臂左衽,甌越之民也。黑齒雕題,卻冠秫絀,大吳之國也 – người Âu Việt cắt tóc ngắn, vẽ mình, xăm cánh tay, vạt áo nằm bên trái; người nước Ngô thì nhuộm răng đen, xâm vẽ lên trán, đội mũ làm bằng da rái cá, quần áo may vá thô vụng.

越國 Việt Quốc: Xuất hiện dày đặc trong sách Chu – Tần và Hán, các sách Mặc Tử, Lã Thị Xuân Thu, Sử Ký đều chỉ nước Âu/Ư Việt.

於越 Ư Việt và 于越 Vu Việt: Các phần mềm Hoa ngữ hiện tại đồng hóa Ư và Vu là một. Sách vở Tần Hán trở về trước nhắc đến hai từ này tổng cộng 122 lần. Vì Ư và Vu ngoài chức năng ký âm Âu, nó còn là giới từ, liên từ, thán từ và động từ trong Hán ngữ. Chúng tôi chỉ rút ra ngữ cảnh chứng minh Ư và Vu ký âm Âu. Sách Thuyết Uyển của Lưu Xương thời Tây Hán: Phù Sai thôn tính Ư Việt. Sách Mặc Tử thời Chiến Quốc 7 lần nhắc đến Ư Việt: Mặc Tử viết ông mến người Ư Việt, lại có ngữ cảnh mô tả ông đến Ư Việt. Xuân Thu Công Dương Truyện thời Tây Hán: Năm Chiêu Công thứ 8, Sở diệt nước Trần, đày công tử Trần xuống Vu Việt. Hán Thư, Hóa Thực Truyện: Vu Việt và Nhung Địch được nhắc đến.

東甌 Đông Âu: Khá rõ, chỉ Đông Việt, hậu duệ Việt vương Câu Tiễn. Riêng Sử Ký đã lập đi lập lại 16 lần từ Đông Âu chỉ quốc danh, quốc vương.

西甌 Tây Âu: Sử Ký 3 lần viết liền Tây Âu Lạc. Hán Thư bỏ chữ Lạc, khẳng định phía tây Nam Việt có tiểu quốc Tây Âu. Sách Phương Ngôn thời Tây Hán có phân tích chữ viết một vùng có tên Tây Âu, theo trật tự đề cặp thì vùng này nằm phía dưới Kinh Ngô, tức Kinh Châu sau này. Sách Hoài Nam Tử có đề cặp đến Tây Âu, nhưng lại dùng chữ 嘔, đồng âm nhưng dị tự với Âu 甌.

西于 Tây Vu: Chủ yếu đề cặp đến Tây Vu vương trong Sử Ký. Địa lý chí trong Hán Thư ghi Tây Vu là một huyện của quận Giao Chỉ. Hậu Hán Thư, Mã Viện Liệt Truyện cũng ghi Mã Viện xin chia huyện Tây Vu thành Phong Khê và Vọng Hải. Cần lưu ý Tây Vu trong Sử Ký và Tây Vu ở Hậu Hán Thư khác nhau.

駱越 Lạc Việt: Hán Thư, Hậu Hán Thư, Tiền Hán Kỷ và Đông Quan Hán Ký chín lần nhắc đến Lạc Việt 駱越. Người Lạc Việt ở Trung Lư thuộc Kinh Châu – Hồ Bắc: 3 lần, rõ nhất là năm Kiến Vũ thứ 11 (năm 36), Hậu Hán Thư ghi nhận Tang Cung đóng quân phòng thủ người Lạc Việt tại Trung Lư. Người Lạc Việt ở châu thổ sông Hồng: 6 lần đều liên quan đến Mã Viện vào các năm 40 – 43.

Hẳn là ở thời Tây Chu, trong khi Vực 或 đã tiến hóa đến Bang và Quốc, lúc đó nước Việt vùng Giang nam mới ra đời. Trước khi âm Âu bản địa của người Việt dùng để chỉ quốc gia được ký âm bằng chữ Việt 越 bộ Tẩu 走 thời Chiến Quốc, vốn mang nghĩa Vượt trong Hoa ngữ, Câu Tiễn đã dùng chữ Việt bộ Ấp trên thanh gươm của mình. Nó là chữ thể triện thời Xuân Thu mang ký số B01749 trong hình dưới. Đây hẳn là chữ của nước Âu Việt, bộ Ấp 邑 mang nghĩa quốc gia và ghép với chữ Việt 戉 để chỉ âm.

yuewang3

Tất nhiên Giang nam không chỉ có duy nhất người Việt, họ chỉ có thể là một liên minh bộ lạc tiến bộ nhất, mạnh nhất đã chuyển hóa lên hình thức nhà nước phong kiến. Từ đó Việt được hiểu rộng ra là các tiểu quốc Giang nam nói chung, tức Bách Việt. Một khi Việt biến thành một từ phổ thông Hoa Hạ, không còn là danh từ riêng, người ta phải dùng phương ngữ Giang Hoài là Âu甌 để ghép trước Việt, nhằm chỉ nước Việt của Câu Tiễn. Do ngôn ngữ Chiến Quốc chưa thống nhất, ngoài ký âm Âu bằng Âu 甌, người Hoa Hạ còn dùng Ư 於 và Vu于. Từ đó sinh ra  Ư Việt 於越và Vu Việt 于越 , cùng nghĩa với甌越 Âu Việt. Sự không thống nhất này càng chứng tỏ âm Âu là phương ngữ và đã được nhiều học giả khác nhau dùng các chữ Hán khác nhau nhưng có ngữ âm hao hao để ghi lại.

Theo Việt vương Câu Tiễn Thế Gia trong Sử Ký, Câu Tiễn là hậu duệ vua Hạ Vũ. Con thứ vua Thiếu Khang đời Hạ được phong đất Cối Kê để thờ cúng vua Hạ Vũ. Họ khai hoang lập ấp, cắt tóc xâm mình, trải qua hai mươi đời thì đến Doãn Thường. Doãn Thường đánh nhau với vua ngô là Hạp Lư. Doãn Thường chết, Câu Tiễn được lập làm Việt vương. Các chú giải của đoạn Sử Ký trên cũng gián tiếp giải nghĩa chữ Việt mà xưa nay rất nhiều sách vở Việt Nam đã dẫn luận hoặc chấp nhận:

a. Sách Chính Nghĩa, trích lại từ Ngô Việt xuân thu (viết vào năm 232 đến 300): Vua Hạ Vũ đi khắp thiên hạ, đến Đại Việt, lên Mao Sơn họp quần thần bốn phương phong thưởng, rồi mất và được an táng tại đó. Đến thời Thiếu Khang, vua sợ không ai tế tự tôn miếu, bèn phong con thứ là Ư Việt hiệu Vô Dư đất ấy.

b. Sách Cối Kê ký viết rằng: Con thứ của vua Thiếu Khang hiệu là Ư Việt, do đó tên nước Ư Việt xuất phát từ tên hiệu ấy.

c. Sách Chính Nghĩa viết: Sách Xuân Thu Công Dương truyện gọi Ư Việt là do vùng đất ấy chưa thông với Trung Quốc. Thông rồi thì gọi là Việt.

d. Sách Xuân Thu Tả truyện cho rằng Việt là tiếng nói của người bản địa (Cối Kê) có âm như thế, dùng từ Việt để ghi lại.

e. Sách Thích Danh của Lưu Hi (năm 219): Việt mang nghĩa vượt, vì là nước man di khác vòng lễ nghĩa Hoa Hạ.

Như vậy khảo sát của chúng tôi đang tiến hành không mới. Nó đang đi theo hướng thứ 4 ở trên. Thật vậy, Âu 甌 theo Khang Hi từ điển là phương ngữ Dương Tử, vùng Giang Hoài, khớp với vị trí địa lý của nước Việt thời Chiến quốc. Theo nhà ngôn ngữ học Sergei Starostin, âm Âu 甌 thời Tây Hán đọc là [ʔwā], Việt 越 đọc là [wat], Khu 區 đọc là [khwa], Vực 或 đọc là [whǝ̄k] và Quốc 國 đọc là [kwǝ̄k]. Các âm Âu – Việt và Khu thời Tây Hán giống nhau đến 90% và ở thời Chiến Quốc trước đó vài trăm năm, khi người Trung Nguyên dùng chữ Việt ký âm Âu, có thể chúng đồng âm. Hơn nữa, việc lấy một chữ có âm gần giống để ký âm ngoại ngữ là chuyện rất bình thường xưa nay khắp hoàn cầu.

Sergei Starostin như link đã dẫn, liệt kê âm Âu trong tiếng Miến Điện, Kachin (Bắc Miến Điện) và Trung Quốc hiện nay đều chỉ: cái vại, cái ca, cái bình, nồi nấu lớn, cái vạc, cái âu đựng thức ăn hoặc nước. Nghĩa của nó trong tiếng Việt là cái âu, có khi biến âm thành cái chậu. Nguyên liệu cổ đại tạo nên tất cả những thứ đó là đất. Chữ Âu甌 được ghép bởi chữ Khu區 và Ngõa [瓦]. Khu là một vùng đất, Ngõa vốn mang nghĩa ngói và các dụng cụ bằng đất nung, cả hai đều có thể là chỉ thị đất của âm Âu. Không có nghĩa nào của Âu trong từ điển có thể áp vào các thuật ngữ lịch sử để nói lên điều gì đó. Do đó nếu cho rằng nghĩa cổ nhất của Âu (ít nhất là trước năm 678 BC, khi tiểu quốc Âu Đặng còn tồn tại) là đất thì không có gì hoang đường cả. Thậm chí chỉ có Âu mang nghĩa là Đất (quốc gia) mới thỏa mãn tất cả các quốc danh và vương hiệu gắn với chữ Âu trong sách sử Trung Hoa, kể cả những chữ Âu đồng âm dị tự: Âu Đặng, Âu Việt, Đông Âu, Đông Âu vương, Âu nhân, Tây Âu, Tây Vu…  Xa hơn nữa kết luận ấy có thể làm rõ Âu cơ mang thực nghĩa Quốc mẫu trong ngôn ngữ của một truyền thuyết Việt Nam khá nổi tiếng.

Như vậy từ Việt trong quốc danh Việt Chiến Quốc, Bách Việt có khả năng là Hán tự ký âm Âu bản ngữ Dương tử, nghĩa là đất nước, xứ sở, quốc gia. Cách cấu tạo từ đẳng lập Âu Việt: Dùng một từ phương ngữ (Âu) và một từ Hán ký âm (Việt) đi đôi với nhau. Người Hán hiểu từ sau, người Việt hiểu từ trước. Trước khi có từ Âu Việt cụ thể, người Hoa Hạ dùng Việt Quốc để chỉ vương quốc của Câu Tiễn. Bản chất của Việt Quốc cũng là một từ đẳng lập đồng nghĩa, thuộc các giai đoạn phát triển khác nhau giữa hai khu vực ngôn ngữ gần gũi (Hoàng hà và Dương tử).

Trong văn hiến Việt Nam, ít nhất hai lần chữ Âu đã xuất hiện, dù chưa thật rõ ràng nhưng vẫn có thể hiểu Âu là Đất, là quốc gia: Vua Trần Nhân Tông năm 1288 đã viết hai câu thơ [社稷兩回勞石馬,山河千古奠金甌 – Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã, Sơn hà thiên cổ điện Kim Âu]. Hồ Hán Thương cuối thế kỷ 14 đầu thế kỷ 15 đã đổi tên một ngọn núi ở Thanh Hóa là Kim Âu 金甌. Hầu hết các dịch giả Việt Nam hiện đại đều cho rằng Âu là cái âu, cái chậu, Kim Âu là một điển cố thuần Hán chỉ quốc gia nhưng rất ít khi được sử dụng. Âu trong thơ Trần Nhân Tông hay trong tên núi của Hồ Hán Thương, có khi vô tình, cũng có thể hữu ý, được sử dụng như mật mã lịch sử?

Ngài Trần Trọng Kim vĩ đại dịch nôm thơ của vua Trần thành: “Xã tắc hai phen chồn ngựa đá. Non sông nghìn thuở vững âu vàng”. Nhìn gần chúng tôi thấy Lương Vũ Đế (464 – 549) nhà Lương, kinh đô đặt tại vùng Ngô Việt Dương tử, ngày nay là Nam Kinh. Trong Nam Sử của nhà Lương, đột nhiên Kim Âu mang nghĩa: Cương thổ bền chắc vững vàng, ẩn dụ quốc thổ. Gần thêm nữa là Mao Trạch Đông có bài từ dùng Kim Âu: 收拾金瓯一片,分田分地真忙 – Thu thập kim âu nhất phiến, phân điền phân địa chân mang. Hàm nghĩa là thu thập quốc thổ về một mối, nhanh chóng cải cách ruộng đất.

Rõ ràng học giả nổi tiếng Trần Trọng Kim không hề đề cặp đến quốc thổ, sự toàn vẹn quốc gia của từ Kim Âu. Hoàng gia nhà Trần gốc Âu Việt, Trần Nhân Tông có cần phải học Lương Vũ Đế để dùng Kim Âu không? Hay cả ông và vua Lương đều có gốc rễ văn hóa Ngô Việt, đều hiểu Âu là quốc gia, chẳng ai cần dạy ai, họ đã dùng Kim Âu ẩn dụ quốc thổ bền chắc vững vàng? Hơn nữa, Việt sử từ đầu thời Trần đã đưa Âu Lạc làm quốc danh Việt Nam tiền sử. Cho rằng họ hiểu Âu là cái chậu nhỏ thì thật là ngớ ngẩn và bôi bác! Đặc biệt ở mảnh đất Mân Việt tức Phúc Châu – Phúc Kiến ngày nay, chữ Việt 越 bộ Tẩu (cải cách thời Tần) vẫn đọc là [ou?] hoặc một kiểu biến âm khác là [ok]. Lừng lững sau hai câu thơ của Trần Nhân Tông là non sông Đại Việt với chữ Việt đồng âm cùng chữ Âu.

Tóm lại: Bằng khảo cổ Hoa ngữ Thương – Chu đến Tây Hán, kết hợp với các mắt xích lịch sử, chúng tôi đã có căn cứ xác đáng nhất từ xưa đến nay để khẳng định Việt là Hán tự ký âm Âu từ nước Việt thời Xuân Thu – Chiến Quốc. Chữ Việt này bộ Ấp, thể triện còn lưu giữ trên thanh gươm Câu Tiễn. Năm 334 BC Âu Việt bị nước Sở thôn tính và sáp nhập. Nước mất, nhà tan, ngôn ngữ suy tàn, con cháu ngài Câu Tiễn phiêu bạt về phương nam rồi lần lượt hình thành các tiểu quốc như Mân Việt, Đông Âu, Tây Âu, Âu Lạc (Nam Việt) và cuối cùng là Đại Việt.

Vô hình trung việc thống nhất chữ viết của Tần Thủy Hoàng đã để lại di họa không ngờ: Một thời gian dài đằng đẵng, con cháu hàng trăm đời sau của ngài Câu Tiễn đã không thể hiểu nghĩa của từ Việt đơn giản chỉ là quốc gia hoặc state trong tiếng Anh. Hay chính xác hơn, nó tương đồng với hậu tố -land trong England, Scotland, Deutschland… Do đó có thể hiểu Việt Nam = Southern Land hay Southern State. Và nếu dịch ngược lại từ tiếng Anh qua tiếng Việt, Việt ngữ đã có sẵn từ Nước Nam, nếu không muốn dùng Việt Nam.

Copyright by Trương Thái Du @9.2017

Thần Cung Bảo Kiếm 神弓宝剑

3 Comments

Người dịch và bình dẫn: Trương Thái Du

Trích ebook: Khảo chứng tiền sử Việt Nam bằng Cổ thư và Thiên văn học

Lời dẫn:

Bản dịch cũ của dchph mà tôi đã tạm sử dụng trên blog và sách, khi chưa có văn bản gốc đối chiếu, vốn là sản phẩm trôi nổi trên mạng của một người ít am tường lịch sử cũng như ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc. Nội dung mà dchph dịch không sát với sách, nhiều chỗ không hiểu vấn đề. Chẳng hạn công chúa Lạc Việt bắn một góc buồng cau thì dịch là xuyến trầu, ngữ cảnh vốn so sánh từng trái cau như yết hầu của con người, là mục tiêu mà công chúa dễ dàng xạ tiễn. Từ đó lại lấy văn hóa trầu cau Bắc Việt mô tả tình keo sơn ân ái của hoàng tử và công chúa, vốn đã được truyện ví von với hình ảnh bản địa đặc thù của nó là: “Không rời nhau như con chim chào mào luôn quấn quít bên bụi cỏ mực ngoài bờ ruộng, như lá liền cành.”

Đặc biệt truyện cổ tích này cũng xác nhận biên giới Tây Âu và Lạc Việt là Mãn Giang trong hệ thủy Tây Giang, một con sông rất nhỏ cách thành phố Nam Ninh về phía bắc khoảng 143km, cách Ngô Châu (Quảng Tín, Thương Ngô) về phía tây khoảng 367km, và cách thành phố Cao Bằng – Việt Nam khoảng 200km về phía đông bắc. Đây cũng có lẽ là biên giới phía tây của nước Nam Việt, hoàn toàn không dính dáng gì đến châu thổ sông Hồng.

Nước Nam Việt, căn cứ vào Sử Ký, Hán Thư và Hậu Hán Thư, là một vương quốc phân quyền, diện tích khoảng 2.500.000 km2, có giám quan tên Cư Ông ở Quế Lâm, Tần vương Triệu Quang cùng họ Triệu với Triệu Đà ở địa bàn quận Thương Ngô nhà Hán sau này. Trung tâm Thương Ngô là Quảng Tín, tức thành phố Ngô Châu bên dòng Tây Giang ngày nay.

Tây Âu được ghi nhận trong Hán Thư, là sự rút gọn của Tây Âu Lạc của Sử Ký. Âu Lạc xuất hiện trong 9 ngữ cảnh của các sách sử chính thống nhà Hán. Nó chính là tên bản địa của nước Nam Việt. Tây Âu chỉ có khả năng chính là Tây Âu Lạc, khớp với sự kiện Hoàng Đồng chém Tây Vu vương (nghĩa là vị vương phía tây Nam Việt).

TayAuLacViet

Ảnh 1: Biên giới Nam Việt – Lạc Việt xác định trong truyện ở vị trí đánh dấu đỏ.

