Viết cho Trương Nhã Quỳnh, nhân đoản văn đầu đời của con.

Để lại phản hồi

Con thân yêu,

Tuần này con có bao nhiêu niềm vui phải không? Vào lớp năm, sắp sinh nhật 10 tuổi và bất ngờ được báo Nhi Đồng đăng đoản văn đầu tiên, tác phẩm văn học đầu đời.

Truyentrenbao

Liên quan đến truyện của con, không chỉ có niềm vui của gia đình ta, từ ông bà nội đến các cô chú cũng như các anh chị em họ, mà còn có những điều không đáng vui. Cha ghi nhận lại mọi thứ, như một dấu mốc trên đường đời dằng dặc trước mặt của con.

***

Từ bé xíu con đã thích thơ, thích làm thơ. Có lần con đọc vài câu thơ rất nhí nhảnh và dễ thương, nhưng cha không khuyến khích con lưu lại, mà chỉ cố hướng con đến viết truyện. Cha khuyên con nên đọc nhiều sách, chú trọng sách dịch của phương Tây và Trung Hoa là chính. Con đã “tiêu hóa” xong 10 tập “Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên” và rất nhiều quyển khác rồi đúng không nào? Cô giáo khen con viết văn “sáng tạo” là vì con luôn đọc sách đấy, và cũng bởi nhà ta không có chỗ cho các chương trình truyền hình nhảm nhí.

Cha nhớ 20.11 năm 2009, thầy giáo thể dục ngồi lẻ loi một góc sân trường đã quá đỗi ngạc nhiên khi được con tặng hoa cùng những lời chúc tốt đẹp nhất. Dưới góc độ người viết văn, cha thấy “sự kiện” ấy khá sâu sắc và đáng nhớ, có thể dựng lên một câu chuyện tình người nơi học đường rất ý nhị. Nhưng có lẽ con nhỏ quá, không hiểu được, không cảm được và quyết không viết theo gợi ý của cha.

Cỡ bốn năm sau, một buổi tối con đột nhiên đưa cha bản thảo viết tay đoản văn “Con chim”. Cha đọc và thật sự ngỡ ngàng. Truyện có ý, có tứ, biết sử dụng nhân vật chính ở ngôi thứ ba, ngôn ngữ giản dị, đúng độ tuổi của con. Cha mừng lắm và bảo con tự đánh máy lại, cha sẽ biên tập một hai câu, sửa một hai từ rồi tạo tài khoản Gmail cho con để gửi cho báo Nhi Đồng.

Banthaodautien

Thuguidi

Con gửi truyện đi từ 14/2/2013 và không hề có một hồi âm nào. Có lẽ mọi thứ sẽ bị quên lãng nếu tối 4/9/2013 con không gào lên phấn khích khi thấy tên mình đường hoàng trên mặt báo, trong một tờ báo biếu gửi thẳng đến trường mà không ai (kể cả con) biết lý do vì sao. Cô giáo chủ nhiệm còn hỏi “Con tham dự đố vui hả” nữa chứ!

Nhưng niềm vui con chưa kịp tiêu hóa hết thì bạn bè và cô giáo chủ nhiệm đã dội cho con một gáo nước lạnh. Ngay trong ngày khai giảng, vài người bạn trong lớp thật thà hỏi con “Ba bạn viết hay bạn viết vậy?”. Còn cô giáo thì truy vấn mấy bận “Cô hỏi thật truyện này con viết hay ba viết?”.

Và cha đã phải cay đắng tâm sự với con: “Ở một xã hội mà sự gian dối là bình thường, thì thị phi có gì bất thường đâu con. Hãy cố gắng học thật giỏi để đi tị nạn giáo dục con nhé”.

Hôm nay đọc số báo tiếp theo số có truyện của con, thì cha không còn trách cô giáo và các bạn con nữa. Chính báo chí phải làm cho họ nghĩ như vậy con ạ. Con hãy xem kỹ hai đoản văn ở trang 19.

Doichung

Không một chút hồn nhiên con trẻ nào cả, cực kỳ gượng gạo, sáo mòn và bóng bẩy. Đặc biệt con chỉ thấy tên tác giả, tên trường nhưng không biết trường đó ở đâu. Việt Nam có hàng trăm ngôi trường mang những cái tên ấy. Tại sao ư? Cha đoán đây là mạo văn học trò của người lớn, để cho kín tờ báo, cho đủ chương mục. Và đặc biệt có lẽ học trò bây giờ không yêu văn, không đọc sách và không viết văn để gửi đến báo như con. Chúng có bao nhiêu thứ rỗng tuếch nhưng cực kỳ bắt mắt trên màn hình vi tính, Ipad, TV để giải trí, để đốt cháy tuổi thơ của mình con ạ.

***

Ngày xưa cha được lên báo trễ lắm, khoảng 19 -20 tuổi, vì không có ai kèm cặp, hướng dẫn từ nhỏ. Cái hôm thấy bút danh trên báo, cha cứ ngỡ mình đã trở thành vĩ nhân, ưỡn ngực đi tới đi lui khoái trá trong thư viện Khoa học Tổng hợp TP HCM, nơi cha đang vào đọc sách, học bài. Hai mươi lăm năm đã trôi qua, cha vẫn chỉ là một người viết tầm thường, hằng ngày phải mưu sinh bằng nghề khác không mấy hứng thú và mong sớm được nghỉ ngơi, quay về với niềm đam mê viết lách.