Truyện cổ tích Thần Cung Bảo Kiếm dưới đây bao gồm bản dịch và nguyên văn Hán ngữ giản thể in tại quyển sách cùng tên 神弓宝剑. Người kể là bô lão nông dân Tráng tộc (Tày – Nùng) huyện Long Châu, Quảng Tây, Trung Quốc. Người sưu tập và chỉnh lý là Lam Hồng Ân -蓝鸿恩. Nhà xuất bản Văn Nghệ Dân Gian Trung Quốc – Bắc Kinh 1985, từ trang 65 đến trang 73.

Longzhou

Ảnh 2: Địa bàn huyện Long Châu – Quảng Tây có màu hồng nhạt.

Cụm từ “和揖百越 – Hòa tập Bách Việt” trong sách vốn có nguồn gốc “和集百越 – Hòa tập Bách Việt” từ Sử Ký của Tư Mã Thiên. Bản chất của nó là một thuật ngữ địa chính trị thể hiện Pax Sinica cổ đại (nền thái bình được duy trì bởi bá quyền Trung Hoa). Do đó Thần Cung Bảo Kiếm phản ánh những âm mưu chính trị của Triệu Đà nói riêng và nhà Hán nói chung đối với đại gia đình các liên minh bộ tộc Bách Việt tại châu thổ sông Tây Giang. Thần Cung Bảo Kiếm chắc chắn chứa đựng một phần không nhỏ trò tâm lý chiến, đi kèm với việc mua chuộc quý tộc bản địa của triều đình Nam Việt đã được tường thuật trong Sử Ký và Hán Thư, nhằm an dân trên con đường thực dân hóa mảnh đất phía nam Trung Hoa.

Thần Cung Bảo Kiếm là sự kết hợp các nét văn hóa dân gian bản địa với nhân vật lịch sử Triệu Đà. Có khả năng nó là bản gốc của cổ tích Mỵ Châu Trọng Thủy ở Việt Nam. Ở góc độ nào đó, nó phản ánh thực tế xã hội Lạc Việt: Kính sợ yêu ma quỷ thần, tôn trọng thầy cúng đồng cốt, tục ở rể, ăn trầu cau, các xung đột nội tại thường diễn ra trong cộng đồng…

TCBKCover


Thần Cung Bảo Kiếm

Ngày xưa, vua Nam Việt Triệu Đà có một thanh bảo kiếm do hoàng đế nhà Hán ban tặng. Thân kiếm được nạm khảm bốn chữ bằng ngọc quý “Hòa tập Bách Việt”. Mỗi khi đêm đến, kiếm tỏa sáng, xác thực đúng là bảo vật. Vua Nam Việt đem kiếm này tặng cho nước Tây Âu, vua Tây Âu lại sai con trai mình đưa kiếm đến nước Lạc Việt. Các nước dùng kiếm làm quà để biểu hiện tình hữu nghị, ý nguyện muôn đời hòa hảo.

Hoàng tử nước Tây Âu đeo bảo kiếm, lên đường tới Lạc Việt. Ngày nọ, khi chàng vừa đến kinh thành nước Lạc Việt, bỗng nghe phía trong tường thành ồn ào tiếng nói cười và hoan hô, chẳng hiểu chuyện gì gây ra náo nhiệt, chàng bèn trèo lên đầu tường xem xét.

Thì ra công chúa Lạc Việt đang tập bắn cung, vì không trật phát nào, nên được reo hò cổ vũ.

Trước đó vài năm, nước Lạc Việt bị một con thủy yêu tác quái, nước triều từ biển vô duyên vô cớ vọt dâng lên bờ, nhấm chìm vô số ruộng vườn thôn xóm nhà cửa, cuốn trôi vô số gia cầm bò dê, khiến cho trăm họ điên đảo lưu lạc không chốn dung thân.

Vua Lạc Việt chẳng có giải pháp nào, chỉ biết mời thầy đồng cốt đến niệm chú làm phép. Con thủy yêu này cuối cùng cũng nhảy lên khỏi mặt nước nói rằng, trừ khi vua Lạc Việt gả công chúa cho nó, nếu không nó sẽ cử binh tiêu diệt vương quốc. Vua Lạc Việt không có cách đối phó, bèn phải đáp ứng, nhưng yêu cầu thủy yêu phải tự đem thân đến cung đình cầu hôn. Ai ngờ khi con yêu quái đến, mọi người đều thấy, rốt cuộc nó chỉ là một con rùa đã thành tinh. Thủy yêu đầu rắn dài thượt, đuôi thỏ, thân lùn tịt trên lưng lại đeo cái mai hình đấu đong gạo trông tựa như giáp trụ. Công chúa thấy thế hận ngút trời, nghiến răng nghiến lợi, hết sức phẫn uất, rút đao đang đeo bên mình, lạnh lùng chặt bay đầu con quy tinh không chút phòng bị. Chỉ kịp nghe tiếng thét “giết này” thì yêu quái đã ngã lăn xuống đất chết tươi.

Nghe đồn sự thần thông của con yêu quái nằm ở bộ móng vuốt, nếu như móng vuốt vẫn còn, dù chết vẫn có thể sống lại. Do đó công chúa bèn chặt đứt bốn chân rùa, cậy lấy móng dùng làm lẫy nỏ. Từ đó trở về sau, tài cung nỏ của công chúa tiến bộ vượt bậc, bắn không bao giờ trượt, có thể buông tên trúng yết hầu bất cứ kẻ nào, không chệch một ly. Nhờ đó uy danh của công chúa truyền ra khắp nơi, ai cũng biết nàng có cây cung thần. Hôm ấy nàng lại đến sân tập bắn cung trong thành nội, giương nỏ, căng dây, buông tay phóng tên, chỉ thấy mũi tên thẳng hướng lao về một cành nhỏ của thân cổ thụ, không nghiêng không ngả, xuyên vào chính giữa một chùm cau, lập tức nghe tiếng chùm cau rơi xuống đất. Lúc này trên đầu tường thành bỗng vang lên tiếng vỗ tay và hoan hô.

Công chúa quay đầu nhìn, thấy một người đang ngồi trên tường thành trộm xem nàng bắn cung. Nàng nổi giận. Lẽ nào kẻ này đã ăn mật hổ dữ nhưng chưa thành? Liền giương cung bật tên, hướng thẳng đến ngực hoàng tử mà bắn. Lập tức hoàng tử rút bảo kiếm, chờ mũi tên bay gần đến mình thì dùng kiếm gạt nhẹ, tên rơi rụng xuống đất như chim sa.

Công chúa bắn liền ba phát, hoàng tử gạt ba lần, ba mũi tên đều nằm chỏng chơ dưới đất.

Công chúa nhận thấy người này không phải phàm nhân, bèn đến trước mặt hỏi hoàng tử là ai, đến kinh thành làm gì. Hoàng tử trả lời ta là con trai vua Tây Âu, đến đây nhằm diện kiến vua Lạc Việt, muốn cùng nước Lạc Việt kết giao hòa hảo, xin công chúa dẫn ta đến gặp nhà vua.

Công chúa có một chút do dự, trong lòng thầm nghĩ, đeo bảo kiếm lợi hại tìm gặp vua cha, nếu như có âm mưu hành thích chẳng lẽ sẽ thất bại ư! Nàng bèn yêu cầu hoàng tử một trong hai điều kiện tùy chàng chọn lựa. Thứ nhất là không thể đeo bảo kiếm vào cung, nên phải gửi cho nàng trông nom hộ. Hai là nếu vẫn không muốn xa rời kiếm báu, thì mong chàng phải chịu khó bị trói bằng dây thừng khi diện kiến phụ vương.

Hoàng tử đồng ý cách thứ hai, liền bị công chúa trói lại sau đó dẫn đi gặp vua Lạc Việt. Hoàng tử thấy nhà vua, lập tức dâng lên bảo kiếm “Hòa tập Bách Việt”, thay mặt vua cha nước Tây Âu biểu thị ước nguyện hai nước muôn đời hòa hảo.

Lạc Việt vương rất vui vẻ. Thấy hoàng tử cao to đẹp trai, cử chỉ nhã nhặn, ngôn ngữ không thô lậu, có ý muốn kén chọn chàng làm rể. Vua bèn hỏi ý công chúa thế nào? Kì thực công chúa đối với hoàng tử đã sớm có lòng ái mộ, nghe phụ vương hỏi, nàng đỏ mặt trả lời: “Xin tùy cha định liệu”.

Sau đó vua Lạc Việt chủ trì hôn lễ, hoàng tử và công chúa mau chóng thành vợ chồng, hai người rất đỗi thương yêu nhau, không rời nhau như con chim chào mào luôn quấn quít bên bụi cỏ mực ngoài bờ ruộng, như lá liền cành.

Chưa được bao lâu, hoàng tử bỗng được tin vua Tâu Âu lâm bệnh nặng, chàng bèn nói lời giã từ Lạc Việt vương và công chúa. Công chúa sợ đường không an toàn nên đưa bảo kiếm “Hòa tập Bách Việt” cho chồng mang theo. Công chúa đưa tiễn hoàng tử đến mười dặm trường mà hai người vẫn còn quyến luyến chưa rời nhau.

Từ lúc hoàng tử trở về nước, công chúa bỗng nhận ra cung thất thật trống vắng và lạnh lẽo, trong lòng thường cảm thấy oán hận sầu muộn, biếng nhác luyện võ bắn tên. Hằng ngày nàng cứ phảng phất thấy hình bóng hoàng tử đi tới đi lui phía ngoài cung điện, chẳng hiểu sao chàng không bước vào. Khi mở cửa sổ nhìn ra, công chúa chỉ thấy một con quạ khoang cất lên một tiếng “ya” rồi bay đi mất.

Một buổi sáng nọ, công chúa vừa ra khỏi hoàng cung, bỗng thấy một người nhảy qua bờ tường tiến đến, nhìn kỹ hóa ra chính là hoàng tử mà ngày đêm nàng vẫn nhung nhớ. Công chúa vui mừng khôn xiết, chả thèm hỏi chàng ở đâu về, dẫn luôn vào cung thất. Vừa bước vô, hoàng tử này lập tức tiến về chỗ treo thần cung, ngắm nghía sờ nắn. Công chúa cảm thấy kỳ lạ, bèn nói: “Mới đi mấy ngày, chàng đã không nhận ra nó ư?” Hoàng tử hỏi: “Tại sao toàn bụi bặm thế này?” Công chúa trả lời: “Từ khi chàng về nước, em một mình cô đơn, chả có hứng thú luyện cung”.

Hoàng tử này liền đến bên tường lấy thần cung xuống. Công chúa cảm giác hành động có gì đó bất thường, dấn tới cản lại, hoàng tử nói: “Uy danh của công chúa là dựa vào cây nỏ thần này, ta yêu nỏ thần, cũng chính là yêu công chúa vậy”. Nói xong y giương cung ra phía ngoài cửa để bắn, chỉ thấy mũi tên rời khỏi dây, vặn vẹo lẩy bẩy chúi mũi xuống đất, chưa bay được bao xa đã hết đà rơi rụng.

Công chúa nói: “Cây thần cung này nhờ móng quy tinh làm lẫy mới có thần lực, không dùng lẫy, bắn không chuẩn đâu, lẽ nào chàng và thiếp bao lâu nay là vợ chồng, mà chàng không nhớ nổi điều này”.

Hoàng tử trả lời: “Không phải ta quên, là công chúa không nhớ đưa móng rùa cho ta làm lẫy, xin nàng đưa đây ta xem thử, để ta thử sức đôi tay này nào”.

Công chúa vốn thực thà, bèn lấy móng rùa cất trong áo đưa cho hoàng tử, chợt phát hiện hoàng tử không đem theo bảo kiếm về, bèn hỏi: “Hoàng tử, sao không thấy chàng đeo bảo kiếm”.

Hoàng tử đột nhiên trở nên căng thẳng hoảng sợ, đáp: “Là ta nhớ công chúa quá, lén trốn vua cha về đây, rồi ta sẽ trở lại nơi ấy lấy kiếm”.

Hoàng tử nói xong, liền gắn móng rùa vào làm lẫy nỏ, nhảy ra ngoài, biến thành một con quạ khoang cất lên hai tiếng “ya ya” rồi bay mất.

Tin này đến tai vua Lạc Việt, ngài liền triệu tập đại thần để thương nghị. Mọi người đều cho rằng đây là âm mưu của nước Tây Âu, lừa lấy thần cung, bước đi tiếp theo của họ nhất định sẽ là xâm lăng Lạc Việt. Chi bằng nắm lấy thế chủ động, hưng binh tấn công Tây Âu trước.

Trong lúc ấy vua nước Tây Âu vừa mất, cả nước thương cảm buồn đau, hoàng tử đang mặc đồ tang làm lễ, an táng nhà vua. Bỗng tin dữ truyền đến, rằng vua Lạc Việt đã thân chinh cầm quân đi vào biên giới, chàng cảm thấy thật là lạ lùng. Hoàng tử nghĩ nhất định đã có sự hiểu lầm, muốn một mình cưỡi ngựa đi ra trận tiền hỏi cho ra lẽ. Chàng chẳng thèm cải trang, đeo bảo kiếm “Hòa tập Bách Việt” nhảy lên yên ngựa, chẳng khác một đám mây được cơn gió thổi ào đi, phi về phía biên ải.

Hoàng tử chạy đến vùng tiếp giáp hai nước, chưa đến nơi, thì binh mã của vua Lạc Việt đã tràn ngập khắp núi đồi đồng ruộng, đen kịt như mây đen đem mưa tới cuối ngày. Chỉ thấy họ lội qua sông suối chảy xuống Mãn Giang làm bọt nước nổi lên đục ngầu, quân đi đến đâu nơi ấy lều bều xác cá, trông như đá cuội trộn giữa cát đất; binh mã đạp băng qua sơn thạch, sơn thạch mòn lở; đi qua dốc núi, cỏ cây gẫy gập, vụn thành bụi mù; giẫm lên đường xá, đất đắp đường bong vỡ.

Hoàng tử có mỗi một mình, làm sao trụ nổi trước ngần ấy binh mã! Chàng đành hướng thẳng đến chỗ chiếc lọng vàng đang trương lên, nơi ấy nhất định phải là vị trí trú đóng của vua Lạc Việt hoặc công chúa.

Hoàng tử cũng thuộc loại người vũ dũng phi thường, chỉ thấy chàng một mình một ngựa, mặc áo trắng, cưỡi ngựa cũng trắng, lao đi như một trận cuồng phong cuốn theo mây trắng, hướng đến chỗ đám người ở giữa một hàng rào dựng bằng tre gai, hàng rào ngả đổ rào rào. Vua Lạc Việt ngồi trên lưng ngựa chợt thấy người ngựa xung quanh bắt đầu tao loạn, binh tướng hoảng hốt, lại thấy một người một ngựa xông thẳng đến chỗ mình, bèn ra lệnh bọn binh tướng giương cung lắp tên, nhất tề nhắm về hoàng tử mà bắn. Hoàng tử có bảo kiếm bên mình, liền rút ra múa gạt, tên bắn đến quanh chàng đều rơi rụng cả, chẳng một chiếc nào đến gần được người chàng.

Lúc này công chúa cũng nâng giáo nhảy lên lưng ngựa, phóng ra phía trước, mũi giáo hướng thẳng đến xương ức giữa ngực hoàng tử mà đâm. Hoàng tử vội vàng che phía đông, lánh phía tây, liên tục dùng bảo kiếm đỡ mũi giáo, vừa chạy vừa nói: “Tại sao công chúa nổi giận thế này, tự nhiên xuất quân xâm phạm biên giới, lại còn muốn tự tay giết chết chồng mình?”

Công chúa trả lời: “Nhà ngươi hay lắm, phụ vương ta đã làm gì phật lòng ngươi? Ta đối xử với ngươi tệ bạc chăng? Dám cả gan ăn trộm nỏ thần quốc bảo, cái thứ mi vô tình vô nghĩa thiếu nhân tâm, không giết đi thì còn mặt nào đứng trước phụ vương? Không giết mi làm sao hóa giải được nỗi hận trong tim trong óc ta?

Hoàng tử nghe thấu chuỗi hờn oán, bỗng ngẩn người ra, chẳng hiểu sự tình thế nào, công chúa lợi dụng lúc hoàng tử hoang mang, lập tức đâm mũi giáo về phía trước. Hoàng tử đang giữ bảo kiếm “Hòa tập Bách Việt” bên mình, nó có thể tự động phòng tránh bất trắc, chỉ nghe “giết này” một tiếng, không những bảo kiếm chặn được ngọn giáo bạc của công chúa, mà còn làm gãy đầu nhọn.

Sau đó hoàng tử nhảy xuống ngựa, quỳ trước mặt công chúa, hai tay dâng lên thanh bảo kiếm “Hòa tập Bách Việt”, rồi khóc mà nói: “Tưởng ta và nàng ân nghĩa vợ chồng, chẳng có chuyện gì xảy ra. Vì phụ thân mắc trọng bệnh nên phải từ biệt mà về nhà, vốn nghĩ khi cha già khỏe mạnh rồi sẽ lại cùng công chúa đoàn tụ. Ai ngờ phụ vương đã hết tuổi trời, đã quy tiên rồi. Nay cả nước đang cử tang lễ, bỗng nghe tin nước nàng hưng binh tràn vào biên giới; để cứu chúng dân, ta liền không sợ chết, đến trước trận tiền. Nàng muốn giết ta thì dễ lắm, chỉ sợ nàng mắc mưu kẻ xấu. Nói ta ăn trộm nỏ thần quốc bảo ư, làm gì có điều này? Giờ đây để biểu thị tâm địa ta thuần chính, xin hiến bảo kiếm; muốn giết thì cứ giết, muốn chặt đầu xin cứ chặt!” Hoàng tử nói xong, hai tay vẫn giữ bảo kiếm đưa lên cao.

Công chúa nhận bảo kiếm rồi, đang do dự không biết phải xử trí như thế nào, vua Lạc Việt ở phía sau liền nổi trận lôi đình và ra lệnh: “Mọi người nghe đây, khi ta hô đếm một, hai, ba, công chúa vẫn chưa giết thằng cẩu tử này, chứng tỏ nó bị con chó mê hoặc, chúng bây hãy bắn vạn phát tên, giết chết cả hai, nếu đếm đến hai, công chúa đã giết con chó này, tất cả sẽ thu cung tên lại, không được nhầm lẫn”.

Lệnh đã ban ra, quân lính cùng nhau lần lượt bao vây hoàng tử và công chúa, họ giương nỏ nạp tên, chuẩn bị sẵn sàng.

Hoàng tử nói: “Công chúa, cầu xin nàng giết ta đi! Đừng vì ta mà gặp nạn…”

Công chúa suy đi nghĩ lại, chợt ngộ ra rằng hoàng tử đánh cắp thần cung nhất định do con yêu quái biến thành, không có cách nào biện giải được với phụ vương, bèn khóc toáng lên.

Lúc này đã nghe phụ vương bắt đầu đếm: “một, hai…”

Chưa đếm đến ba, hoàng tử lo sợ công chúa và mình cùng bị loạn tiễn bắn chết, chàng liền chụp lấy bảo kiếm đưa lên cổ mình cắt một nhát, một dòng máu tươi vọt ra.

Công chúa nhảy vội xuống ngựa, ôm chặt thi thể hoàng tử trong lòng mình, rồi gục xuống thân người chàng mà khóc không ngừng.

Vua Lạc Việt đột nhiên la lên “ôi chao” một tiếng, lấy tay đè lên ngực, rồi ngã xuống. Các tướng cấp bách bước lại giúp đỡ, thì thấy sau lưng vua bị cắm một mũi tên, xuyên ra tận trước ngực. Mọi người quay đầu cùng nhìn, thì ra là con rùa thành tinh, tay cầm thần cung, dương dương đắc ý ở phía sau đỉnh núi gầm thét cười vang.

“Nỏ thần đã đến tay ta rồi!”

Nói xong, nó nhảy một phát, liền biến thành một con quạ khoang, bay đến bên công chúa, xà xuống đất lúc lắc cái đầu, hiện lên nguyên hình yêu quái: đầu rắn, đuôi thỏ, thân lùn tịt trên lưng lại đeo cái mai hình đấu đong gạo trông tựa như giáp trụ…

Con yêu tinh nói: “Công chúa, nàng và ta có duyên phận, chúng ta kết hôn nhé!” Nói xong, liền muốn đến vồ quặp công chúa.

Công chúa đột nhiên quay đầu tát cho nó một phát, con yêu tinh bị đánh nổi đom đóm, hoa mắt, đứng không vững, bèn quay đầu, vọt nhảy lên dốc cao và nói:

“Công chúa nghe đây, khi biến thành hoàng tử đến cung điện của nàng, ta vẫn chưa lấy lại được móng vuốt, nên không dám đến gần nàng. Giờ đây móng đã về lại với chủ cũ, ta lại trở nên mạnh mẽ, cộng với nỏ thần trên tay, ta có thể lấy mạng nàng bất cứ khi nào, ta yêu cầu nàng lập tức đáp ứng trở thành vợ ta, nếu không nỏ thần này sẽ hướng đến nàng mà bắn, đời nàng sẽ chấm dứt ngay lúc này.”

Công chúa nổi điên nhìn y một cái, không thèm trả lời.

Con yêu tinh đột nhiên lăn quay trên mặt đất, xong biến thành hình dạng hoàng tử và tiến lên phía trước, trơ tráo cả cười nói: “Công chúa, nếu quả nàng yêu mến bề ngoài hoàng tử như thế này, ta sẽ vĩnh viễn biến thành hoàng tử, chúng ta làm phu thê nhé!”

Công chúa đột nhiên nhớ đến bảo kiếm “Hòa tập Bách Việt” của hoàng tử có thể chống được thần cung, nàng liền dũng cảm rút bảo kiếm ra. Con yêu tinh tức khắc cảm thấy một làn hơi lạnh vù vù hướng đến uy hiếp, nó vội vàng quay đầu lại, xoay tròn trên mặt đất, lại biến thành một con quạ khoang bay lên đỉnh dốc.

Tại đó nó quát tháo công chúa: “Nếu như nàng không đáp ứng, ta sẽ bắn tên đây!”

Công chúa phi người lên ngựa, múa kiếm báu, tiến đến con yêu tinh, yêu tinh liền giương nỏ lắp tên nhằm công chúa mà bắn. Mũi tên kia bay đến bên công chúa, nàng liền dùng bảo kiếm chắn đỡ làm nó rơi xuống đất, liền ba phát đều diễn ra như thế. Lúc này công chúa đã ruổi ngựa đến trước mặt con yêu tinh, nó biết không thể chống lại được, bèn bỏ chạy ra phía bờ biển.

Yêu tinh chạy đến bờ biển, liền quay đầu nói với công chúa đang truy đuổi: “Công chúa giỏi lắm, cảm ơn nàng đã tiễn ta ra bờ biển, cuối cùng vẫn còn một câu này với nàng, nếu nàng không lấy ta, ta lại khiến cho nước biển dâng tràn ngập hết đất nước của nàng, nàng và toàn bộ người dân sẽ làm mồi cho tôm cá, đến lúc đó nàng mới biết sự lợi hại của ta!”

Yêu tinh nói xong, bèn nhảy xuống biển. Công chúa sợ không đuổi kịp, vội vàng từ đất liền phóng bảo kiếm về phía yêu tinh. Chỉ nghe một tiếng “giết này” đầu con yêu tinh liền bị bảo kiếm chém đứt. Công chúa làm gì cũng cẩn thận, sợ yêu tinh lại hoàn hồn, tác oai tác quái, nên băm nát xác nó ra, rải khắp những vùng đồi núi hoang dã, khiến nó mãi mãi không thể tái hợp được.

Nàng nhìn ngắm thanh bảo kiếm rồi buồn thảm òa khóc. Những giọt nước mắt rơi xuống biển, đám trai sò đón lấy, tạo thành châu ngọc, dòng máu tươi trẻ của hoàng tử tan vào đất đai Lạc Việt, hóa thành một dòng suối trong vắt. Ngày nay, những người ở bên bờ biển nếu đánh bắt trai sò mà gặp trân châu, nhất định sẽ đem đến dòng suối do khí huyết hoàng tử tạo nên để làm sạch. Tương truyền, dùng nước ấy mà rửa trân châu, sẽ làm trân châu càng trở nên ngời sáng và thanh khiết vô cùng.


 

神弓宝剑

本文口述者:农老爹,壮族,农民,广西,龙州县金龙公社楼板烟屯人。

搜集整理者:蓝鸿恩。

中国民间文艺出版社 – 北京 1985.

——————————–

从前,南越王赵佗得到汉皇帝送他的一把宝剑。这剑身上有宝石镶嵌成的“和揖百越”四个字。一到夜晚这剑就闪闪发光,确实是个宝物。南越王把这宝剑转送给西瓯国,西瓯国又派他的王子把宝剑送到骆越国去。各国用它表示友情,愿意永世和好。

西瓯国王子佩着宝剑,走到骆越国来。那天,他走到骆越国的京城边,就听见墙内传来一阵欢笑声和喝彩声,心想里边一定有什么热闹,于是就爬到墙头上来观看。

原来是骆越王的公主正在那里射箭,因为箭无虚发,故博得一片叫好声。

前些年,这骆越国碰到一只水妖作怪,海潮无缘无故地涌上岸,淹没无数庄稼房屋,吞没无数家禽牛羊,闹得这里的老百姓颠沛流离无家可归。

骆越王没法,只好请巫师来念咒作法。这水妖竟然跃出水面来说,除非骆越王把公主嫁给他,否还要兴兵前来灭国。骆越王无奈,便答应下来,但一定要水妖亲自到宫廷来求亲。谁知那妖怪来到宫廷,大家一看,竟是一只乌龟变成的妖精。只见他长着蛇的头,兔的尾,矮墩墩的还背着一副像斗篷似的甲胄。公主一看恨得咬牙切齿,气愤不过,抽出佩刀,冷不防对准那乌龟精的脖颈砍去。只听“咔嚓”一声,乌龟精倒在地上死了。

那乌龟精的神通全靠他那爪子,如果爪子还在,即使死了仍可复为人形,活转过来。所以公主就把乌龟精四个脚砍下来,割下爪子,用来做弓弩的扳机。自那以后,公主箭法大有进步,箭蔚无虚发,说要射中你的咽喉,不会偏到你的下巴上去。从此公主便威名远扬,人人都知道公主有把神弓。这天,她又来院墙内的校场练箭,举起弓弩,拉开弦,把手一放,只见那箭直向树枝条射去,真是不偏不倚,正中那挂着一串槟榔的枝条,槟榔串应声掉地。这时从墙头上传来叫好声、鼓掌声。

公主转过头来一看,见墙头上坐着一个人偷看她射箭。这一下可激恼了公主。难道这人吃了虏虎胆不成?便搭箭弦,手一松,那箭就直向王子的胸口射来。说时迟那时快,只见王子抽出宝剑,等到那支羽箭射到面前,王子用剑轻轻一拨,那箭就像散了骨架的鸟一样,掉下地来。

公主一连射了三箭,王子一连拨掉三次,三支箭都落到地上。

公主觉得这人不凡,便走上前来问王子是哪里人,来京城要干什么。王子说自己是西瓯国的王子,是来面见骆越王,要和骆越国结为友好国邦,要求公主带他去见骆越王。

公主犹豫了一下,心想,佩着宝剑去见父王,如果他要行刺可不得了!便对王子提出两个办法法,任由他选择其中一个。一个是不能佩剑进宫,宝剑由她照管;一个是如果一定要佩剑,必须用绳捆:捆绑去面见父王。

这王子同意第二个办法,就这样被公主绳索捆绑以后带去见骆越国王。王子见到骆越王后,立即呈上“和揖百越”宝剑,并代表自己的父王向国王表示要永世和好。

骆越王十分高兴。见到这王子长得英俊,举止文雅,言语不俗,有意招他为驸马。他便问公主意下如何?其实公主对王子早已有爱慕之心,一听父王问话,反而不好意思地红起脸来,便说:“由父王做主!”

在骆越王的主持下,王子和公主很快便结婚了,两人恩爱非常,如同那田边的白头翁和黑黑墨草碰在一起,叶子就胶粘起来一样。

不久,王子接到西瓯国王病危的消息,便来辞别骆越王和公主。公主怕路上不安全,便把“和揖百越”宝剑给王子佩上。公主送出十里,两人还依依不舍。

自从王子回国之后,公主顿觉宫室里冷冷清清,心中常常感到郁闷,武也懒得练了,箭也懒得射了。她每天都仿佛看见王子在庭院里走来走去,可总不见他推门进来。当她推开窗门一看,只见是一只乌鸦“呀”的一声飞走了。

有一天早上,公主刚走出庭院,突然见一个人跳过墙来,仔细一看,原来正是她日夜想念念自的王子。公主喜欢非常,也没有仔细问他从哪里来,便带进房里来。这王子一走进屋里,就立即向挂着的神弓走去,瞧瞧摸摸。公主感到奇怪,便说:“才离别几天,就不认识了?”那王子说:“怎么这上边都布满了灰尘啦?”公主说:“自从你回国之后,我孤单一人,哪还有闲心练弓呀!”

那王子一下就从墙上取下神弓。公主觉得这举动有些不正常,正要上前阻拦,只见那王子说:“公主威名全靠这把神弓,我爱神弓,也就是爱公主了。”说着,举起神弓,向窗外射去,只见那箭离开弓弦,便斜斜抖抖地向前飞去,没飞多远就掉落地下。

公主说:“这神弓全靠乌龟精的爪子做扳机才有神力,没有这扳机,箭就射不准了,难道你和我做了那么久的夫妻,倒把这忘了。”

那王子说:“不是我忘了,是公主忘了给我乌龟爪的扳机,请公主拿出来给我看看,让我也好练一下臂力。”

公主信以为真,就从怀里拿出乌龟精的爪子做的扳机来,刚一交到那王子手上,便发觉这王子没将宝剑带回来,便问:“王子,你的宝剑怎么不佩带回来?”

那王子突然然慌张起来,说:“是我怀念公主,私自离开父王出来的,我这就回去取剑再来。”

那王子说完,手执神弓和乌龟精爪子做的扳机,向地下一滚,竟然变成一只乌鸦,“呀”、“呀”地叫了两声飞走了。

这消息传到了骆越王那里,他就召集大臣们来商议。都说这是西瓯国王的阴谋,骗走了神弓,下一步一定是来侵骆越国了。为了取得主动,一定要先兴兵攻打西瓯。

正在这时西瓯国王刚死,举国哀悼,王子正披麻戴孝,安葬父王。忽然传信来,说骆越王亲自提兵犯境,感到奇怪。他心想一定是发生了什么误会,单人独骑前去问个清楚明白。他也没改装,凭身佩着“和揖百越”宝剑飞身上马,就如一阵风送着一朵白云一样,向边关飞去。

王子跑到边关一看,不得了,骆越王的兵马满山遍野,黑压压像傍晚雨天的乌云。只见他们涉过的河水留下满江泡沫,到处有死鱼浮起,犹如沙滩上的鹅卵石;这些兵马踏过山石,山石崩塌;走过草坡,骨草寸断,碎成尘埃;走过大路,大路尘土飞扬…

王子一个人如何挡得住这干军万马!只好向黄伞张盖的方向冲去,因为那地方一定是骆越王或者公主驻扎的地方。

这王子也是勇武非常,只见他一人一马,身上穿白,坐骑也是白的,就像一阵风送着一朵白云,向人群组成的篱笆那边冲去,只见人篱纷纷倒下。骆越王坐在马上忽见自己的人马骚乱起来,闪过人群,只见一人一骑向着自己方向冲来,便命令众兵将引弓搭箭,齐向王子方向射来。王子有宝剑在身,只见他挥舞着宝剑,那些射来的箭在他周围纷纷落下,一支也不能近身。

这时公主也提枪上马,冲向前去,枪尖直向王子的心窝刺来。王子急忙东躲西闪,接连用宝剑架开枪尖,赶忙说:“公主为何这么恼怒,竟然出兵侵犯边界,还要亲手杀死自己的丈夫!”

公主说:“你做的好事,我的父王有什么对不起你的?我有什么对不起你的?竟敢偷我们的国宝神弓,还准备兴兵灭国,你这样无情无义的负心人,不杀你何以面见我的父王?不杀你何以解我心头之恨?”

王子听了这番话,愣了一阵,不知是怎么回事,公主以为王子心虚了,便一枪刺来。王子身上那把“和揖百越”宝剑,可以自动防身,只听“咔嚓”一声,不但把公主的银枪挡住,而且把枪头也削断了。

这时王子翻身下下马,跪在公主面前,双手献上“和揖百越”宝剑,哭丧着脸说:“想我和公主恩爱夫妻,从没有什么过意不去。只因父王重病才辞别回家,本想父王好了就回去和公主团聚。谁知父王天年已尽,归天上去了。如今全国举哀,却见你国兴兵前来犯境;为了拯救生民,才顾不得死活,前来冲阵。你要杀我非常容易,只恐你误上坏人的当。说什么偷盗你的国宝神弓,这是哪有的?现在为了表明我的心地纯正,愿献上宝剑;要杀就杀,要剁就剁!”说完,双手把宝剑捧上。

公主接了宝剑,正在犹豫不决的的时候,骆越王却在后边大发雷霆,下着命令:“大家听着,如果我喊一、二、三,公主还不把狗才杀了,说明她被那狗才迷住了,你们就给我万箭齐发,把他们两人一起杀死;如果喊到二,公主杀了那狗才,你们大家都给我收起弓箭来,不得有误!”

一声令下,众兵将个个把公主和王子包围起来,张弓搭箭,对准了他们。

王子说:“公主,就请你杀死我吧!免得你也遭难……”

公主想着想着,也醒悟到那个偷骗宝弓的王子一定是精怪变的,无奈父王不容辩解,便哭泣起来。

这时,听到骆越王喊起“一、二……”

没有喊到三,王子担心公主和自己一起被乱箭射死,便拉过宝剑向自己脖颈一抹,进出一道鲜血,就倒地死了。

公主跳下马来,把王子尸体紧紧抱住,伏在王子的身上痛哭不止。

骆越王这时突然“哎哟”一声,用手护着胸,倒下去了。众将忙过来扶着,只见背后插过一支箭,穿透了前胸。众人回过头来一看,原来是那乌龟精,手执神弓,扬扬得意地在后面山头狞笑。

“神弓到我手里来了!”

说着,只见他一跳,便变成一只乌鸦,朝公主这边来,落在地上翻了一个筋斗,现了原形:蛇的头,兔子尾,矮墩墩的,披着像斗篷一样的甲胄……

乌龟精说:“公主,还是你和我有缘分,我们结婚吧!”说完,就要上前来攫住公主。

公主突然回头给他一巴掌,把乌龟精打得两眼昏花,乌龟精站立不住,翻了一个筋斗,跳到高坡说:

“公主听着,当我变成王子到你的宫院时,还没得到我的爪子,所以不敢接近你。如今爪子已归还原主,我已成为金刚之身,加上神弓在手,我可以随时要你的命,我限你立刻答应做我的妻子,否则这神弓向你一射,你也就活到现在为止了。”

公主怒目而视,没有讲话。

那乌龟精突然在地上一滚,竟变成王子的模样走上前来,嬉皮笑脸地说:“公主,如果你爱王子这个模样,我就永远变成这样,我们做夫妻吧!”

公主突然记起王王子那“和揖百越”宝剑是可以挡住神弓的宝物,便猛地抽出宝剑。乌龟精顿时感觉有一股冷飕飕的寒气向他逼来,赶紧缩起头来,在地上打个滚,又变成一只乌鸦飞上高坡。

乌龟精在高坡上对公主喊着:“你如果不答应,我要放箭了!”

公主飞身上马,挥着宝剑,朝乌龟精冲来,乌龟精便拿起神弓搭起箭向公主射去。谁知那箭射到公主身边,便给宝剑挡住落到地上了,一连三箭都是如此。这时公主已跑到乌龟精面前,乌龟精知道抵挡不住了,便向海边逃去。

当乌龟精跑到海边,便回头对着追赶他的公主说:“好公主,谢谢你送我到海边来,最后还是提那句话,如果你不嫁给我,我就让这海水向你的国家倒灌过来,把你和你国家的人民,全部拿来喂鱼喂虾,到那时你方知道我的厉害!”

乌龟精说完,就要跳下海去。公主怕来不及近他身边,急匆匆地把宝剑向乌龟精掷过去。只听“咔嚓”一声,乌龟精的头被宝剑砍下来。公主一小做二不休,生怕这乌龟精还了魂再出来作怪,把他剁成碎泥,撒到荒坡上,叫他永世再也不能凑合起来。

公主对着那“和揖百越”宝剑哀哀哭泣。她的泪珠流到海里,被蚌含去,就成为珍珠了,而王子洒在骆越国土地上的鲜血,也化为一股清泉。到现在,海边的人如果剖开蚌得到珍珠,一定要拿到由王子血水变成的清泉里去洗。据说用这汪泉水洗过的珍珠,比其他的珍珠更洁净,更晶莹。


Saigon 8.2017 – 张泰游

 

 

吃了吗 – Ăn cơm chưa

Leave a comment

Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Do thái giáo: Thánh Kinh mô tả vườn Eden bờ xôi ruộng mật, thiên đường viên mãn. Đây phải chăng chính là mơ ước của con người trước cuộc sống nhọc nhằn khổ cực, y như viễn cảnh Jehovah đã rủa Adam trong Cựu Ước: “Trọn đời ngươi phải chịu khó nhọc mới có vật đất sanh ra mà ăn. Ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn.” Đó cũng là lý do người phương Tây mộ đạo luôn cảm ơn Chúa trước bàn ăn.