Cha không đủ trí tuệ và tài năng là một lẽ. Nhưng cha tự hỏi có nhà văn tài năng nào ở xứ sở này lo được cho mình và gia đình một cuộc sống sung túc đủ đầy không? Câu trả lời là không con ạ.

Dù cha rất muốn con sau này trở thành một nhà văn và sống suốt cuộc đời với tình yêu văn chương nhân văn, nhưng ba cũng sẽ chẳng buồn nếu con chọn một nghề khác. Cha chỉ mong con thành đạt, có thu nhập cao và không gượng gạo gắn bó với công việc thường nhật một cách thiếu động lực, nếu không muốn nói là chán nản.

Và con hãy ghi nhớ điều này, nếu con vẫn yêu thích văn chương, trong vài năm tới con phải cố gắng viết văn bằng một trong hai ngoại ngữ mà con đang học. Hình như con đã chứng tỏ mình có chút năng khiếu, nếu cộng thêm đam mê, học hỏi và cần cù lao động, con hoàn toàn có thể trở thành một nữ nhà văn sống được nhờ chữ nghĩa như Trương Ái Linh, Monique Trương, hoặc thậm chí có thể trở thành triệu phú như EL James, Dương Hồng Anh (Yang Hongying).

***

Những điều cha viết cho con, hôm nay có thể con chưa hiểu hết, nhưng nó sẽ mãi mãi tồn tại trên thế giới mạng, để con tìm đến mỗi khi cần một niềm an ủi, vỗ về hay động viên trong cuộc sống. Hãy vững tin và nuôi dưỡng ước mơ trở thành nhà văn con nhé!

Cha của con,

T.T.Du

Trả lời tác giả “Bố tôi chết vì ung thư tử cung”!

3 phản hồi

IMAG0251
Hai năm rưỡi nay tôi hầu như không viết gì, lâu lâu copy và paste những điều lý thú trên mạng hoặc từ email của bạn bè khắp nơi chia sẻ. Hôm nay giật mình khi nhận được thị phi ở đây:

“Thứ hai là ông Trương Thái Du, một con người điển hình của nói năng điềm đạm, nho nhã, nhưng thật ra vô cùng thâm hiểm. Tôi thấy ông Trương Thái Du chỉ thỉnh thoảng đi đâu đó nói câu này câu kia ra cái vẻ khách quan lắm, như là chỉ phê phán tôi vừa phải thôi, nhưng tôi cũng là người biết quan sát, tôi biết ông Trương Thái Du hả hê lắm. Bởi thật ra, trước đó, đã có lần ông Trương Thái Du nhờ tôi đọc rồi nhận xét hộ truyện ngắn cho ông, thì tôi đã từ chối thẳng. Tôi biết với ông, như thế là một sự sỉ nhục, nhưng tôi xin lỗi, với tôi, sẽ là sỉ nhục nếu phải đọc văn ông. Tôi là người không bao giờ để lộ ra các chi tiết liên quan đến nghề nghiệp, nhưng tôi xin phá lệ một lần để nhận mình chính là người từng bỏ phiếu chống đăng truyện của ông trên một trang web, khi tôi ở trong ban biên tập tại đó. Đến bây giờ, tôi vẫn giữ nguyên quan điểm, văn chương Trương Thái Du là văn chương tôi không thể đọc được.”

Thật là rầy rà và quá đỗi ngạc nhiên.

Là một người viết không chuyên, vô danh, hoạt động chủ yếu trên mạng, điều tôi nhớ rất rõ là tôi từng nhiều lần, ở nhiều thời điểm, gửi bản thảo của mình cho rất nhiều địa chỉ email. Đó có thể là email của một NXB, một chủ trang web, một người hoạt động trong giới văn chương .v.v… Phần lớn các email ấy không được trả lời, một số ít phản hồi, để cuối cùng tôi chỉ có được hơn chục truyện ngắn đăng ở báo Văn Nghệ, Tuổi Trẻ; hai quyển sách ở NXB Lao Động và NXB Văn Học; góp mặt trong một hai tuyển tập của NXB Trẻ.

Điều tôi không thể nhớ rõ là đã email thẳng cho Cao Việt Dũng hoặc là email đến NXB do Cao Việt Dũng phụ trách.

Do đó rất dễ hiểu, tôi không thể có tư thù với Cao Việt Dũng vì anh ta từ chối đọc bản thảo của tôi.

Tôi chỉ mới biết Cao Việt Dũng vài năm trở lại đây, qua các bài lăng xê trên báo và một hai bản dịch. Có lần tôi chê một nhà văn nữ, và được bạn đọc nhắc nhở đó là vợ anh ấy:

“Nhiều cách sống” thì thất bại thảm hại. Vừa đọc vừa chê và quyết tâm gấp chéo những chỗ “lưu ý” để “nhặt sạn”, nhằm hóa cải một quyển sách dở thành “bài học nên tránh”… Phải chăng đây là cách “tiết kiệm” hiệu quả tiền bạc lẫn thời gian?

Tựa sách: Hóa ra là xén một câu của nhà văn hạng hai Nhật Bản Murakami.
Tên nhân vật chính: Lâm Lâm nhé. Bỗng nhớ đến chị hai sến nhão “Em xinh không?” mới đổi bút danh thành Đình Đình. Cảm giác như là bị ép dùng con xe máy Hongda Tàu giả Honda Dream Nhật đi du lịch liên tỉnh vậy.
Nội dung: Nhạt từng xăng ti mét. Hư cấu rất giả tạo từ sự kiện đến tình tiết. Chẳng hạn trang 36, cô gái ngồi ghế trước taxi bốn chỗ (cạnh lái xe) có thể nhìn qua kính chiếu hậu (dành cho lái xe) mà tả cảnh ở băng sau như phim hành động USA.”

Cái kiểu “bẻ kính chiếu hậu” của Nguyễn Quỳnh Trang, gần đây tôi thấy rất giống “Đánh dấu mạn thuyền” của Phan Việt.

“Phan Việt. Tiếng Người (Kindle Locations 2220-2223). trongtk2305@gmail.com (TVE).

Những chiếc côngtennơ đung đưa trong không trung theo chiều xoay của những cánh tay cẩu dài. Mực nước buổi chiều trên sông Sài Gòn xuống thấp, để lộ vạch nước bám trên thân con tàu và hàng chữ ASEAN PREMIER ở mũi. Mũi tàu dốc đứng, vát một vạt nước chéo trên mặt nước đục.”

“Bố tôi chết vì ung thư tử cung” nằm trong hệ thống sai lỗi điển hình của các tác phẩm văn chương Việt Nam, đó là thiếu vốn sống phổ thông.

Nếu đủ vốn sống thì Nguyễn Quỳnh Trang đã biết rằng gương chiếu hậu một chiếc xe hơi chỉ dành cho tài xế chứ không phải người ngồi bên cạnh.

Nếu đủ vốn sống thì Phan Việt phải hiểu rằng con tàu nổi trên nước, cho nên nước lên hay xuống thì cũng là ngấn nước ấy, nó không thể làm lộ cái gì ra cả.

Nếu đủ vốn sống thì Cao Việt Dũng không thể lướt qua câu văn “Bố tôi chết vì ung thư tử cung” một cách cẩu thả như thế.

—————-

“Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, thế mà trong entry dài dằng dặc đã dẫn, chúng ta chỉ thấy Cao Việt Dũng “trách nhân”. Thật đáng tiếc. Đáng tiếc hơn nữa là đã đưa tên một kẻ vô danh vào cuối bảng phong thần để trách, để quảng cáo không công cho nó!

Tất cả những nhận xét đây đó của tôi về anh Cao Việt Dũng, đều xuất phát từ tâm thế một người đọc mà thôi. Những người đọc bình thường như tôi, một khi đã nhìn thấy cái sai lỗi mang tính hệ thống của tác giả – dịch giả, thì hận lắm, đau lắm. Vì mình đã tốn tiền (mua sách), tốn thời gian với những thứ không đáng bận tâm.

Acsimet đã nói: “Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng quả đất lên”. Cao Việt Dũng nên tựa vào một lời xin lỗi bạn đọc cả nước, bước qua định kiến, tiếp tục làm việc để trở thành một dịch giả lớn.

Nếu không có dũng khí như Dostoevsky, so sánh Raskolnikov với Napoleon, để đưa “Tội ác và trừng phạt” lên tầm nhân loại; thì cũng nên bình thản chơi đùa với “Trái cóc xanh” nhằm tự giễu cợt mình, nhắc nhở mình trên con đường văn chương “Đắc thất thốn tâm tri”!
IMAG0252

Cao Lương Đỏ – Mạc Ngôn

Để lại phản hồi

Theo lịch cũ, mồng chín tháng tám năm 1939, cha tôi, người mang dòng máu thổ phỉ vừa hơn mười bốn tuổi, ông gia nhập vào đội quân của tư lệnh Dư Chiêm Ngao, mà sau này trở thành anh hùng truyền kỳ danh tiếng khắp trong thiên hạ, đi phục kích đoàn xe ô tô Nhật Bản trên đoạn đường Giao Bình. Bà nội tôi tiễn họ tới đầu thôn, bỗng Dư tư lệnh hô: “Nghiêm!”, nội liền đứng nghiêm và dặn dò cha tôi: “Đậu Quan, hãy nghe lời cha nuôi nghe con!”. Ông im lặng cúi đầu không một lời đáp lại.

Đoàn người đi trong đêm mù sương, bí mật hành quân trên những thửa ruộng cao lương đỏ của quê hương Cao Mật. Ôi Cao Mật, nơi tôi yêu nhất mà cũng là nơi tôi ghét nhất, mãi sau này lớn lên học hành giác ngộ, tôi mới hiểu ra, không nơi nào trên trái đất lại đẹp nhất và xấu nhất như Cao Mật, cực kỳ siêu thoát mà cũng cực kỳ thế tục, sạch sẽ nhất và bẩn thỉu nhất, anh hùng hảo hán nhất và đầu trộm đuôi cướp nhất, nơi biết uống rượu nhất và cũng là nơi biết yêu đương nhất. Cao Mật với bạt ngàn cao lương đỏ, huy hoàng, dào dạt, uyển chuyển và dậy sóng biết bao.