Hindu giáo, Phật giáo: Kinh Veda tả Niết bàn là tịch tĩnh, thỏa mãn, giải thoát. Theo Will Durant, nói cho cùng khởi đầu của nó cũng chính là giải thoát khỏi tự nhiên khắc nghiệt của tiểu lục địa Ấn Độ.

Đạo giáo, Nho giáo: Đi tìm bất tử, chân nhân phiêu du tang bồng nơi sơn cùng thủy tận. Thiên đường của người Á Đông cũng đủ đầy nhưng đặt biệt nổi bật là cây đào tiên trường sinh. Người ta chỉ đi tìm bất tử khi đã thỏa mãn cái ăn, cái mặc và có một đời sống tinh thần phong phú. Trên căn bản thổ nhưỡng và khí hậu, Á Đông cổ đại là nơi được thiên nhiên ưu đãi đặc biệt. Do đó tận gốc rễ của mình, tín ngưỡng Á Đông hoàn toàn khác biệt với tín ngưỡng Lưỡng Hà và Ấn Độ.

… cho đến khi trong Hán ngữ xuất hiện lời chào liên quan đến cái ăn: “吃了吗 – Ăn cơm chưa”. Nó cũng rất phổ biến ở Việt Nam cận đại cũng như Hàn quốc – “밥(을) 먹었어요?”.

moca1

Theo một số nghiên cứu, lời chào này ra đời muộn nhất là từ thời Minh và đã được người Bồ Đào Nha ghi chép vào sách vở khi đến giao thương và truyền đạo ở khu vực Phúc Kiến, Quảng Đông. Đây chắc chắn là hậu quả của nạn nhân mãn nếu căn cứ vào biểu đồ phát triển dân số Trung Quốc: 1000 năm từ Hán đến cuối thời Đường nhân khẩu khá ổn định ở mức 60 đến 80 triệu. Sau đó là các bước nhảy lên 110 triệu của Tống và Minh. Đầu nhà Thanh nó đã vọt đến 140 triệu. Trong khi đó khoa học và kỹ thuật hầu như dẫm chân tại chỗ, đất đai hẳn không còn màu mỡ như từng được tả thực ở thời Chu cách đó hơn 2000 năm trong Kinh Thi.

Người châu Âu thoát khỏi dã man nhờ Thiên Chúa giáo, một nhánh tôn giáo Babylon. Thời phục hưng họ vồ vập khoa học Hy Lạp từ sử thư Lưỡng Hà, coi đó là phát tích của mình cũng như văn minh toàn nhân loại. Đến khi nô dịch được Ấn Độ lại cho rằng Ấn Độ mới nhất quả đất. Họ lờ đi thực tế, đối thủ nặng ký trực tiếp bên cạnh họ lúc ấy là đế chế Ottoman sừng sững trên nền móng Lưỡng Hà. Chủng Aryan có nguồn gốc Lưỡng Hà đã thắp sáng Ấn Độ từ màu da đến các tiền đề của văn minh. Đấy là chưa nói đến Á Đông, đi muộn hơn Lưỡng Hà 1000 năm nếu tính từ thời điểm thuần hóa cây trồng và vật nuôi đầu tiên nhưng rực rỡ không kém. Đặc biệt nó hoàn toàn độc lập từ bình minh lịch sử của mình và có những thành tựu vẫn được lưu giữ trong sách vở cho đến ngày nay: thiên văn, toán học, chiêm tinh, tín ngưỡng, triết học, nông nghiệp, thương mãi, thi ca, văn chương…

Lịch sử nhân loại đã và đang được viết bởi người phương Tây là thứ lịch sử đầy dẫy sai lầm. Nó vừa tuyệt đối vô ơn với Lưỡng Hà, ngộ nhận có chủ ý với Ấn Độ và ngấm ngầm phủ nhận Á Đông.

Việt đế, Nhật hoàng và Nho giáo

Leave a comment

Năm 214 BC Tần Thủy Hoàng xua 500 ngàn dân binh tràn xuống Bách Việt. Năm 211 BC Lâm Lộc đào Linh Cừ, thông nối thủy hệ Trường Giang và Tây Giang, giúp quân Tần chiếm Quế Lâm, Ngũ Lĩnh, Thương Ngô, Nam Hải. Cuối năm 208 BC đến đầu năm 207 BC Triệu Đà cát cứ một vùng đất rộng lớn phương nam rồi dần dần xưng Đế. Năm 196 BC Lưu Bang ép Triệu Đà hạ đế hiệu xuống vương tước, khuyên nhủ “Hòa tập Bách Việt”. Đây là thời điểm Pax Sinica cổ đại ra đời, đối xứng với Pax Romana phía tây bán cầu. Tần Thủy Hoàng là thiên tử Bắc triều đầu tiên tự xưng HOÀNG ĐẾ 皇帝 và dùng một câu Chu dịch của Nho thư làm slogan: “Nam diện hướng minh nhi trị”.

Trong suốt lịch sử của mình, vua chúa người Việt luôn mang nặng tâm tư của Triệu Đà và quyết phải dùng chữ Đế, dù đôi khi vẫn len lén áp dụng “trong đế ngoài vương” như họ Triệu xa xưa. Cho đến năm 1945, tuy nền phong kiến không còn, tư tưởng Nho giáo vẫn phảng phất trong tên hiệu của lãnh tụ Việt, dù chữ HƯỚNG đã bị ẩn sang chữ CHÍ. Pax Sinica cổ đại chính thức khai tử ở phía nam: “Nam diện CHÍ MINH nhi trị”

Ở phía đông, người Nhật thích dùng chữ Hoàng hơn chữ Đế. Họ phủ nhận Pax Sinica cổ đại từ năm 1868. Và lạ lùng thay, vua Nhật cũng dựa vào Chu dịch để mở ra thời đại “Minh Trị” và gọi tôn vị của mình là Thiên Hoàng: : “Nam diện hướng MINH nhi TRỊ

Hoàng và Đế hay Hoàng Đế, về bản chất là các thuật ngữ của học thuyết tín ngưỡng chính trị Nho giáo. Kể từ khi người Trung Quốc nửa muốn từ bỏ, nửa muốn làm mới nó ở đầu thế kỷ 20, Nho giáo đã tồn tại 2400 năm và đang ở hiện tình bất lực giữa thời cuộc. Chia đôi khoảng thời gian này ra, như mọi hình thức tôn giáo, chúng ta sẽ có nửa tích cực đi trước dài 1200 năm và nửa phản động đằng sau cũng khoảng 1200 năm. Điểm cực thịnh của Nho giáo rơi đúng vào triều ĐẠI ĐƯỜNG khi xã hội Trung Hoa đang lục tìm trong kinh Phật một ý nghĩa nội sinh nào đó.

Đầu thế kỷ 21, tư duy làm mới Nho giáo đang thắng thế ở Trung Quốc. Pax Sinica, như một số nhà nghiên cứu phương Tây đã chỉ ra, đang hồi sinh. 72 năm nay nước Nhật có ngủ ngon trong lòng Pax Americana? Còn các vị Việt đế đã tìm ra cho mình học thuyết chính trị hậu hiện đại nào chưa? Họ đã từng ướm thử Pax Russiana, nhưng rất tiếc nó không phù hợp.

1

Từ cuối thế kỷ 20 người Mỹ đã mường tượng ra Pax Universalis để thay thế Pax Americana đầy tai tiếng. Không rõ lý thuyết ấy phát triển đến đâu rồi.

Ý nghĩa thiên văn của bốn chữ Hán đông tây nam bắc

Leave a comment

Bắc 北: Vốn đồng âm và đồng nghĩa với chữ Bối 背 tức là lưng. Giáp cốt văn vẽ hình hai người quay lưng lại với nhau (hình 1). Giữa trưa nếu người Trung Quốc cổ đại (ở vĩ độ 34-35) nhìn thẳng về phía mặt trời thì sau lưng họ chính là hướng chính bắc.

Bei

Nam 南: Các nhà nghiên cứu chữ viết xưa nay cho rằng giáp cốt văn của nó là hình một loại nhạc khí. Tuy vậy, ý nghĩa thiên văn rõ ràng của chữ Bắc dẫn đến khả năng giáp cốt văn của Nam mô tả mặt trời ở thời điểm ban trưa nóng nực, thấp thoáng chữ Hỏa (hình 2).

Nan

Đông 東: Chữ Đông giáp cốt vẽ mặt trời nằm giữa một cây cổ thụ, tức mặt trời mới mọc (hình 3).

Dong

Tây 西: Sách Thuyết Văn đời Hán cho đấy là hình chim nằm trên tổ, buổi chiều chim bay về tổ cùng hướng mặt trời lặn. Do đó gọi phương ấy là Tây (hình 4).

Xi

Tất nhiên, Hán ngữ có quá trình phát triển, bồi đắp, thay thế… ít nhất là 4000 năm. Dấu vết thiên văn cổ đại của nó còn nhiều như đã liệt kê ở trên là khá bất ngờ.

Rất cần dịch giả Việt – Anh!

Leave a comment

Tôi có lẽ là người đầu tiên dùng các lý thuyết thiên văn khảo sát orientation của nền móng các di chỉ khảo cổ ở văn minh Lưỡng Hà, Egypt và Trung Quốc.

Từ bản chất xác định mùa màng, năm tháng và ngày giờ của thiên văn cổ đại, tôi đã tính được đồng hồ mặt trời Egyp năm 2700 BC, Babylon năm 2300 BC và thành quốc Đào Tự ở Sơn Tây – Trung Quốc năm 2300 BC có sai số bằng nhau là ±15 phút, tương đương 5 độ góc cũng chính là góc quay của mặt trời trên quỹ đạo ở một ngày nhất định trong 15 phút.

Đây là gì nếu không phải một thước đo mới cho văn minh loài người nói chung, khoa học nói riêng?

Pyramid of Djoser_2700BC_5

Ảnh 1: Trục chính đạo đông – tây Kim tự tháp Djoser (2700 BC) lệch 5 độ so với phương vị đông tây chuẩn.

babylon_2300BC_10

Ảnh 2: Trục chính đạo đông – tây của đền thờ và lâu đài Babylon (2300 BC) lệch 5 độ so với phương vị đông tây chuẩn.

Taosi_Plan_5degree_2300BC

Ảnh 3: Khác với phương Tây, người Trung Hoa cổ dùng trục chính đạo bắc – nam, chính đạo ở hoàng thành và đàn tế trời gọi là Ngự đạo, ở lăng mộ hoàng đế gọi là thần đạo. Dấu vết nền móng cung điện ở Đào Tự – Sơn Tây – Trung Quốc (2300 BC) lệch 5 độ so với phương vị bắc nam chuẩn.

Tôi tin những khám phá này cần được học giới quốc tế xem xét và phản biện. Do đó tôi rất mong cộng tác (có thù lao) với một dịch giả Việt – Anh yêu thích lịch sử để chuyển ngữ tài liệu qua tiếng Anh. Đầu tiên chỉ là một bài báo đơn giản khoảng 2000 đến 3000 chữ, gửi đến tạp chí Nature chẳng hạn.

Xin vui lòng liên hệ truongthaidu@gmail.com.

Thạch viên 15.7.2017

T.T.D

Nam Man Tây Nam Di Liệt Truyện

Leave a comment

Người dịch: Trương Thái Du

Nguồn: Hậu Hán Thư

(Xin tôn trọng bản quyền khi trích dẫn hoặc sử dụng)

Các phân đoạn do người dịch đặt tên căn cứ trên nội dung.

(Trích Khảo Chứng Tiền Sử Việt Nam bằng Cổ thư và Thiên văn học)

1. Từ Trung Nguyên xa xưa đến Hồ Nam

Ngày xưa nước Cao Tân gặp nạn Khuyển Nhung, nhà vua lo lắng vì bị giặc tàn bạo xâm lấn, không chống đỡ nổi. Vua bèn hỏi khắp thiên hạ ai có thể làm tướng đánh Khuyển Nhung, lấy được đầu Ngô tướng quân của địch, sẽ thưởng vàng ngàn lạng, phong ấp vạn nhà, lại gả thêm công chúa làm vợ. Khi ấy vua đang nuôi một con chó lông năm màu, tên gọi là Bàn Hồ. Sau khi vương lệnh ban ra, Bàn Hồ liền ngoạm đầu tướng địch đặt trước cửa cung điện. Quần thần kinh ngạc xem xét, quả đúng là thủ cấp Ngô tướng quân. Vua rất vui mừng nhưng thấy không thể để Bàn Hồ làm phò mã, cũng như không thể phong tước hàm, muốn cân nhắc thông báo cho Bàn Hồ điều này là không thích hợp với đạo lý. Công chúa nghe tin, cho rằng một khi hoàng thượng đã ban lệnh ước, không thể không giữ chữ tín, bèn yêu cầu vua cha thực hiện lời hứa. Bất đắc dĩ, vua phải gả công chúa cho Bàn Hồ. Bàn Hồ cưới được vợ, bèn cõng công chúa đi về vùng núi phía nam, vào hang đá sinh sống. Xứ sở ấy thâm sâu hiểm trở, không có dấu vết con người. Do vậy công chúa bỏ hết quần áo, búi tóc kiểu nô bộc hèn hạ, mặc trang phục áo liền quần giản đơn. Vua buồn thương nghĩ ngợi, sai sứ giả đi tìm, lần nào cũng vậy, gặp mưa gió sấm chớp tăm tối, sứ giả không tiến vào được. Sau ba năm công chúa sinh được mười hai người con, sáu nam sáu nữ. Sau khi Bàn Hồ chết, những người con này lấy nhau. Họ tước vỏ cây, nhuộm màu bằng các loại quả và hạt, rồi kết thành quần áo ngũ sắc, khi cắt may lúc nào cũng đính hình dạng một cái đuôi đằng sau. Đến khi công chúa qua đời, những người con kia về báo tin cho vua, ngài sai người tiếp đón. Quần áo đám cháu ngoại vua sặc sỡ, ngôn ngữ liến thoắn rời rạc, họ thích sống ở hang hốc trong núi cao, không ưa chốn đất bằng rộng rãi. Vua chiều lòng họ, ban cho danh tính là Sơn, Quảng và Trạch. Sau này nhóm người ấy sinh sôi lan tỏa, xưng là Man Di. Người Man Di vẻ ngoài khờ khạo, bên trong thông tuệ, đã trở về sinh sống dưới mặt đất, nhưng trọng cựu khinh tân. Vì công tích của tổ tiên Bàn Hồ, và có dòng máu công chúa, người Man Di cày cấy buôn bán, không cần phù tín ra vào cửa quan ải, không phải nộp tô thuế cho nhà nước. Họ có làng xóm và quân trưởng, quân trưởng đều được phát ấn thụ (ấn buộc dây thao đeo cổ), đội mũ làm bằng da rái cá. Thủ lĩnh (cừ soái) Man Di xưng là Tinh Phu, gọi người dưới là Ương Đồ. Hai quận Trường Sa và Vũ Lăng hiện nay (thời điểm Đông Hán) là đất Man Di vậy.

Thời Đường Ngu, vua Nghiêu vua Thuấn cùng người Man Di lập minh ước, (sách) xưa viết là yêu cầu phục tùng. Đến nhà Hạ, nhà Thương, họ dần dần trở thành tai họa nơi biên giới. Qua triều Chu, bọn ấy càng thêm cường thịnh. Lúc Tuyên vương trung hưng (827 BC – 782 BC), bèn ra lệnh Phương Thúc nam phạt Man Di, nên có thơ rằng “Uy quyền đến tận xứ Man Kinh”. Thơ còn viết “Bọn Man Kinh ngu ngốc ấy, là kẻ thù của nhà Chu”. Người ta cho rằng Man Di phồn thịnh, là nhờ dám chống lại người Hoa Hạ.

Đến khi Bình vương đời đô sang phía đông, lập triều Đông Chu (771 BC), người Man lại đánh phá ác liệt. Quan phụ chánh Tấn Văn Hầu bèn mang theo Thái Cộng Hầu triệt được giặc. Qua thời Sở Vũ vương (740 BC – 690 BC), người Man và người La Tử hợp sức đánh bại quân Sở, giết được tướng Khuất Hà. Lúc Trang vương (613BC – 591 BC) mới lên ngôi, dân đói quân yếu, lại bị người Man cướp phá. Sau khi quân Sở chấn chỉnh cường thịnh, người Man bèn thuận phục, tự giác xin nhập vào nước Sở. Trong trận Yên Lăng (575 BC), người Man cùng Sở Cung vương hợp binh đánh Tấn (tranh bá Trung Nguyên). Lúc Ngô Khởi (440 BC – 381 BC) làm tể tướng cho Sở Điệu vương, phía nam thâu tóm Man Việt, chiếm cứ Động Đình hồ và Thương Ngô. Tần Chiêu vương sai Bạch Khởi đánh Sở, chiếm lấy Man Di, đầu tiên đặt quận Kiềm Trung (276 BC). Nhà Hán lên, đổi Kiềm Trung thành Vũ Lăng. Hằng năm thu thuế người lớn bốn trượng, trẻ em hai trượng vải bố (vải gai), cho nên gọi người ở đấy là Tung Bố. Tuy thời ấy, người Man Di vẫn thường cướp bóc, nhưng không đủ mạnh để trở thành quận nạn hay quốc nạn.