Năm nội tôi tròn 16 tuổi, cô thiếu nữ vừa xuân thì, phát tiết dung nhan, thắm màu hoa nguyệt, buồn rười rượi bước lên kiệu hoa, dập dềnh trên biển máu cao lương, đỏ như không thể nào đỏ hơn nữa. Cố tôi gả nội cho chủ nợ họ Đơn, về làm vợ thằng con trai độc tự Biển Lang. Tuổi xuân rực rỡ của nội khiến bà khát khao được ngả vào lòng một chàng trai vạm vỡ đàn ông, giải khuây bao nỗi trầm uất, cô tịch trong chiếc kiệu hoa ô uế này. Nội không chịu nổi cái cảnh tù túng giữa bốn bức màn vải đỏ; với bàn chân nhỏ xíu nhọn tựa búp măng, bà tách mảnh rèm kiệu thành khe hở và trộm ngó ra bên ngoài, hai đòn cáng kiệu bóng loáng đè lên bốn tấm vai bạnh của những người phu kiệu, mà nơi họ bốc ra mùi mồ hôi chua loét, mùi mồ hôi đàn ông quyến rũ nội, khiến từng vòng, từng vòng sóng xuân lăn tăn, lăn tăn dậy lên nơi lòng bà, rạo rực lạ thường. Một trong bốn phu kiệu hôm đó sau này là ông nội của tôi, người có tên tư lệnh Dư Chiêm Ngao lẫy lừng.

Đám phu kiệu đưa nội tôi ra tới đường cái quan, bao la một cảnh đồng rộng sông dài, những thanh niên lực lưỡng bắt đầu nghĩ cách trêu chọc cô dâu, họ chạy nhanh làm cho nội ngồi trên kiệu lắc lư, điên đảo, nôn hết nước xanh nước vàng, bảo họ đi chậm lại thì cả bốn người đều thưa rằng, phải vượt qua hang Cóc trước lúc trời tối kẻo có cướp. Nội tôi khóc thút thít không phải vì bốn anh phu kiệu chơi khăm bà, mà vì nghĩ tới người chồng sẽ động phòng hoa chúc đêm nay – Đơn Biển Lang, một bệnh nhân kinh phong, con trai độc nhất của Đơn Đình Tú, tay bá hộ giàu lên nhờ nấu rượu cao lương, nhẽ nào bà lại phải trao thân cho hắn, nội tôi càng nghĩ càng khóc thành tiếng khiến phu kiệu Dư Chiêm Ngao động lòng trắc ẩn và mơ hồ thấy cả một vầng sáng ngày mai. Đoàn người vừa đến hang Cóc thì quả nhiên có cướp, một tay thổ phỉ cao to, lưng mang bao vải đỏ cồm cộm những tiền là tiền, hét lớn: “Mãi lộ!”. Đám phu kiệu vâng lời có bao nhiêu dốc hết để tìm cách thoát nạn. Nhưng tên cướp vén màn vải gọi nội tôi bước ra và hạ lệnh: “Đi theo tao xuống ruộng cao lương kia!”. Nội thản nhiên, cương nghị và liếc nhìn phu kiệu Dư Chiêm Ngao. Hiểu ý người đẹp, họ Dư bất thần song phi đá lăn tay thổ phỉ, đoàn người xô tới bóp cổ hắn chết tươi. Dư Chiêm Ngao dìu nội lên kiệu, họ cười với nhau thật huy hoàng và cao quý, bà xé toang màn kiệu, tự do hít thở không khí, tự do ngắm tấm lưng trần lực lưỡng đàn ông của Dư Chiêm Ngao, người mà cháu chắt chúng tôi đang ngày đêm hương khói phụng thờ…

Cha tôi như một liên lạc viên dẫn đoàn quân luồn giữa ruộng cao lương, tay ông luôn nắm chặt khẩu súng lục to quá cỡ đeo lủng lẳng bên hông. Họ đến nơi phục kích thì cũng vừa lúc đàng đông ửng hồng, nhưng trên con lộ vẫn chưa thấy một chiếc xe nào của giặc cả. Dư tư lệnh bảo mọi người hãy tạm nghỉ trong ruộng cao lương và nói với cha tôi: “Đậu Quan, quay về nhờ mẹ làm cho ít bánh, khoảng trưa thì đem ra và dặn mẹ con cùng đi nữa nghe”. Cha tôi chạy một mạch tới nhà, ông ôm lấy nội, người con gái hoàng hoa thời ấy nay đã là thiếu phụ phong sương. “Mẹ cho nhiều trứng vào bánh nhe”. “Ừ, bọn giặc vẫn chưa đến à?”. “Chưa mẹ ạ, Dư tư lệnh dặn mẹ gánh bánh ra cho ông và binh lính đó”. Xong nhiệm vụ, cha tôi chạy như bay về bên tư lệnh báo cáo: “Trưa nay nhất định có bánh”. Nói chưa dứt lời thì cha tôi phát hiện từ xa bốn con bọ hung sắt bò trên đường lộ, ông kêu lên: “Tư lệnh xem kìa, xe giặc”.

Nội “nhận lệnh” và liền hô hào con cái nhào bột làm bánh. Đúng giờ hẹn bà vận chiếc áo màu đỏ thẫm, trên vai kĩu kịt một gánh những cái bánh còn nóng hổi, thoăn thoắt hướng về cầu đá, nơi tư lệnh đang chờ. Từ ngày đi lấy chồng, nội tôi vẫn giữ được vẻ yêu kiều của thiếu nữ, công việc nặng nhọc chẳng mấy đến tay cho nên gánh bánh khao quân đã hằn lên vai nội một vệt bầm khá sâu, màu tím đỏ, ấy là biểu tượng cho hành vi anh dũng kháng Nhật mà nội mang theo khi từ giã cõi đời.

Đoàn quân tập trung hỏa lực nhắm vào xe giặc đang tiến dần tới điểm chết, nhưng bỗng có tiếng súng nổ, đạn từ chiếc xe đi đầu nã ra, cha tôi ngoái nhìn và trông thấy nội như cánh bướm hồng chấp chới, ông chưa kịp kêu lên: “Mẹ…” thì nội đã ngã nhào. Cha tôi vọt khỏi ổ phục kích chạy về phía nội, Dư tư lệnh đành cho nổ súng tiêu diệt đoàn xe. Mặt nội úp xuống đất, máu đỏ như màu rượu cao lương ọc trào lên từ hai lỗ đạn trên lưng. Cha tôi lật người nội trở lại, dung mạo vẫn đoan trang, mái tóc vẫn óng mượt, phẳng phiu dưới hai cái kẹp sừng, vài hạt cao lương bay xuống đậu bên đôi môi của nội. Cha tôi đặt nội nằm trên những thân cây cao lương, nhìn miệng nội dần dần biến sắc, cha nấc lên từng tiếng. Nội thì thào: “Cha con đâu?”. “Cha nào hở mẹ?”. “Dư tư lệnh, cha nuôi ấy”. “Ông đang đánh giặc ở đằng kia”. “Người đó chính là cha đẻ của con…” – cha tôi gật đầu, lặng nhìn phút lâm chung của nội. Hai phát đạn từ sau lưng xuyên qua bầu vú, bộ ngực trắng nõn của bà giờ đã rực hồng, bà vui sướng trông rõ những bông cao lương đung đưa, trông rõ khuôn mặt người con trai, tác thành bởi một cuộc tình thắm đỏ như cao lương quê hương, bà mỉm cười e ấp và có vẻ như thẹn thùng xấu hổ nhớ lại quá vãng thật ngọt ngào và đẹp đẽ…

Đơn Biển Lang quả đã mắc bệnh kinh phong, hai đêm ở nhà chồng, nội tôi thức trắng với con dao trong tay, sáng ngày thứ ba cố tôi say túy lúy dẫn nội về, bà giận lắm. Nội tôi ngồi vắt vẻo trên mình con la, vừa rẽ qua quãng đường cong thì một bóng đen bỗng ào ra, bồng nội chạy mất hút vào ruộng cao lương ken dày như rừng rậm. Nội không còn sức lực nào mà vùng vẫy nữa và bà cũng chẳng muốn vùng vẫy làm gì, thậm chí còn quàng tay qua cổ bóng đen để người ấy bồng bà nhẹ nhàng, thoải mái hơn. Ba ngày sống giữa rừng cao lương, nội tôi như qua một giấc mơ, thấm đậm lẽ đời nhân thế. Người ấy tháo tấm vải đen che mặt, hiện nguyên hình, nội thầm kêu trời ơi và nước mắt lưng tròng vì sung sướng. Chàng cởi tấm áo trải ra làm chiếu, chân đạp mấy cây cao lương rạp xuống làm giường, rồi nhẹ nhàng bồng nàng đặt lên đó, nàng nhìn chàng vạm vỡ, cường tráng, bỗng ngây ngất trong lửa tình rạo rực dồn nén mười sáu năm qua, chàng mạnh bạo lột mọi xiêm y và nàng mãn nguyện hưởng niềm khoái lạc. Họ yêu nhau như vậy suốt ba ngày liền và cha tôi chính là kết tinh của cuộc tình cuồng nhiệt, thống khổ đó. Sau ba ngày đêm ân ái, ông bà tôi chia tay nhau, ông đưa bà ra đến bờ đường và thoắt một cái đã biến mất giữa muôn trùng biển máu của cao lương đỏ… để hôm nay trở thành Dư Chiêm Ngao trở về nhận con và thăm lại tình nhân.