Thời Hán Quang vũ trung hưng (sau năm 25 AD), người Man Di ở Vũ Lăng đặc biệt cường thịnh. Năm Kiến Vũ thứ 23 (48 AD), Tinh Phu (cứ soái) cùng với bọn Đan Trình đánh và chiếm cứ cửa ải hiểm trở, cướp bóc quận huyện. Quang Vũ sai Uy vũ tướng quân Lưu Thượng phát binh Nam quận, Trường Sa, Vũ Lăng hơn vạn người, dùng thuyền đi ngược sông Nguyên xâm nhập Vũ Khê công kích. Lưu Thượng khinh địch đi vào hiểm địa, núi non thâm u, thác gềnh nước réo, thuyền không thể ngược dòng. Người Man biết Thượng từ xa đến, lương thảo ít, lại không rõ đường ngang ngõ tắt, bèn tụ tập binh lực trấn giữ yếu địa. Lưu Thượng hết cái ăn, phải lui quân, người Man men theo đường lớn hẻm nhỏ tập kích, tiêu diệt Hán quân. Năm thứ 24 (49 AD), đánh bọn Đan Trình rồi đi xuống công phá Lâm Nguyên, sai Yết giả Lý Tung và Trung Sơn thái thú Mã Thành tập kích, nhưng không thể thắng. Mùa xuân năm sau, sai Phục ba tướng quân Mã Viện và bọn Trung lang tướng Lưu Khuông, Mã Vũ, Tôn Vĩnh dẫn quân đến Lâm Nguyên, đánh phá được quân Man. Bọn Đan Trình nguy khốn xin hàng, đúng dịp Mã Viện ngã bệnh rồi chết, Yết giả Tông Quân tiếp nhận sự đầu phục. Nhà Hán thiết trí quan lại cai trị, nhóm Man Di ở đây được bình định.

Thời Túc tông, năm Kiến sơ thứ nhất (76 AD), bọn người Man là Trần Tòng tại sông Lễ quận Vũ Lăng làm phản, tiến vào địa giới người Man tại Linh Dương. Mùa đông cùng năm, Tinh Phu (cừ soái) Linh Dương, người Man tộc Ngũ Lý, trước đã thuận Hán thiết lập thành quận, đánh tan được Tòng, bọn Tòng đều đầu hàng. Mùa đông năm Kiến nguyên thứ ba (78 AD), người Man ở sông Lâu, bọn Đàm Nhi Kiện lại nổi loạn, tấn công đốt phá địa giới Linh Dương, Tác Đường, Sàn Lăng. Mùa xuân năm sau, phát binh bảy quận Kinh Châu cùng với Nhữ Nam, Dĩnh Xuyên, thêm vào những kẻ phạm tội cùng sĩ lại được hơn năm ngàn người, phòng thủ tại Linh Dương, tuyển mộ bổ xung bốn ngàn người trong quân không làm phản của Tinh Phu tộc Ngũ Lý, đánh giặc nơi sông Lễ. Mùa xuân năm thứ năm (80 AD), bọn Đàm Nhi Kiện xin hàng nhưng không được chấp nhận. Người các quận tiến binh giao chiến tại Hoành Hạ, đại phá giặc, chém được đầu Nhi Kiện, tàn quân Man bỏ chạy về lại sông Lâu, một lần nữa sai người đến xin hàng, bèn chấp nhận. Từ ấy bãi đồn binh Vũ Lăng, ban thưởng mọi người.

Thời Hòa đế, mùa đông năm Vĩnh nguyên thứ tư (92 AD), bọn người Man Đàm Nhung ở vùng sông Lâu sông Lễ làm phản, đốt phá nhà trạm, cướp giết quan lại và dân thường, quận binh đánh dẹp phải hàng. Thời An đế năm Nguyên sơ thứ hai (năm 115), người Man ở sông Lễ nại sưu dịch và mức thuế của quận huyện không bình đẳng, cho nên mang oán hận, bèn tụ tập thu nạp trong các giống Man hơn hai ngàn người, tấn công thành trì giết trưởng lại. Châu quận mộ quân người Man Ngũ Lý và Lục Đình truy kích phá được, tất cả đều đầu hàng. Triều đình ân thưởng thủ lĩnh Ngũ Lý và Lục Đình vàng bạc không bằng nhau. Mùa thu năm sau, bốn ngàn người Man sông Lâu sông Lễ cùng lúc nổi dậy. Lại có bọn Dương Tôn, Trần Thang hơn ngàn người Man Linh Lăng chít lụa đỏ trên đầu, tự xưng tướng quân, đốt phá quan dinh, cướp bóc trăm họ. Châu quận tuyển mộ người Man lương thiện, trừ được.

Đời Thuận đế, năm Vĩnh hòa thứ nhất (năm 136), thái thú Vũ Lăng gửi thư lên hoàng đế, nói rằng người Man Di đã qui phục, có thể xem như ngang với người Hán, phải tăng tô thuế. Triều đình thảo luận đều cho rằng khả thi. Thượng thư lệnh Ngu Hủ đọc bản tấu viết: “Từ xưa các thánh vương không cho người dị tục làm thần dân, bởi không dùng đức thì không gần họ được, uy vũ không thể khuất phục họ, biết rõ cái tâm hoang dã tham lam của họ, rất khó dùng lễ. Xưa tuy đã lung lạc yên phủ, dùng khuôn phép phù hợp truyền thụ để họ không chống đối, khi họ không noi theo cũng không truy cứu. Phép cũ của tiên đế, nộp thuế ít hay nhiều, cứ thế nương theo thì sẽ được bền lâu. Nay tăng lên nhiều, tất có oán phản. Đắc kế là vậy, nếu không dùng, sau này sẽ hối tiếc.” Nhà vua không nghe. Mùa đông năm ấy, quả nhiên người Man ở sông Lễ sông Lâu tranh cãi việc cống nạp vải gai không như lệ cũ, cuối cùng giết hương lại, tập hợp người làm phản. Mùa xuân năm sau hai vạn người Man vây kín thành, tám trăm người cướp bóc trên đường. Vua sai Vũ Lăng thái thú Lý Tiến đánh dẹp, chém mấy trăm thủ cấp, số còn lại đầu hàng. Tiến bèn tuyển chọn quan lại thanh liêm, được lòng người Man. Lý Tiến làm việc tại quận ấy chín năm, đến khi Lương thái hậu trông coi triều chính, hạ chiếu tăng bổng lộc hai ngàn thạch, cấp hai vạn tiền. Đến thời Hoàn đế, mùa thu năm Nguyên gia thứ nhất (năm 151), người Man ở Vũ Lăng là bọn Chiêm Sơn hơn bốn ngàn người nổi loạn, bắt nhốt huyện lệnh, trấn thủ trong núi sâu. Đến năm Vĩnh hưng thứ nhất (năm 153), thái thú Ứng Phụng dùng ân tín chiêu dụ, tất cả mới đầu hàng và giải tán.

Tháng 11 năm Vĩnh thọ thứ ba (năm 157), người Man ở Trường Sa nổi loạn, chiếm đóng Ích Dương. Đến mùa thu năm Diên hi thứ ba (năm 160), tiến đến cướp đoạt trong quận, đông hơn vạn người, sát thương trưởng lại. Lại thêm người Man ở Linh Lăng vào Trường Sa. Đến mùa đông, người Man ở Vũ Lăng hơn sáu trăm mạng cướp bóc ở Giang Lăng, thứ sử Kinh Châu Lưu Độ, Yết giả Mã Mục và thái thú Nam quận Lý Túc đều bỏ chạy. Quan chủ bộ của Lý Túc là Hồ Sảng giữ cương ngựa can gián: “Man Di thấy quận không phòng bị, cho nên dám thừa cơ tiến đánh. Ông là đại thần quốc gia, thành quách liên tục hàng ngàn dặm, giương cờ đánh trống, mười vạn người đáp lại, sao nỡ vứt đi trọng trách thái thú được giao, ông chấp nhận làm kẻ bỏ chạy được ư?” Túc rút đao chỉ vào Sảng nói: “Phó quan nên chạy gấp đi. Thái thú ta vội lắm, chẳng rỗi mà suy tính đâu.” Sảng ôm ngựa cố can ngăn, Túc bèn giết Sảng rồi đào tẩu. Vua nghe việc này, triệu Lý Túc đến tước bỏ quan chức, cùng Lưu Độ và Mã Mục xử tử cả bọn, miễn trừ tô thuế sưu dịch cho gia đình Hồ Sảng, phong một người trong họ làm quan. Sau đó lấy Hữu hiệu lệnh Độ Thượng làm thứ sử Kinh Châu thảo phạt giặc Trường Sa, bình định người Man. Lại sai Xa kỵ tướng quân Phùng Cổn, đánh Man Di Vũ Lăng, tất cả đều đầu hàng giải tán. Sau khi quân Hán rút về, giặc trở lại đánh cướp Quế Dương, thái thú Liệu Tích trốn chạy. Người Man ở Vũ Lăng lại tiếp tục phá quận ấy, thái thú Trần Phụng dẫn quan quân dẹp được, chém hơn ba trăm thủ cấp, hơn hai ngàn kẻ đầu hàng. Đến đời Linh Đế, năm Trung bình thứ ba (năm 186), người Man Vũ Lăng lại nổi dậy, cướp phá trong quận, châu quận đánh dẹp được.

2. Từ Hồ Nam trở xuống phía nam, đến Nhật Nam.

Sách Lễ Ký viết: “Phương nam gọi là Man, người Giao Chỉ thích chữ lên trán11.” Trong tập tục ở nơi ấy, nam và nữ có thể cùng tắm trên một dòng sông, người xưa gọi là xứ Giao Chỉ. Tây (Giao Chỉ) có nước Đạm Nhân, người ở đó khi sinh được đứa con đầu lòng liền làm thịt mà ăn, cho là chỉ nên giữ nuôi từ đứa con thứ hai. Có món ngon của lạ, phép tắc nơi ấy là phải đem biếu tù trưởng, nếu tù trưởng vui lòng sẽ hậu thưởng cha mẹ kẻ hiến tặng. Chọn được vợ đẹp, phải nhường lại cho anh ruột. Đấy là người Ô Hử ngày nay vậy.

Phía nam Giao Chỉ có nước Việt Thường. Năm nhiếp chính thứ sáu của Chu Công (khoảng 1.018 BC), đặt ra lễ, sáng tác nhạc, thiên hạ thái bình, Việt Thường qua ba lần dịch thuật đến hiến bạch trĩ, nói rằng: “Đường xá xa xôi, sông núi cách ngăn, không hiểu lời sứ giả, cho nên chúng tôi phải dùng nhiều lần phiên dịch đến triều kiến.” Thành vương nhìn sang Chu Công. Chu Công nói: “Nếu không tích đức, người quân tử có được hưởng phước lộc như thế này không? Luật pháp không thực thi, người quân tử có được những kẻ ở xa đến xưng thần không? Tôi đồng ý nhận lễ vật này.” Sứ giả kính cẩn trả lời: “Tôi thụ mệnh chuyển lời của già làng nước mình: Bao lâu nay, trời không giáng sấm chớp bão tố, ý rằng ở Trung Quốc có thánh nhân chăng? Sao không đến đó mà chầu kiến?” Chu Công bèn quay qua Thành vương, ca tụng tiên vương có thần trí, rồi đem đồ cống dâng cúng tông miếu. Sau này đức nhà Chu suy, Việt Thường không còn đến nữa.

Đến thời Sở xưng bá, họ triều cống thay cho Bách Việt. Nhà Tần thống nhất thiên hạ, dùng sức mạnh khuất phục Man Di, đầu tiên khai mở vùng đất phía ngoài Ngũ Lĩnh, đặt các quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng. Khi Hán hưng, quan Úy tên Đà tự lập làm Nam Việt vương, truyền được năm đời. Đến thời Vũ đế, năm Nguyên đỉnh thứ năm (112 BC), diệt Nam Việt phân làm chín quận, đặt thứ sử trông coi (Giao Chỉ bộ gồm 9 quận). Châu Nhai và Đam Nhĩ là hai quận ngoài hải đảo, đông tây rộng ngàn dặm, nam bắc khoảng 500 dặm. Thủ lĩnh người Man cho rằng tai dài là cao quý, người ở đấy đều dùng ngoại vật xuyên qua tai, để căng dài thùy tai rủ xuống ba thốn (khoảng 10cm). Cuối thời Vũ đế, Châu Nhai thái thú người Cối Kê tên là Tôn Hạnh áp sưu thuế rất cao, người Man không chịu nổi, bèn nổi lên chiếm quận giết Hạnh. Con Hạnh là Tôn Báo tập hợp những kẻ thân thiết giành lại quận phủ, tự lãnh việc trong quận, truy kích các dư đảng người Man, liên tục mấy năm mới bình định được. Tôn Báo sai sứ giả gói gém ấn thụ của cha đem về triều đình cùng với thư tâu trình công trạng, vua liền ra chiếu chỉ phong Báo làm thái thú Châu Nhai. Từ đó uy quyền danh chính thực thi, mỗi năm đều hiến cống. Người Trung Quốc tham châu ngọc quý báu ở đây, cứ dần dần lấn ép hà hiếp bóc lột dân Man, cho nên vài năm người Châu Nhai lại nổi dậy một lần. Thời Nguyên đế, năm Sơ nguyên thứ ba (46 BC), bãi bỏ quận này. Đại khái lập quận và trấn đóng được 65 năm.

Tới thời Vương Mãng phụ chánh, năm Nguyên thủy thứ hai (năm 2 sau Công nguyên), có nước Hoàng Chi phía nam Nhật Nam đến hiến cống tê giác. Nói chung đất Giao Chỉ đã được thống thuộc, tuy đặt thành quận huyện, nhưng ngôn ngữ của họ khác biệt, phải qua phiên dịch mới hiểu được. Con người hoang dã, già trẻ không phân biệt. Họ búi tóc ra sau gáy, đi chân đất, phục sức  bằng vải gai quấn quanh đầu. Sau này tội nhân Trung Quốc bị đày xuống đây, hỗn cư hòa trộn, dần dần người quận Giao Chỉ hiểu được tiếng Hán, và từ từ được lễ hóa.

Đến Quang vũ đế trung hưng (sau năm 25), Tích Quang được cử làm thái thú quận Giao Chỉ, Nhâm Diên làm thái thú Cửu Chân, hướng dẫn người hai quận ấy canh nông trồng cấy, đội nón mang giày dép, bắt đầu sắp đặt nghi thức mai mối, họ mới biết áp dụng phong tục hôn nhân theo kiểu người Hán, lại xây trường học, dạy dỗ lễ nghĩa và đạo lý.

Năm Kiến vũ thứ 12 (năm 36), người Man Lý tên Trương Du ở ngoài Cửu Chân, hâm mộ nhà Hán, mang dân chúng xin nội thuộc, được phong Quy Hán Lý quân. Năm sau người Man Di ngoài cõi Nam Việt cũ cống bạch trĩ và thỏ trắng. Đến năm thứ 16 (năm 40), người đàn bà quận Giao Chỉ tên Trưng Trắc cùng em gái Trưng Nhị nổi dậy, đánh chiếm quận phủ. Trưng Trắc là con gái Lạc tướng huyện Mi Linh. Bà là vợ ông Thi người huyện Chu Cấu, rất tài giỏi và đảm lược. Thái thú quận Giao Chỉ là Tô Định dùng pháp luật trói buộc, Trưng Trắc nổi giận, do đó phản kháng. Lúc ấy người Man Lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, đại khái chiếm được 65 thành ấp, tự lập vương quyền. Thứ sử Giao Chỉ bộ (gồm chín quận) và các thái thú gần đó đành tự thủ thân. Quang vũ đế bèn ra chiếu chỉ cho Trường Sa, Hợp Phố và các quận khác trong Giao Chỉ bộ sửa soạn xe và thuyền, tu sửa cầu đường, thông khe lạch cản trở, tích trữ lương thảo. Năm thứ mười tám (năm 42), sai Phục ba tướng quân Mã Viện cùng Lâu thuyền tướng quân Đoàn Chí, lấy hơn một vạn người ở Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô đi đánh dẹp. Tháng tư mùa Hạ năm 4312, Viện đánh bại quận vương Giao Chỉ, chém đầu nữ vương Trưng Trắc và Trưng Nhị, số còn lại hàng phục và giải tán. Sau đó lại tiến đánh tướng Đô Dương ở Cửu Chân, cũng khuất phục được. Bắt dời hơn ba trăm thủ lĩnh và tù trưởng (cừ soái) đến Linh Lăng (Hồ Nam). Ngoài cõi Ngũ Lĩnh lại bình yên.

Thời Túc tông, năm Nguyên hòa thứ nhất (năm 84), Man Di phía ngoài Nhật Nam, thổ hào nước Cứu Bất Sự Nhân tặng tê giác còn sống, bạch trĩ. Thời Hòa đế, mùa hạ tháng tư năm Vĩnh nguyên thứ mười hai (năm 101), Man Di ở Nhật Nam và Tượng Lâm hơn hai ngàn người cướp bóc trăm họ, đốt phá quan phủ, quận huyện phát binh thảo phạt, chém được thủ lĩnh, số còn lại đầu hàng. Do đó trí đặt tại Tượng Lâm quan Trưởng sử trông coi quân binh, đề phòng tai họa. Thời An đế năm Vĩnh sơ thứ nhất (năm 107), người Man Dạ Lang phía ngoài Cửu Chân lấy đất xin nội thuộc, mở rộng thêm biên giới 840 dặm. Năm Nguyên sơ thứ hai (năm 115), Man Di ở Thương Ngô lại làm phản, năm sau chiêu dụ được Uất Lâm, Hợp Phố, vừa Man vừa Hán mấy ngàn người đánh quận Thương Ngô. Đặng thái hậu sai Thị ngự sử Nhậm Trác phụng chiếu ân xá, giặc đều đầu hàng và tan rã. Năm Diên quang thứ nhất (năm 122), phía ngoài Cửu Chân triều cống và xin nội thuộc. Đến Thuận đế năm Vĩnh kiến thứ sáu (năm 132), bên ngoài Nhật Nam Diệp Điều vương nhân tiện sai sứ giả đến tiến cống, hoàng đế ban cho Điều ấn vàng dây thao tía.