Còn nội, nội vẫn nằm đó trên đệm cây cao lương như mười mấy năm trước, nhưng đã mệt lắm rồi. Phải chăng cái chết đang dần tới, phải chăng ta không còn có thể nhìn thấy trời này, đất này nữa sao, thế còn con ta, người tình của ta? Hỡi trời, người nào có dạy con trinh tiết là gì, chính chuyên là gì, thế nào là lương thiện, thế nào là ác tà, con chỉ biết hành động theo cách nghĩ của con. Con yêu hạnh phúc, con yêu sức mạnh, con yêu cái đẹp, thân này là của con, con có quyền làm chủ nó, con không sợ phạm tội, con không sợ trừng phạt, con không sợ rơi xuống mười tám tầng địa ngục của người. Nhưng con không muốn chết, con muốn sống, con muốn nhìn thế giới này…

Nội tôi vẫn không rời mắt những ngọn cao lương đỏ, đung đưa, mông lung, chúng kỳ ảo, chúng rên la, chúng kêu gọi, có lúc như người thân, có lúc như ma quỷ, như đàn rắn quẩn quanh người nội, chúng cười, chúng khóc, xanh đỏ trắng đen biến hóa khôn lường… Cha tôi chạy nhanh về phía Dư tư lệnh, hốt hoảng, thất thanh: “Mẹ nhớ cha, cha ơi”. “Con ngoan của ta, hãy cùng cha diệt nốt mấy thằng chó đẻ này đã”. Trận mạc tan khói súng, cha con họ vội chạy tới bên người thiếu phụ thì bà không còn sống nữa, nhưng khuôn mặt vẫn rạng rỡ cao quý dành riêng cho tình nhân cao lương đỏ, ông nội tôi vuốt mắt bà, rồi chặt ngã bao cây cao lương phủ đầy lên thi thể người quá cố.

Nắng chiều chiếu xiên qua chiến trường, dưới kia dòng sông một màu máu đỏ, trên này cánh đồng cũng đỏ bởi ruộng cao lương. Cha tôi tha thẩn nơi bờ đê, cúi nhặt chiếc bánh và đưa cho ông nội: “Cha ơi, cha ăn đi, bánh của mẹ con làm cho cha đó”. Tư lệnh Dư Chiêm Ngao cắn từng miếng bánh, hòa với dòng lệ tuôn trào, lần đầu tiên người anh hùng đã không cầm được nước mắt.

(Thái Nguyễn Bạch Liên dịch

MacNgon_TuyenTap (Kindle Location 22741).

——————–

红高粱

莫言

1939年古历八月初九,我父亲这个土匪种十四岁多一点。他跟着后来名满天下的传奇英雄余占鳌司令的队伍去胶平公路伏击日本人汽车队。奶奶披着夹袄,送他 们到村头。余司令说:“立住吧。”奶奶就立住了。奶奶对我父亲说:“豆官,听你干爹的话。”父亲就这样奔向了故乡通红的高粱地。八月深秋,无边无际的高粱 红成洋的血海。高粱高密辉煌,高粱凄婉可人,高粱爱情激荡。秋风苍凉,阳光很旺,瓦蓝的天上游荡着一朵朵丰满的白云,一队队暗红色的人在高粱棵子里穿梭 拉网,几十年如一日。他们杀人越货,精忠报国,他们演出过一幕幕英勇壮烈的活剧。

  很快,队伍钻进了高粱地。父亲不知道我奶奶在这片高粱地里主演过多少风流喜剧,父亲也不知道在这高粱阴影遮掩着的黑土 上,曾经躺过洁白如玉的光滑肉体,但父亲记得待他如亲爹的罗汉大爷,就是去年死在这里。他的尸体被割得零零碎碎,扔得东一块西一块。躯干上的皮被剥了,肉 跳、肉蹦,象只褪皮后的大青蛙,父亲一想起罗汉大爷的尸体,脊背沟就发凉。

  刘罗汉大爷是我家历史上一个重要人物。老人们说,他和我奶奶之间不太清白。他与我奶奶是否有染,现已无法查 清。罗汉与我的家族只有经济上而无血缘上的联系,我奶奶是他的东家。我奶奶是否爱过他,他是否上过我奶奶的炕,都与伦理无关。爱过又怎样?我深信,我奶奶 什么事都敢干,只要她愿意。她老人家不仅仅是抗日的英雄,也是个性解放的先驱。罗汉大爷象一个忠实的老家人为我家历史增添了光彩。县志载:民国二十七年, 日军捉高密、平度、胶县民夫累计四十万人次,修筑胶平公路。毁稼禾无数。公路两侧骡马被劫掠一空。农民刘罗汉,乘夜潜入,用铁锹铲伤骡蹄马腿无数,被捉 获。翌日,日军在拴马桩上将刘罗汉剥皮零割示众。刘面无惧色,骂不绝口,至死方休。

  我奶奶刚满十六岁时,就由父母作主,嫁给高密东北乡有名的财主单延秀的独生子单扁郎。单家开着烧酒锅,以廉价 高粱为原料酿造优质白酒,方圆百里都有名。出嫁那天,奶奶坐在憋闷的花轿里,头晕眼眩。那天抬我奶奶的四个轿夫中,有一个后来成了我的爷爷——他就是余占 鳌。那时候他二十郎当岁,是东北乡打棺抬轿这行当里的佼佼者。一路上,轿夫们边抬轿边议论。他们骂我外祖父是个见钱眼开的人,说单扁郎是个流白脓淌黄水的 麻风病人。“小娘子,你可不能让单扁朗沾身啊,沾了身你也烂啦!”奶奶听罢,放声大哭,高粱深深震动。吹鼓手停嘴不吹,只剩下奶奶的呜咽。

  突然,轿前有人高叫一声:留下买路钱!吹鼓手和轿夫们纷纷掏出钱,扔下。那人收起钱,眼睛死死盯着坐在轿里的 我奶奶。“下轿,跟我走,往高梁地里走。”奶奶脸上表情分裂成碎片,用亢奋的眼睛看着余占鳌。余占鳌对劫路人笔直走过去,他前进一步,那人就缩一点,当余 占鳌离他三步远时,那人转身就跑,余占鳌飞起一脚,那家伙飞了出去,轿夫们一拥而上,花拳绣腿,一会儿就没声息了。余占鳌把那人的“手枪”拿过来,原来是 红布裹着个树疙瘩。

  到了单家,奶奶手持着剪刀守了两夜,才逼得那个“麻疯”不敢近她身。第三天,我奶奶回门。坐着毛驴,外公跟 着,晃晃荡荡走向高粱地。走着走着,拐弯时,一只有力的胳膊挟起奶奶向高粱深处走去。奶奶无力挣扎,也不愿挣扎。那人把奶奶放在地上,奶奶软得象面条一 样。那人撕掉蒙面黑布。是他!奶奶激动得热泪盈眶。余占鳌用脚踩断几十棵高梁,铺上蓑衣,把我奶奶抱在上面,奶奶心头撞鹿,潜藏了十六年的情欲,迸然炸 烈……

  奶奶和爷爷在生机勃勃的高粱地里相亲相爱,两颗蔑视人间礼法的不羁心灵,比他们彼此愉悦的肉体贴得还要 紧。……奶奶从迷荡的天国回到残酷的人世,她坐起来,六神无主,泪水流到腮边,说:“他真是个麻疯。”爷爷跪着,不知从什么地方抽出一柄二尺多长的小剑, 噌一声拔出鞘,说:“三天之后,你只管回来!”三天后,小毛驴又把奶奶驮回来,一进村就听说,单家父子已被人杀死。

  余占鳌的队伍走过高粱地,走上河堤。余司令说:“都下堤藏好,等鬼子汽车上了桥,一齐开火,把畜生们打到河里喂白鳝。”父亲趴在余司令身边。余司令问:“你怕不怕?”父亲说:“不怕!”余司令说:“好样的,是你干爹的种!”

  晌午时分,奶奶带着人给余司令的人送卡饼来了。奶奶这时刚过三十岁,扎着盘头髻,刘海五绺,眼睛里永远秋水汪 汪,有人说是被高粱酒熏的。十五年风雨狂心魂激荡,我奶奶由黄花闺女变成了风流少妇。奶奶挑着一提卡饼,象只飞翔的大鸟,向这边充实地移动着。同时,被红 高粱夹峙的公路上,已出现了鬼子的汽车,四个甲虫状的怪物,无声无息地爬过来了。

  还是父亲最先发现我奶奶。父亲靠着某种神秘力量启示,在大家目不转睛地盯着缓缓前进的汽车时,他一歪头,看到 奶奶象鲜红的大蝴蝶一样款款飞来,父亲高叫一声。“娘——”。这叫声象下达了一道命令,从日本人汽车上,射出了一阵密集的子弹。父亲眼见着我奶奶胸膛上的 衣服啪啪裂开两个洞。“娘——”,我父亲撕肝裂胆地高叫一声,向奶奶扑去……

  战斗结束了,余司令的队伍伤亡惨重。但鬼子的汽车一辆也没跑掉,父亲和爷爷不知道,他们打死的鬼子中,有个老 鬼子,就是有名的中岗尼高少将。……父亲牵着爷爷的手,向高粱深处走。奶奶躺在高粱下,脸上留着为我爷爷准备的高贵的笑容。父亲第一次发现,两行泪水,从 余司令,不,从爷爷坚硬的脸上流下来。

  (原作载《人民文学》1986年第3期)

——————–

《红高粱》作者莫言,原名管漠业,1956年生于山东高密。1981年开始写作。曾出版小说《透明的红萝卜》、《红高粱家族》、《爆炸》等。莫言小 说有与众不同的写法,代表作《透明的红罗卜》和《红高梁》写农村生活,但突出写人的“感觉”——记忆中的感觉和现实中的感觉,从而构成“莫言的感觉世 界”。因此某些评论家把莫言的小说看作是“新感觉主义”的代表作。