Năm Vĩnh hòa thứ hai (năm 137), bọn Khu Liên người Man Di ở ngoài Nhật Nam và Tượng Lâm vài ngàn mạng đánh huyện Tượng Lâm, đốt phá thành phủ, giết trưởng lại. Thứ sử Giao Chỉ bộ là Phàn Diễn phát binh hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân hơn vạn người đến cứu. Binh sĩ sợ đi xa, bèn làm phản, đánh dinh phủ. Hai quận tuy phản kích phá được, nhưng thế giặc lại lên cao. Lúc này Thị ngự sử Cổ Xương đi sứ ở Nhật Nam, liền tập hợp châu quận chống đỡ, nhưng gặp bất lợi, bị tấn công nguy khốn. Quân Hán bị bủa vây hơn một năm, cạn nguồn lương thực, nhà vua rất ưu phiền. Năm sau, vua triệu các công khanh và trăm quan, cùng bốn phủ giúp việc để hỏi sách lược, mọi người đều đề nghị sai đại tướng, phát binh Kinh Châu, Dương Châu, Duyện Châu, Dự Châu, đem bốn vạn người đi đánh. Đại tướng quân kiêm trung lang Lý Cố phản đối: “Nếu Kinh Châu và Dương Châu vô sự, thì có thể phát binh. Ở hai châu ấy đạo tặc liên kết, không phân tán, Vũ Lăng và Nam Quận người Man Di vẫn chưa tụ tập lại mà thôi; Trường Sa và Quế Dương nếu bị trưng binh nhiều, tất sẽ động loạn. Đó là cái không thể thứ nhất. Còn Duyện Châu và Dự Châu nếu bắt lính, viễn chinh ngàn dặm, dễ đi khó về, lệnh vua thúc ép, tất sẽ xảy ra tình trạng nổi loạn hoặc trốn tránh. Đó là cái không thể thứ hai. Phương nam thủy thổ nóng bức, lại thêm lam sơn chướng khí, quan binh có thể chết vì bệnh tật đến bốn năm phần. Đó là cái không thể thứ ba. Băng qua ngàn dặm, sĩ tốt mệt nhọc vất vả, đi đến Lĩnh Nam, không hồi phục được thì khó chiến đấu. Đó là cái không thể thứ tư. Hành quân 30 dặm một ngày, từ đây đến Nhật Nam hơn 9000 dặm, ba trăm ngày mới tới, cứ tính một người ăn năm thăng, sẽ cần 60 vạn hộc gạo, chưa kể thức ăn của lừa ngựa và cho rằng quân trang tự túc, chi phí đã nhiều như thế. Đó là cái không thể thứ năm. Giả sử quân đến nơi, tử vong sẽ rất nhiều, rồi không đủ chống chọi, lại phải phát binh cứu viện, như vậy là xẻo gọt ruột gan để đắp sửa tay chân. Đó là cái không thể thứ sáu. Cửu Chân và Nhật Nam cách nhau ngàn dặm, nên bảo họ lấy dân chúng quan lại ở đấy đi đánh, sao không coi sóc đảm đương nổi, mà lại làm khổ quan quân bốn châu, bắt người ta vượt qua vạn dặm hiểm nguy. Đó là cái không thể thứ bảy. Trước đây Trung lang tướng Doãn Tựu dẹp được người Khương làm phản ở Ích Châu, bảo rằng ngạn ngữ ở đấy có câu: “Giặc đến có thể chống, Doãn đến lại giết ta”, sau đó Doãn Tựu trở về, giao phó quân lính cho Thứ sử Trương Kiều. Kiều dựa vào quan binh sở tại, chẳng bao lâu phá tiệt giặc cướp. Do đó phát đại quân thì không hiệu quả, các châu quận có thể đảm trách là việc đã từng chứng nghiệm. Điều thích hợp nên làm là tuyển người hữu dũng mưu lược và nhân ái, ủy phái đến cầm quân, nhận chức thứ sử, thái thú, tất cả xuống trú đóng ở Giao Chỉ bộ. Bây giờ ở Nhật Nam lính yếu và ít, lại không có gạo ăn, phòng thủ không được, thiếu khả năng chiến đấu. Nhất thiết nên rút quan lính và dân lên phía bắc, dựa vào Giao Chỉ, sau này yên ổn, sẽ ra lệnh quay trở về. Lại tuyển mộ người bản địa, sai chúng đánh lẫn nhau, cung cấp tiền bạc lụa là cho chúng tiêu dùng. Cố gắng dùng phản gián chiêu dụ thủ lĩnh người Man, hứa hậu thưởng phong hầu cấp đất. Nguyên Tịnh Châu thứ sử người Trường Sa tên là Chúc Lương, tính tình dũng mãnh quả quyết, thêm Trương Kiều người Nam Dương, trước đó đã có công phá giặc ở Ích Châu, đều có thể tin dùng. Trước đây Thái tông khôi phục chức thái thú Vân Trung cho Ngụy Thượng, Ai đế cử người đến nhà Cung Xá bái kiến rồi trao cho y chức thái thú Thái Sơn. Có lẽ nên làm như thế với bọn Chúc Lương, là cách tiện lợi nhất.” Tứ phủ đều đồng ý với nghị luận vững vàng ấy, liền bái Chúc Lương làm thái thú Cửu Chân, Trương Kiều làm thứ sử Giao Chỉ bộ. Kiều đến nơi, khuyên nhủ vỗ về, tất cả đều đầu hàng giải tán. Lương đến Cửu Chân, một mình đi vào giữa đám giặc, dùng mưu lược, chiêu dụ Man Di bằng uy tín, số đầu hàng đến mấy vạn người, tất cả vì Chúc Lương mà bắt đầu xây dựng lại phủ dinh. Nhờ thế Lĩnh ngoại vãn hồi bình yên.

Năm Kiến khang thứ nhất (năm 144), hơn một ngàn người Man Di Nhật Nam lại tấn công đốt phá huyện ấp, tiếp theo đánh động Man Di Cửu Chân, cùng nhau liên kết đánh phá. Thứ sử Giao Chỉ bộ tên Hạ Phương người Cửu Giang khai ân chiêu dụ, giặc đều hàng phục. Thời Lương thái hậu nghe chầu, hài lòng với công lao của Hạ Phương, cho dời đến làm thái thú Quế Dương. Thời Hoàn đế năm Vĩnh thọ thứ ba (năm 157), quan huyện Cư Phong tham bạo vô độ, người trong huyện là bọn Chu Đạt cùng Man Di tụ họp, đánh giết huyện lệnh, bốn năm ngàn người sau đó tấn công Cửu Chân, thái thú Cửu Chân là Nhi Thức tử trận. Triều đình ban cho sáu mươi vạn tiền tử tuất, cho hai con của Thức làm chức quan nhỏ. Sai Cửu Chân đô úy là Ngụy Lãng thảo phạt phá được, chém hai ngàn thủ cấp, cừ soái Do Tuân chiếm cứ Nhật Nam, chúng đảng phát triển cường thịnh. Năm Diên hi thứ ba (năm 161), chiếu chỉ lại bái Hạ Phương làm thứ sử Giao Chỉ bộ. Uy danh và lòng nhân ái của Phương vốn rõ ràng, người Nhật Nam đã nghe được, hơn hai vạn người gồm cả tướng súy đến yết kiến Phương xin hàng. Đời Linh đế năm Kiến ninh thứ ba (năm 170), thái thú Uất Lâm là Cốc Vĩnh dùng ân tín chiêu hàng người Ô Hử hơn mười vạn nội thuộc, tất cả (thủ lĩnh) đều nhận quan tước, khai mở thêm bảy huyện. Mùa đông tháng mười hai năm Hi bình thứ hai (năm 173), có nước ở phía ngoài Nhật Nam qua phiên dịch đến chầu cống. Năm Quang hòa thứ nhất (năm 178), người Ô Hử ở quận Giao Chỉ và Hợp Phố nổi dậy, chiêu dụ thêm Cửu Chân và Nhật Nam, được mấy vạn người đánh phá quận huyện. Năm thứ tư (181), thứ sử Chu Tuấn phá được. Năm 183 nước bên ngoài Nhật Nam lại đến triều cống.

3. Vùng Tứ Xuyên.

Người Man ở Ba quận và Nam quận vốn có năm họ tộc: họ Ba, họ Phiên, họ Thẩm, họ Tương và họ Trịnh. Đều có gốc tích từ Vũ Lạc núi Chung Li. Núi này có hai hang là đỏ và đen, con cháu họ Ba sinh ở hang đỏ, con cháu bốn họ còn lại sinh tại hang đen. Lúc chưa có quân trưởng thì họ đều phụng sự quỷ thần, bèn cùng nhau ném kiếm vào hang đá, hẹn ước ai ném được vào giữa hang, sẽ tôn làm quân trưởng. Chỉ có con cháu họ Ba là Vụ Tương ném kiếm đến giữa hang, mọi người khen ngợi. Lại ra lệnh nặn thuyền bằng bùn đất, hẹn rằng nếu thuyền nổi được trên nước, đương nhiên trở thành tù trưởng. Thuyền của các họ khác đều chìm cả, chỉ có mỗi thuyền của Vụ Tương là nổi. Mọi người đồng ý lập Vụ Tương làm quốc quân, chính là Lẫm quân. Lẫm quân cưỡi thuyền đất, theo sông Di đến Diêm Dương. Nữ thần ở Diêm Dương gọi Lẫm quân đến nói: “Đất này to lớn, là nơi có cá và muối, mong người ở lại chung hưởng.” Lẫm quân không đồng ý. Thần muối cứ chiều tối liền tìm đến chỗ nghỉ, đến sáng biến thành côn trùng, cùng những loài khác bay lượn, che lấp ánh sáng ban ngày, trời đất tối tăm mù mịt. Liên tục hơn mười ngày, Lẫm quân chọn lúc thuận tiện, thừa dịp bắn cung giết chết thần muối, trời sáng trở lại. Lẫm quân ở tại Di Thành, bốn họ khác đều xưng thần dân. Lẫm quân chết, hồn phách nhập vào hổ trắng. Người họ Ba cho hổ uống máu người, dùng người sống hiến tế Lẫm quân.

Đến thời Tần Huệ vương (338 BC – 311 BC), thôn tính đất Ba, dùng họ Ba làm quân trưởng Man Di, nhiều đời chuộng lấy vợ là người Tần, các tước vị trong dân chúng không đổi, có tội thì dùng chức tước miễn trừ. Quân trưởng hằng năm được giao cho 2.016 đồng tiền thuế, mỗi ba năm một lần lại xuất thưởng thêm 1.800 đồng. Mỗi hộ dân nộp thuế bằng (giá trị) vải gai dài tám trượng hai xích, lông chim trĩ ba mươi cân. Từ lúc nhà Hán lên, Nam quận thái thú Cận Cường xin được nộp thuế y như thời Tần.

Đến năm Kiến vũ hai mươi ba (năm 37) bọn Lậu Sơn, Man Lôi Thiên ở Nam quận bắt đầu làm phản, cướp bóc trăm họ, triều đình sai Vũ uy tướng quân Lưu Thượng đánh phá được, dời hơn bảy ngàn người xuống vùng tiếp giáp với hạ lưu Trường Giang, nay là vùng Miện Trung của người Man vậy. Thời Hòa đế, năm Vĩnh nguyên mười ba (năm 101), bọn đồng cốt Hứa Thánh nại việc quận phủ thu thuế không công bằng, ôm oán hận, tụ tập làm phản. Mùa hạ năm sau, sai sứ giả đốc thúc các quận Kinh Châu hơn vạn người đánh dẹp. Bọn Hứa Thánh dựa vào địa thế hiểm trở chống cự, mãi không phá được. Các cánh quân bèn chia đường cùng tiến, từ Ba quận phục kích tấn công nhiều nơi, người Man bèn bỏ chạy, chém được thủ lĩnh, thừa thắng truy đuổi, đại phá bọn Hứa Thánh. Bọn chúng xin hàng, lại đem tất cả dời xuống hạ lưu Trường Giang. Thời Linh đế, năm Kiến ninh thứ hai (năm 167), người Man miền hạ lưu Trường Giang lại làm phản, châu quận thảo phạt bình được. Năm Quang hòa thứ ba (năm 180), người Man hạ lưu Trường Giang lại nổi dậy, cùng giặc Hoàng Nhương ở Lư Giang liên kết với nhau, hơn mười vạn người, đánh chiếm bốn huyện, cướp phá mấy năm. Thái thú Lư Giang là Lục Khang dẹp được, tàn quân đầu hàng giải tán.

Ở Bản Thuẫn xứ Man Di, thời Tần Chiêu tương vương (307 BC – 250 BC) có một con hổ trắng, thường dẫn cả đàn hổ đi vào biên cảnh nước Tần, quận Thục, quận Ba và quận Hán làm hại hơn ngàn người. Chiêu vương bèn tuyển mộ người trong nước có khả năng giết hổ, hứa thưởng ấp vạn nhà, vàng trăm lạng. Lúc này có người Di ở Lãng Trung thuộc Ba quận biết làm nỏ bằng bạch trúc, bèn lên lầu thành bắn chết hổ trắng. Chiêu vương khen ngợi, nhưng vì kẻ giết hổ là người Di, không muốn phong thưởng, bèn khắc đá làm tin, trả ơn người Di bằng cách không thu tô ruộng nương, cưới mười vợ cũng không tính, đánh người không tội, sát nhân có thể dùng tiền mà chuộc. Trên đá viết minh ước: “Tần mà xâm phạm Di, sẽ mất một đôi rồng vàng; Di mà phạm Tần, phạt một vò rượu trong suốt”. Từ đó người Di yên ổn.

Đến khi Cao tổ làm Hán vương, phát động người Di quay qua đánh Tam Tần. Đất Tần yên định rồi, bèn sai người Di trở lại đất Ba, miễn cho các thủ lĩnh bẩy họ La, Phác, Đốc, Ngạc, Độ, Tịch, Cung, không thu tô thuế, các hộ khác mỗi năm đều phải nộp thuế, một nhân khẩu 40 đồng. Các đời đều xưng Bản Thuẫn Man Di. Đất Lãng Trung có sông Du, dân chúng cư ngụ ở hai bờ. Người ở đấy tính tình hồn nhiên, cứng cáp mạnh mẽ, ban đầu là tiền phương nhà Hán, nhiều lần xông pha chiến trận. Phong tục chuộng ca vũ vui vẻ, Cao tổ thưởng thức, nói rằng: “Đây là bài ca Vũ vương phạt Trụ”. Bèn ra lệnh nhạc công tập luyện, gọi là khúc “Ba Du vũ”. Người ở đây đời đời phục tùng nhà Hán.

Tới Hán trung hưng, quận thú thường mang quân đi chinh phạt. Đời Hoàn đế, Bản Thuẫn làm phản, thái thú Thục quận Triệu Ôn dùng ân tín hàng phục được. Thời Linh đế, năm Quang hòa thứ ba (năm 180), người Bản Thuẫn ở Ba Thục nổi dậy, cướp phá ba quận đất Thục và Hán Trung. Linh đế sai Ngự sử trung thừa Tiêu Viện đốc thúc binh lính Ích Châu thảo phạt, mấy năm không khắc chế được. Vua muốn phát đại binh, bèn hỏi quan tham mưu Ích Châu, tìm hiểu chiến lược chinh chiến. Trình Bao mưu sĩ Hán Trung nói: “Bản Thuẫn có bảy họ, giết bạch hổ lập công, các đời trước tín nghĩa thuần phục. Người ở đó dũng mãnh, quân sĩ thiện chiến, xưa năm Vĩnh sơ, người Khương xâm nhập đất Hán, quận huyện bị phá hoại, được Bản Thuẫn cứu giúp, quân Khương bị giết gần hết, nên gọi lính Bản Thuẫn là thần binh. Người Khương oán ghét, kêu gọi đồng đảng, đừng tiến xuống phía nam. Đến năm Kiến hòa thứ hai (năm 148), người Khương lại cử đại quân xâm nhập, vẫn nhờ Bản Thuẫn bẻ gãy đánh tan. Trước đây Xa kỵ tướng quân Phùng Cổn nam chinh Vũ Lăng, tuy có tinh binh Đan Dương tinh nhuệ, cũng phải dựa vào Bản Thuẫn mới thành công. Gần đây quận Ích Châu lại loạn, thái thú Lý Ngung cũng nhờ Bản Thuẫn để bình định. Công lao trung thành như thế, họ không có ác tâm. Trưởng lại hương chức càng ngày càng thu tô thuế nặng nề, sưu dịch đòn roi khổ sở, còn hơn tù binh nô lệ, lại phải bán vợ đợ con, hoặc bèn tự sát. Tuy có đến châu quận kêu oán, bọn thú mục không đáp ứng. Triều đình xa xôi, không thể nghe thấy. Ngậm hờn oán kêu với trời cao, khấu đầu vỗ ngực bất lực nơi hang cùng ngõ hẻm. Sầu khổ vì tô thuế sưu dịch, nhọc nhằn âu lo hình phạt tàn khốc. Đó là nguyên nhân thôn xóm tụ họp, phản kháng bất công. Họ không có chủ mưu lập quốc xưng vương, chỉ suy tính trần tình. Giờ nên tuyển quan lại sáng suốt, tự nhiên sẽ an bình, chẳng phải lo lắng chinh phạt.” Vua thuận theo lời ấy, sai thái thú Tào Khiêm tuyên chiếu xá tội, lập tức tất cả hàng phục. Đến năm Trung bình thứ năm (năm 188), ở quận Ba có giặc khăn vàng nổi lên, Bản Thuẫn Man Di nhân đó làm phản, cướp phá thành ấp, sai Tây viên thượng quân biệt bộ tư mã Triệu Cẩn trừ được.

4. Khu vực giáp giới giữa Hồ Nam và Quý Châu đến Côn Minh và miền nam Vân Nam.

Người Man Di vùng tây nam, ở về phía ngoài Thục quận. Có nước Dạ Lang, phía đông giáp Giao Chỉ, phía tây có nước Điền, phía bắc có nước Cung Đô, mỗi xứ đều lập quân trưởng (tù trưởng). Người ở đây búi tóc, vạt áo hướng về bên trái, tụ họp cư ngụ thành làng, chăm chỉ làm ruộng. Phía ngoài còn có bộ tộc Tây, thuộc về các bộ tộc Côn Minh, cực tây có Đồng Sư, đông bắc đến Diệp Du, đất vuông vài ngàn dặm. Những nơi ấy không có tù trưởng, người ta tết bím tóc, du cư theo đàn gia súc. Đông bắc nước Tây có nước Tạc Đô, đông bắc Tạc Đô là nước Nhiễm Mang, nửa định cư, nửa du cư theo đàn gia súc. Đông bắc Nhiễm Mang có nước Bạch Mã của chủng người Để. Ba nước vừa kể không có tù trưởng.

Nước Dạ Lang, xưa kia có một nữ nhân đứng giặt bên sông Độn, bỗng một đoạn tre lớn ba đốt trôi vào giữa hai chân, nghe thấy trong thân tre tiếng khóc, cô gái liền bổ tre làm đôi, được một hài nhi nam, bèn đem về nuôi dưỡng. Khi đứa bé trưởng thành, vừa trí tuệ vừa mạnh mẽ, tự lập làm Dạ Lang hầu, lấy chữ Trúc làm họ. Thời Vũ đế, năm Nguyên đỉnh thứ 6 (111 BC), bình định nam Di, đặt làm Tang Kha quận, Dạ Lang hầu đầu hàng, vua cấp cho vương ấn đeo cổ. Sau này cuối cùng Dạ Lang vương cũng bị giết. Các bô lão đều biết Trúc vương không được sinh ra bởi khí huyết thường nhân, nên rất kính trọng, cầu xin lập thừa tự. Tang Kha thái thú là Bá nghe được về bẩm báo, triều đình bèn phong đứa con thứ ba của Trúc vương tước hầu. Sau khi vị hầu này chết, cùng cha được cúng tế như thần thánh. Ngày nay trong huyện Dạ Lang vẫn tồn tại tục thờ Trúc vương tam lang thần.

Sơ khởi, thời Sở khoảnh tương vương (298 BC – 263 BC), sai tướng Trang Hào đi theo sông Nguyên chinh phạt Dạ Lang, khi quân đến vùng Thả Lan, buộc thuyền vào bờ rồi lên bộ đánh nhau. Dạ Lang bị diệt, Dạ Lang vương lưu vong đến Điền Trì. Bởi xứ Thả Lan là nơi có cọc buộc thuyền (tiếng Hán là Tang Kha), bèn đổi địa danh đất này thành Tang Kha. Đất Tang Kha nhiều mưa, phong tục chuộng đồng cốt quỷ thần, nhiều điều cấm kỵ, không biết chăn nuôi, cũng không trồng dâu dưỡng tằm, do đó người ở đây rất nghèo. Huyện Cú Đinh có loài cây Quang lang, trong lõi có phấn vàng có thể dùng làm trang sức, sinh kế của trăm họ là khai thác Quang lang. Thời Công Tôn Thuật cát cứ xưng đế (Tại Ích Châu năm 25 đến 36 Công nguyên), các họ lớn là Long, Phó, Duẫn, Đổng, cùng quận công Tào Tạ Xiêm bảo vệ biên cảnh nhà Hán, sai sứ theo sông Phiên Ngu triều cống. Hán Quang vũ đế khen ngợi, rồi hậu thưởng. Đến thời Hoàn đế (năm 147 đến 167), người trong quận là Duẫn Trân tự cho rằng mình vốn sinh trưởng nơi xa xôi hẻo lánh, không hiểu lễ nghĩa, bèn đi theo người Nhữ Nam là Hứa Thận, tiếp nhận kinh sách Khổng gia, học xong trở về nguyên quán dạy dỗ, từ đó vùng đất phía nam mới bắt đầu có sự học vậy. Duẫn Trân làm quan đến chức thứ sử Kinh Châu.

Điền vương là hậu duệ Trang Kiểu. Năm nguyên phong thứ hai (109 BC), Vũ đế bình định xong miền tây nam, lấy đất này làm quận Ích Châu, chia Tang Kha, Việt Tây lấy một số huyện gộp vào Ích Châu. Sau đó vài năm, thu phục được đất Côn Minh, đều gộp vào quận Ích Châu. Ở Côn Minh có một cái hồ chu vi hơn hai trăm dặm, đầu hồ rộng và sâu, phía cuối càng ngày càng nông và hẹp, dòng chảy tự đổi hướng (có lẽ theo mùa gió và mưa), do đó gọi là Điền Trì. Xứ này đất đai bằng phẳng rộng rãi, xuất về Trung Quốc nhiều chim vẹt và chim công, có cả hồ nước mặn, nông nghiệp và ngư nghiệp phát đạt, vàng bạc và súc sản phong phú. Phong tục hào hiệp xa hoa. Quan lại đều giàu có nhiều đời.

Đến loạn Vương Mãng, bọn người Di quận Ích Châu là Đống Tàm và Nhược Đậu khởi binh giết quận thú, bọn Đại Mưu người Cô Phục ở Việt Tây cũng đều làm phản, giết quan lại. Vương Mãng sai Ninh thủy tướng quân Liêm Đan, phát động quan quân Ba và Thục, cùng binh tốt tải lương bộ hành hơn mười vạn tấn công. Quân binh đói và mắc dịch bệnh, mấy năm không thắng được. Bèn lấy người Hán quảng là Văn Tề làm thái thú, đắp bờ ngăn nước ở triền núi, khai nguồn tưới tiêu, khai khẩn hơn hai ngàn khoảnh ruộng. Tề dẫn theo binh mã dùng mãnh, tu sửa thành quách những nơi hiểm trở, khuất phục các nhóm người Di, cuối cùng vãn hồi hòa hợp. Đến khi Công Tôn Thuật cát cứ Ích Châu, Văn Tề cố thủ những chỗ hiểm yếu, Thuật bắt giữ vợ con Tề, hứa phong Tề chức hầu, Tề cũng không chịu đầu hàng. Khi nghe tin Hán Quang vũ lên ngôi, Tề sai người tìm đường về kinh báo cáo. Sau khi bình định xong đất Thục, cho Văn Tề làm Trấn viễn tướng quân, tước Nghĩa hầu. Sau này Văn Tề mất đi, vua ra chiếu khởi xây từ đường, người trong quận lập miếu thờ tự.

Năm Kiến vũ thứ mười tám (năm 42), thủ lĩnh người Di Đống Tàm cùng các bộ tộc Cô Phục, Điệp Du, Kiều Đống, Liên Nhiên, Điền Trì, Kiến Liên, Côn Minh làm phản, giết trưởng lại. Thái thú Ích Châu Phồn Thắng nghinh chiến nhưng thất bại, lùi về trấn giữ Chu Đề. Năm sau, sai Vũ uy tướng quân Lưu Thượng phát binh quận Quảng Hán, Kiền Vi và Thục đến vùng Chu Đề của người Di, hợp quân thành một vạn ba ngàn người phản kích. Quân của Thượng vượt sông Lô, vào địa giới Ích Châu. Bọn người Di nghe đại binh đến, vứt vũ khí bỏ chạy, Thượng chỉ bắt được những quân Man gầy yếu và lương thảo, gia súc. Năm thứ hai mươi (năm 44), tiến quân đánh nhau với bọn Đống Tàm, liên tục mấy tháng, đều phá được. Tháng một năm sau, truy đuổi đến huyện Bất Vi, chém thủ lĩnh Đống Tàm, giết hơn bảy ngàn quân Di, bắt sống năm ngàn bảy trăm người và ba trăm con ngựa, hơn ba vạn bò và dê, các bộ tộc người Di bị bình định hoàn toàn.

5. Quay lại vùng Tứ Xuyên, đông Tây Tạng.

Thời Túc tông, những năm Nguyên hòa (năm 84 đến 87), Vương Truy là thái thú quận Thục, chính trị và giáo hóa kì lạ khác thường, có bốn mươi bẩy con ngựa thần xuất hiện ở Hà Trung, Điền Trì, sương ngọt rơi xuống, xuất hiện ngựa trắng, Vương Truy bắt đầu lập ra học hiệu, dần dần cải biến phong tục. Thời Linh đế năm Hy bình thứ năm (năm 176), các tộc Di nổi loạn, bắt thái thú Ung Trắc. Sai Ngự sử trung thừa Chu Quy thảo phạt, nhưng không khống chế được. Hán triều thương nghị rằng những quận Man Di ngoài biên giới, người bản địa hay làm phản, quân đội phải lao dịch xa xôi khổ cực, hay là bỏ đi vậy. Thái úy người huyện Duyện quận Ba là Lý Ngung đưa ra kế sách thảo phạt, bèn bái Ngung làm thái thú Ích Châu, cùng thứ sử Bàng Chi phát động người Man Bản Thuẫn tấn công phá được, giải thoát Ung Trắc. Sau này Ngung chết, người Di lại phản, dùng Cảnh Nghị người Quảng Hán làm thái thú, bình định được. Lúc Nghị mới đến quận, một hộc gạo được bán cả vạn đồng, dần dần dùng nhân đức sửa trị, sau vài năm, một hộc gạo giá chỉ còn vài chục đồng.

Người Di Ai Lao, tổ tiên là một nữ nhân tên Sa Nhất, sống ở vùng núi Lao. Nàng thường đánh bắt cá trong suối, ngày nọ chạm vào một gốc cây trầm hương bỗng động lòng, nhân đó mang thai, mười tháng sau sinh được mười con trai. Sau đó cây trầm kia biến thành con rồng, bay khỏi dòng suối. Sa Nhất chợt nghe tiếng rồng nói: “Nàng vì ta mà sanh hạ con cái, hiện chúng ở đâu rồi?” Chín đứa con thấy rồng sợ hãi chạy mất, chỉ đứa nhỏ nhất thì không, nó ngồi (tọa) lên vai rồng (long bối), rồng nhân đó dùng lưỡi liếm con mình. Người mẹ vốn nói ngôn ngữ của loài chim, gọi “bối” là “cửu”, “tọa” là “long” do đó gọi tên con là Cửu Long (ngồi trên vai). Sau này trưởng thành, các anh trai thấy Cửu Long tài giỏi thông tuệ bởi đã được cha rồng liếm vào người, bèn cùng nhau nhường cho ngôi vương. Dưới núi Lao có một đôi vợ chồng, lại sinh mười người con gái, anh em nhà Cửu Long cùng cưới làm vợ, sau dần dần sinh sôi nảy nở đông đúc. Tộc người này có tục xăm mình, thể hiện hình tượng con rồng, quần áo cũng đính đuôi rồng. Con của Cửu Long, đời đời tiếp nối. Bèn phân đặt tiểu vương, cấp cho làng ấp sinh sống, phân tán ra nhiều nhánh suối thung lũng. Ai Lao là vùng đất hoang sơ tận cùng phía ngoài, sông núi thâm sâu cách trở, ít người lai vãng, chưa từng thông giao với Trung Quốc.

Năm Kiến vũ thứ hai mươi ba (năm 47), Ai Lao vương Hiền Lật khiển binh cưỡi bè kết bằng gỗ và tre xuôi xuống phía nam trên sông Trường Giang và sông Hán, đánh vào biên giới bộ tộc Lộc Kỵ người Di. Người Lộc Kỵ yếu nhược, vì thế bị bắt giữ. Bỗng nhiên sấm chớp mưa giông dữ dội, gió nam cuốn thổi, sông ngòi đảo dòng, hơn hai trăm dặm Trường Giang nổi sóng cồn, bè mảng chìm hết, người Ai Lao chết đuối mấy ngàn mạng. Hiền Lật lại sai sáu vương gia cùng cả vạn quân đánh Lộc Kỵ một lần nữa, Lộc Kỵ vương nghênh chiến, giết được sáu vị vương. Các già làng Ai Lao mai táng sáu vị vương này, nhưng đêm đến hổ xuất hiện ăn hết tử thi, mọi người hoảng sợ dẫn quân về nước. Hiền Lật kinh hoàng, gọi các kỳ lão đến nói: “Bọn ta xâm nhập biên giới, từ xưa đến nay mới có chuyện ấy, nay đánh Lộc Kỵ, lần nào cũng bị trời phạt, Trung Quốc có thánh đế chăng? Trời giúp như thế, nay đã rõ rồi.” Năm thứ hai mươi bảy (năm 51), bọn Hiền Lật bèn đem 2.770 hộ, 11.659 khẩu đến yết kiến đầu hàng thái thú Việt Tây là Trịnh Hồng, xin nội thuộc. Hán Quang vũ phong Hiền Lật làm quân trưởng, từ đó hằng năm vào triều cống.

Hiển tông, năm Vĩnh bình thứ mười hai (năm 70), Ai Lao vương Liễu Mạo sai con đem dân chúng nội thuộc, có tất cả 77 ấp vương, 51.890 hộ, 553.711 khẩu. Trung Quốc giờ đây từ miền tây nam đến Lạc Dương rộng bảy ngàn dặm, thời Hiển tông trí đặt hai huyện Ai Lao và Bác Nam, phân đô úy tây bộ quận Ích Châu lĩnh quản sáu huyện, nhập vào quận Vĩnh Xương. Đường thủy thông đến núi Bác Nam, qua sông Lan Thương (đầu nguồn sông Mekong ngày nay), đi lại rất cực khổ. Có bài hát viết rằng: “Đức nhà Hán bao la, khai mở quốc gia đến cả những kẻ không thần phục. Trải đến tận núi Bác Nam, bến Việt Lan. Qua dòng Lan Thương, mới là đất của người khác.”

Người Ai Lao đều xuyên mũi và căng tai, thủ lĩnh tự xưng là vương, thùy tai rũ xuống ba thốn (~10cm), dân thường thùy tai dài chấm vai. Đất đai màu mỡ tươi đẹp, thích hợp với ngũ cốc, trồng dâu nuôi tằm. Họ biết nhuộm vải thêu hoa, biết dùng lông thú làm len cũng như dệt vải từ cây bông, từ đó tạo thành sợi “lan can” và vải gai nhuyễn mịn, dệt nên loại gấm lụa có hoa văn. Xứ này có cây hoa ngô đồng, xe đánh và dệt thành vải, khổ năm thước, trắng ngần không một vết ố bẩn. Trước đây dùng vải này khâm liệm người chết, tuy nhiên về sau cũng dùng may y phục. Ở đây có loại tre đốt dài một trượng, gọi là bộc trúc. Có mỏ quặng sản xuất đồng, sắt, chì, thiếc, vàng, bạc, đá dạ quang, hổ phách, thủy tinh, ngọc lưu li, con trai, con sò, chim công, bích ngọc, tê giác, voi, khỉ vượn, mạch thú (gấu trúc?). Ở huyện Vân Nam có con nai thần hai đầu, ăn được cỏ độc.

Đầu tiên, tây bộ đô úy người Quảng Hán là Trịnh Thuần thực hành chính trị thanh khiết, triển khai giáo hóa người Di, các tù trưởng cảm mến, đều hiến tặng của ngon vật lạ trong xứ, ca tụng công đức. Nhà vua khen ngợi, liền phong chức thái thú Vĩnh Xương. Trịnh Thuần cùng người Ai Lao thỏa thuận, trưởng làng mỗi năm thu mỗi đầu người hai súc vải, một hộc muối, đây là thuế định kỳ, đã trở thành thông tục và làm hài lòng Di dân. Trịnh Thuần đảm nhận chức đô úy và thái thú được mười năm thì mất. Năm Kiến sơ thứ nhất (năm 76), Ai Lao vương Loại Lao tranh chấp dữ dội với quan huyện, rồi giết quan huyện làm phản, đánh Đường Thành ở Việt Tây. Thái thú Vương Tầm chạy trốn đến Điệp Du. Hơn ba ngàn người Ai Lao đánh phá Bác Nam, đốt phá nhà cửa của dân chúng. Túc tông chiêu mộ và phát binh Việt Tây, Ích Châu, Vĩnh Xương gồm cả người Hán và người Di được 9000 quân đi thảo phạt. Mùa xuân năm sau, người Di Côn Minh là bọn Lỗ Thừa ở huyện Tà Long hưởng ứng, đem người theo quân lính các quận tấn công Loại Lao tại Bác Nam, đại phá và giết được. Đầu Loại Lao được chuyển về Lạc Dương báo công, vua thưởng Lỗ Thừa một vạn xấp vải, tấn phong làm Phá lỗ bàng ấp hầu.

Năm Vĩnh nguyên thứ sáu (năm 94), ở vùng đất phía ngoài quận Vĩnh Xương có vua Đôn Nhẫn Ất tên Mạc Diên hâm mộ nhà Hán, sai sứ thông dịch tiến cống tê giác và voi lớn. Năm thứ chín, vua nước Man Cập Đạn tên Ung Do sai sứ thông dịch dâng lên những thứ quý báu của xứ mình, Hòa đế cấp cho ấn vàng dây đeo tía, các tiểu tù trưởng cũng được ấn đeo cổ, tiền bạc, lụa là.

Năm Vĩnh sơ thứ nhất (năm 107), bọn Lục Loại thuộc giống người Di Tiêu Nghiêu ngoài biên giới, hơn ba ngàn người xin nội thuộc, cống ngà voi, trâu, bò. Năm Vĩnh ninh thứ nhất (năm 120), vua nước Đạn là Ung Do Điều sai sứ giả đến viếng thăm triều đình, hát tặng các nhạc phẩm và biểu diễn ảo thuật, phun lửa từ miệng, tự chặt chân tay, biến đầu trâu bò thành đầu ngựa. Lại còn nhảy nhót xoay tròn cả thân người, liên tục đến ngàn vòng. Họ nói họ là người ở vùng biển phía tây. Hải tây tức là biển phía tây đại Tần, Đạn quốc thông nối với tây nam đại Tần. Năm sau vào dịp tết Nguyên đán, An đế sáng tác nhạc cung đình, phong Ung Do Điều làm Đại đô úy nhà Hán, ban ấn đeo cổ, vàng bạc, tơ lụa nhiều màu nhiều loại khác nhau.

Người Di Cung Đô, Vũ đế khai mở, đặt làm huyện Cung Đô. Chẳng bao lâu sau đất ấy sụt lún (động đất?) thành một vùng đầm lầy dơ bẩn, nhân đó gọi là Cung Trì, người phía nam xưng là Cung Hà. Sau này người Di Cung Đô lại nổi dậy. Năm Nguyên đỉnh thứ sáu (111 BC), Hán binh từ Việt Tây theo đường thủy chinh phạt, lập thành Việt Tây quận. Đất đai ở đây bằng phẳng, có ruộng lúa gié. Núi Ngu Đồng huyện Thanh Linh có gà xanh, ngựa vàng, bộ lông lấp lánh, hay xuất hiện. Phong tục nơi này phóng đãng, con người hay ca hát vui vẻ, đại khái giống như quận Tang Kha. Thủ lĩnh phóng túng, khó chế ngự.

Thời Vương Mãng, quận thú Mai Căn điều người Cung là Trường Quý làm hậu quân. Năm Canh thủy thứ hai (năm 25), Trường Quý mang theo người của mình tấn công giết Mai Căn, tự lập làm Cung Cốc vương, nhận lĩnh công việc của thái thú. Sau lại đầu hàng Công Tôn Thuật. Thuật thất bại, Hán Quang vũ phong Trường Quý làm Cung Cốc vương. Năm Kiến vũ thứ mười bốn (năm 38), Trường Quý ba năm sai sứ thượng triều một lần, vua cấp cho ấn thụ Việt Tây thái thú. Năm thứ mười chín (năm 42), Uy vũ tướng quân Lưu Thượng đánh người Di ở Ích Châu, đi qua Việt Tây. Trường Quý nghe được, nghi ngờ Thượng sẽ bình định vùng biên giới phía nam, rồi thực hành uy pháp, không còn phóng túng được nữa, lập tức tụ tập khởi binh ở doanh trại, kêu gọi các tù trưởng, nấu nhiều rượu độc, chuốc say quân đội cực khổ của Lưu Thượng, sau đó tập kích. Thượng biết mưu, liền chia quân chiếm cứ Cung Đô, đánh giết được Trường Quý, dời cả gia tộc Trường Quý về Thành Đô.

Năm Vĩnh bình thứ nhất (năm 58), bộ tộc Cô Phục người Di lại nổi dậy, thứ sử Ích Châu phát binh phá được, chém thủ lĩnh, chuyển thủ cấp về kinh sư. Sau đó thái thú quận Ba là Trương Hấp áp dụng chính trị và giáo hóa thanh liêm trong sạch, được lòng người Di. Trương ở lại quận mười năm, khi chết người Di thương cảm, để tang như cha mẹ. Huyện Tô Kì gửi hơn hai trăm người đến, dùng tê giác và dê phúng điếu, rồi đưa thi thể vể nguyên quán ở huyện An Hán mai táng, đắp mả thờ cúng. Chiếu thư triều đình gửi xuống khen ngợi, cho lệnh lập từ đường.

Thời An đế năm Nguyên sơ thứ ba (năm 116), ngoài biên giới quận (Việt Tây), người Di Đại Dương, có tám bộ tộc, 31.000 hộ, 67.620 khẩu, xin nội thuộc. Đang lúc quận huyện thu được tô thuế rất nhiều, năm thứ năm (năm 118), bọn Phong Li của bộ tộc Quyển Di Đại Ngưu làm phản, giết đến chín viên quan cấp huyện. Năm sau người Di ở Vĩnh Xương, Ích Châu và Thục quận đều hưởng ứng, đông đến hơn mười vạn, phá hoại hơn mười hai huyện, giết trưởng lại, thiêu đốt làng ấp, cướp bóc trăm họ, xương cốt chất đống, ngàn dặm không còn một bóng người. Triều đình hạ chiếu sai thứ sử Trương Kiều tuyển mộ những người có khả năng đi thảo phạt. Kiều bèn sai tòng sự Dương Tủng đưa quân đến Điệp Du công kích, thế giặc mạnh không dám tiến lên, trước tiên dùng chiếu thư bố cáo cho ba quận rõ, bí mật trưng tập võ sĩ, treo giải thưởng rất cao. Sau đó mới tiến quân chiến đấu với bọn Phong Li, đại phá được, chém hơn ba vạn thủ cấp, bắt sống 1.500 người, của cải thu được hơn bốn ngàn vạn, thưởng hết cho quân sĩ. Bọn Phong Li hoảng sợ, chém đầu kẻ thủ lĩnh đồng mưu, cung kính đến xin hàng, Dương Tủng sau đó gia ân vỗ về thu nạp. Có tất cả ba mươi sáu bộ tộc đều đến hàng phục. Tủng lại tấu trình những trưởng lại tàn ác gian trá xâm hại người Man Di, có đến chín mươi người, đều bị tội chết. Trong châu đang luận công, chưa báo lên, thì Tủng bị mụt nhọt rồi chết, Trương Kiều đau khổ thống thiết, bèn khắc đá bài văn điếu ghi công tích, đồ họa di ảnh. Vua thấy họ Trương được người Di ái mộ, bèn bái con trai Kiều tên Thoan làm thái thú. Người Di vui mừng, kính cẩn nghênh đón ngoài đường. Họ nói: “Tướng mạo của ông đúng là giống phủ quan của chúng tôi rồi.” Nhưng sau này Thoan làm mất nhân tâm, có người muốn làm phản, bô lão người Di nói cho Thoan hiểu: “Hãy xem gương thái thú đời trước.” Cuối cùng được yên ổn. Sau này đến thời Thuận đế, Hoàn đế (125 đến 167), người Quảng Hán là Phùng Hạo làm thái thú, chánh trị giáo hóa lạ kỳ, có nhiều thành tích được ghi lại.

Xứ Di Tạc Đô, được Vũ đế khai mở, đặt làm Tạc Đô huyện. Người ở đây xõa tóc, xếp vạt áo về bên trái, có rất nhiều loại ngôn ngữ, tập tục giống người Di ở Vấn Sơn. Trong đất có thần dược trường sinh, núi tiên là chỗ có tiên ở. Năm Nguyên đỉnh thứ sáu (111 BC), đặt làm Trầm Lê quận. Đến năm Thiên hán thứ tư (97 BC), nhập vào tây bộ của quận Thục, đặt hai đô úy, một ở Mao Ngưu tuần xét ngoại Di. Một ở Thanh Y, quản lý người Hán.

Vào những năm Vĩnh bình (58 – 75), Ích Châu thứ sử người Lương quốc tên Chu Phụ, đại lược khẳng khái, rất vui thích lập công danh. Chu Phụ ở tại châu nhiều năm, tuyên truyền Hán đức, uy phục những tộc Di xa xôi. Từ Vấn Sơn đi về phía tây, đời trước không với tới, pháp luật Hán chưa được thi hành. Các vùng Bạch Lang, Bàn Mộc, Đường Thoàn có hơn trăm bộ tộc, hơn 310 vạn hộ, 600 vạn khẩu trở lên, cử người phụng cống xưng thần, Chu Phụ gửi sớ viết: “Thần nghe Kinh Thi nói rằng “Người ta đến với nhà Chu, vì biết Di nhân có thể được khai hóa.” Truyền thuyết cũng nói “Đến triều đình nhà Chu tuy ngàn dặm cách trở, nhưng người ta không thấy xa”. Điều thi nhân tụng ca, lấy làm chứng nghiệm. Ngày nay bọn Bạc Lang vương và Đường Thoàn hâm mộ văn hóa Hán, quay về với phép tắc, làm ba chương thơ. Đường về kinh qua núi lớn Cung Lai, mưa trên vách núi cao, chót vót khó khăn nguy hiểm khắc nghiệt, hàng trăm đường lộ phải vượt qua. Phụ nữ người già và trẻ con phải địu cõng như mẹ địu con mới qua được. Ngôn ngữ của người Di nơi xa thẳm này, ý và lời khó hợp chính tắc. Như thảo mộc khác loài, chim thú phân biệt vậy. Có viên quan phụ tá ở quận Kiền Vi là Điền Cung chịu khó luyện tập, rất thông hiểu, thần vẫn thường sai hỏi thăm phong tục, phiên dịch từ ngữ. Nay sai tòng sự sử Lý Lăng cùng Điền Cung hộ tống đoàn khách về kinh, dâng lên hoàng thượng nhạc và thơ. Dùng nhạc và vũ của tứ di, mô tả công tích các thánh đế; kính tặng nhà vua, hy vọng sự xếp đặt này là lần đầu tiên.” Vua khen ngợi, sai xuống sử quan chép lại lời ca.

[Không dịch 240 chữ trong hai bài thơ và một bài ca tán tụng nhà Hán. Nói chung văn ngôn xu nịnh, không có ý tứ hồn nhiên của những bộ tộc tây nam. Khả năng do quan Hán tự sáng tác để lấy lòng hoàng đế.]

Những năm đầu Túc tông, Chu Phụ gặp sự cố bị bãi quan chức. Lúc này các quận phủ huyện xá đều chạm khắc trang trí, vẽ thần núi thần sông kì cầm dị thú, mê hoặc người ta, người Di kiêng sợ e ngại. Hòa đế năm Vĩnh nguyên thứ mười hai (năm 100), xứ Mao Ngưu phía ngoài Bạch Lang cùng Lâu Bạc Man Di vương là bọn Đường và Tăng, đem 17 vạn người, xin nội thuộc. Vua xuống chiếu cấp ấn vàng dây đeo tía, tiểu thủ lĩnh được thưởng tiền và các loại lụa.

Thời An đế, năm Vĩnh sơ thứ nhất (năm 107), ba bộ tộc Di ở Thục quận giúp đỡ lẫn nhau, cùng bộ tộc ngoài biên giới là Ô Diễn, tụ tập hơn ba ngàn quân nổi dậy, đánh thành Tàm Lăng, giết trưởng quan. Năm sau, ấp trưởng Lệnh Điền của chủng Di Thanh Y, cùng ba tộc Di khác ngoài biên giới tổng cộng 11 vạn khẩu, cống tê giác, vàng bạc và bò lông dài (bò Tây Tạng), đem đất đai xin nội thuộc. An đế thăng chức Phụng thông ấp quân cho Lệnh Điền. Mùa xuân năm Diên quang thứ hai (năm 123), người Di Mao Ngưu làm phản, đánh các đồn ải, giết trưởng quan, Ích Châu thứ sử Trương Kiều cùng Tây bộ đô úy phản kích phá được. Từ đó phân đặt Thục quận thuộc đô úy triều đình, cai quản bốn huyện như thái thú. Thời Hoàn đế, năm Vĩnh thọ thứ hai (năm 156), người Di thục quận làm loạn, giết quan hại dân. Năm Diên hi thứ hai (năm 159), ba bộ tộc Di ở Thục quận cùng nhau cướp phá Tàm Lăng, giết trưởng quan. Năm thứ tư, người Di nội thuộc ở Kiền Vi cướp phá biên giới của quận, Ích Châu thứ sử Sơn Dục phá được, chém một ngàn bốn trăm thủ cấp, số còn lại giải tán. Thời Linh đế, lấy các vùng Di phụ thuộc quận Thục, cải thành quận Hán Gia.

Đất Di Nhiễm Mang, Vũ đế khai mở. Năm Nguyên đỉnh thứ sáu (111 BC), đặt thành quận Vấn Sơn. Trong ba năm, người Di nộp tô thuế rất nhiều, Tuyên đế (74 BC – 49 BC) bèn xem xét để Thục quận cai quản bởi bắc bộ đô úy. Vùng núi ở đấy có sáu bộ lạc người Di, bảy bộ lạc người Khương và chín bộ lạc người Để. Vương hầu của họ hơi biết văn thư, dùng luật pháp nặng nề khắt khe. Quý trọng phụ nữ, xã hội ở hình thức mẫu hệ thị tộc. Chết thì hỏa thiêu thân xác. Khí đất lạnh nhiều. Khi lạnh nhất sẽ có tuyết rơi và không tan chảy, do đó mùa đông người Di thường tránh rét, vào đất Thục làm thuê, mùa hạ lại bỏ đi, trở về thôn ấp. Họ cư trú dựa vào núi, dùng đá xếp dựng thành nhà ở, cao đến hơn mười trượng, gọi là “cung lung”. Đất đai ở đây rất cứng và chứa muối, không thể trồng các loại thóc gạo hoa màu cây gai cây đậu, chỉ nương nhờ vào lúa mạch, thích hợp cho chăn nuôi  gia súc. Họ có bò lông dài (bò Tây Tạng), không sừng, còn gọi là đồng ngưu, nặng ngàn cân (~500kg), lông có thể dùng làm đồ trang sức. Đất này có ngựa nòi nổi tiếng. Còn có linh dương, có thể giải độc. Lại có loài hưu ăn cây thuốc, khi mang thai hưu con, phân trong ruột của nó là vị thuốc chữa được bệnh hiểm nghèo. Lại có dê năm sừng, xạ hương, loài gà lông tơi mịn nhẹ và nhiều thứ gia súc khác. Người ở đấy có thể tạo nên len từ lông gia súc, rồi dệt đan thành màn trướng đa sắc, thảm xanh, thảm lông, nối với nhau tạo thành tường lều trại. Đặc biệt vùng này có rất nhiều loại dược liệu khác nhau, đất có quặng mặn, nấu sôi tách được muối, nai dê trâu bò ngựa ăn vào sẽ béo mập.

Phía tây vùng này có Tam Hà, Bàn Vu Lỗ, mặt bắc có Đồng Thạch, Bắc Địa, hồ Lô Thủy, vùng ấy nằm ngoài biên giới nhà Hán. Thời Linh đế (năm 168 – 169), lại chia vùng bắc bộ Thục quận thành Vấn Sơn quận.

Bạch Mã là đất của người Để, Vũ đế năm Nguyên đỉnh thứ sáu (111 BC), phân vào tây bộ quận Quảng Hán, hợp với Vũ Đô, đất đai hiểm trở, có ruộng đay gai, ngựa nổi tiếng, trâu bò, dê, cây sơn, cây mật, người Để cường tráng hùng dũng nhưng ngờ nghệch bộc trực, thích của cải và chết vì cái lợi, sinh sống ở khu Hà Trì, còn có tên nữa là Cừu Trì, đất đai khoảng trăm khoảnh, bốn mặt đều bị chắn chặn bởi núi non. Người Để nhiều lần xâm nhập biên giới cướp bóc, quận huyện thảo phạt, liền cố thủ trong hang cùng ngõ hẻm. Năm Nguyên phong thứ ba (năm 108 BC), người Để làm phản, điều binh phá được, phân dời về quận Tửu Tuyền. Đời Chiêu đế năm Nguyên phụng thứ nhất (năm 80 BC), người Để lại nổi dậy, sai Kim ngô mã Thích Kiến, Long phôi hầu Hàn Tăng, Đại hồng lư Điền Quảng Minh, chỉ huy ba phụ quan và những kẻ tội đồ đến thảo phạt thành công.

Đến khi Vương Mãng thoán nghịch, người Để nhân đó làm phản. Những năm đầu Kiến vũ (năm 25 trở đi), người Để quy phụ đất Lũng xứ Thục, đến khi Ngôi Hiêu bị diệt, thủ lĩnh người Để bèn đi theo Công Tôn Thuật hàng Hán, Lũng Tây thái thú Mã Viện tâu lên vua cho phục hồi vương hầu quân trưởng, cấp cho ấn đeo cổ. Sau đó Ngôi Hiêu dựa vào Ngôi Mậu làm phản, giết thái thú Vũ Đô. Đại thủ lĩnh người Để là Tề Chung Lưu được đồng tộc kính trọng và tin tưởng, dùng quyền thế thuyết phục các thủ lĩnh, cùng quan phụ tá trong quận đánh Ngôi Mậu, chém chết y và phá tan giặc. Sau này người Để vẫn cướp bóc, quận huyện đều dẹp được.

6. Luận bàn của sử quan.

Luận bàn: Nhà Hán chinh phạt Nhung Địch, dụng binh nơi biên viễn, là vương nghiệp lớn trùm phủ từ xưa đến nay, nghiêng ngả biên thùy, quân chết tướng thua, không phải chỉ trong một năm, cuối cùng khai mở biên cảnh sâu vào đất tứ Di, khiến những kẻ khác phong tục phải quy phụ. Tiếp theo giúp người ta dần dần thấm nhuần minh ước, giáo hóa phổ biến khắp nơi, chẳng phải chuyện một ngày một buổi. Sách vở thánh nhân chú sơn giải thủy ở chốn xa xôi ấy chỉ qua loa đại khái. Tuy tứ Di qui thuận hay chống đối thì vô chừng, nhưng thanh uy và ân trạch luôn khoáng đạt, thực hành giáo hóa, nhân ái với đạo lý căng tai xăm mình, với những bộ tộc còn hoang cư và dùng điểu ngữ, tuyệt đối không đánh đuổi đến đường cùng, lúc ta quay về thì họ lại xin đặt quan cai trị, vượt qua biển lớn núi cao sông rộng, nhờ phiên dịch mong nội thuộc. Cho nên đã chọn người xếp đặt các chức danh trung lang, hiệu úy, ghi chép sổ sách đô hộ phủ, bố trí quan thái thú, sử dụng trăm ngàn vạn kế an định. Những nơi ấy còn có linh vật trong núi cao dưới biển sâu, chìm dưới cát đá là tê tê rất quý giá nơi đại lục, tuyệt không thể không dâng lên những thứ đẹp đẽ lạ lùng, để trang hoàng cung điện nhà vua. Lại còn thu được vải gai, chim hỏa thúy, chim tuần cầm và nhiều muông thú khác đem hết vào nội phủ; bài ca của người Di, điệu múa của người Ba khác âm khác nhịp, bày xếp diễn xướng ở ngoài triều. Dùng phương cách mềm dẻo đã đủ chưa? Đúng là đã trí đặt được quận huyện nơi xa xôi rồi đấy. Xứ Man Di tuy ngăn cách núi cao lũng sâu, nhưng có đất sinh sống, nối liền với vùng Kinh Sở là đất Giao, che chở đất Ba Thục cần một vùng ngoại Di, không thể xác định chỗ tận cùng. Tuy nhiên Man Di hung ác mạnh mẽ tinh ranh mưu lược, như bọn Khương Địch, có vượt qua chỗ trọng yếu bằng sự hung dữ tàn ác, cũng chẳng thể vào sâu. Bên ngoài phía tây nam, các bộ tộc người Di đặc dị nhưng yếu ớt. Cho nên tại Vĩnh Xương (Vân Nam ngày nay, gần Miến Điện) thiết quan trú thú, phòng bị người Di ở xa, sau đó khai thác đất đai, sai bách tính đến dựng xây, nay đã trở thành nơi đô hội.

Tán viết: Người Bách Man ngờ nghệch, ở khắp nơi nhỏ hẹp ngoài vùng biên ải. Họ xăm mình, che thân bằng vỏ cây, sinh sống nơi thâm sâu hiểm trở. Lại còn những người Di khác, sống bên ngoài quận Thục. Thôn làng phân bố khắp nơi, cũng biết đạo nghĩa. Họ thu nhận giáo hóa, cải biến phong tục và triều cống trân bảo. Đã xây dựng tiền đồn Vĩnh Xương, chép vào sổ sách cả triệu người.

____________________________

 

[11] Xin lưu ý bạn đọc chúng tôi dịch “Điêu đề Giao Chỉ” là “Người Giao Chỉ thích chữ lên trán”, khác với các sách vở cũ.

[12] Ngày tháng ở Nam Man Tây Nam Di Liệt Truyện và Mã Việt Liệt Truyện, tuy cùng trong Hậu Hán Thư nhưng không khớp với nhau. Ở tài liệu thứ hai chép mùa xuân năm 42 Mã Viện đến Lãng Bạc, tháng giêng năm 43 mới chém được đầu Hai Bà Trưng.

 

Older Entries

Anle20's Blog

Just another WordPress.com weblog

levinhhuy

Quắc mắt xem khinh nghìn lực sĩ/ Cúi đầu làm ngựa bé nhi đồng

thôn Sấu

Quê hương yêu dấu (Dọc hành chấm đứng). Xin các bạn vui lòng ghi rõ nguồn và dẫn link đến trang này nếu đăng lại bài của tôi

thienthanh2017.wordpress.com/

Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh - Lão Tử

Học Thế Nào

How We Learn

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Xuân Bình

Nhà báo tự do

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)