《红高粱》是最能反映莫言风格的一篇奇作。小说以一块块的感觉画面组合而成,形成一个以独特感觉为基础的“红 高粱”世界。从题材看,小说取材于作者家乡的抗日生活,写作目的也很明确,在小说结尾处作者表示:“谨以此文召唤那些激荡在我的故乡无边无际的通红的高粱 地里的英魂和冤魂。我是你们的不肖子孙,我愿扒出我的被酱油腌透了的心,切碎,放在三个碗里,摆在高粱地里。伏惟尚飨!尚飨!”在小说里,作者以家乡的红 高粱作为背景,以活生生的感觉记忆为笔锋,游犁般地描写着家乡的抗日生活画面。无边无际的高梁地红成洋的血海,血海中,有着生命的野合,有着活剐的血 腥,有土匪的出没,有英勇的伏击。与以往的“抗日文学”不同,《红高粱》摒弃了种种思想框框的制约,抹去了单纯乐观的色调,把家乡的抗日生活重新放置在民 族的自然发展和充满血腥的历史过程中去。后来有人惊叹地评价,《红高粱》把抗日题材“拖出了困海”。不仅如此,《红高梁》还为我国当代的“战争文学”拓出 了一条新路。

小说为我们塑造了一个引人注目的女性形象,那就是“我奶奶”。在莫言的感觉世界中,“我奶奶”首先是一个充溢 着生命活力与性的诱惑的风流女子。她十六岁出嫁,憧憬着能颠倒在一个强壮男人的怀抱里,殊不知,贪财的父亲把她嫁给了一个麻疯病人,只因为单家是个百里首 富,只因为单许给他一头骡子。“我奶奶”绝望了,死而后生,她不顾一切,顺从自然地接受了高梁地里与余占鳌的野合。小说运用感觉的笔触,描写了这场野合的 亢奋场面。一个是拦路劫持,身强力壮,后来成为土匪司令的余占鳌;一个是被礼法世界推向火坑,而又绝处逢生、情欲之血沸腾不已的妙龄女子,他们狂欢做爱, 他们精神契合,此时此刻,传统的伦理道德荡然无存,生命之火一浪高一浪地燃烧。“我奶奶”那红高粱一般通红的性格也由此成形。在莫言的感觉世界中,这一人 物之所以充满坚定的抗日激情,不是因为种种苍白的理性思想的原因,而是因为,或者说最重要的原因是,“我奶奶”的管家与情人刘罗汉大爷为保护她和她家的财 产而被日本人活活生剥,这一血腥惨目的景像使她不杀日本人不得安宁。她端出纪念刘罗汉大爷的血酒,让余司令喝了去杀日本人,让儿子豆官跟上余司令为罗汉大 爷报仇,而自己也象大鸟一样牺牲在伏击日本人的战场上。“我奶奶”这一形象,完全不是传统美学的善男信女形象,而是一个有着女性身躯,充满生命活力,洋溢 着风流情性,以义气为热血的形象。有人认为,这一形象具有某种西方的审美特征,是个拥有“性解放”意识的现代女性形象。其实,这一形象的文化底蕴依然渊源 于我国的传统文化。在我国广大农村,保存与流传着一种具有原始意味的,常与礼教相对峙的俗文化方式,在这一文化方式中,人们以求生为第一愿望,以男女相交 为本性常情,以忠义相助为处世原则,以敢做敢为为英雄豪气。“我奶奶”这一形象,充分体现了这一俗文化的如许特征。

小说以一幅幅独特的感觉画面构成莫言的感觉世界。无边际恍如血海的红高粱,高粱地里狂风疾雨般地男女做爱, “我奶奶”那风流的充满诱惑的形体与肉体,刘罗汉大爷被活剥后仍然痛骂不休的令人颤栗的场面,奶奶临死前对天理的种种发问与骄傲的自我伸张,无一不是充满 激情的感觉投身。莫言的感觉与众不同,他的感觉除排斥了传统伦理与理性教条的制约外,更重要的是,他的感觉具有北方农村那种土生土长的,具有原始意味且发 育不全的质朴而又充满灵气的农民式的感觉心态,具有浓郁的我国民俗文化的认知特征。为恰切地表现这一感觉心态,莫言的小说总是习惯以“童年视角”为感觉本 体。《红高粱》就是以十四岁的豆官的感觉记忆作为线索,另加上“我”的感觉补充组合而成的。细心描绘每一个不同的感觉场面,再把许多的感觉场面加以串联组 合,形成完整的感觉体系,便是《红高粱》乃至莫言的创作特色。

Tủ sách miễn phí cho mọi người

3 phản hồi

Tôi là một trong những nhà văn đầu tiên ở Việt Nam chia sẻ tác phẩm miễn phí trên mạng. Từ năm 2001, tiểu thuyết “Miền cổ tích hoang hư” đã có mặt ở Việt Nam Thư Quán. Bản Miền Cổ Tích Hoang Hư mà mọi người thấy hiện nay là version 2, lưu từ năm 2004.

Thật tình khi viết xong bất cứ thứ gì, tôi đều muốn nó được xuất bản theo kiểu chính thống. Đó cũng là cách tôi hy vọng tác phẩm của mình được đánh giá khách quan hay-dở, trước tiên qua khâu biên tập. Tôi đã may mắn có hai quyển sách được hai nhà xuất bản ở Việt Nam ấn hành.

1. Một cách tiếp cận những vấn đề cổ sử Việt Nam – NXB Lao Động 2007.

2. Hận lãng bạc – Tiểu thuyết lịch sử – NXB Văn Học 2011.

Song ước ao lớn nhất của tôi là sống được bằng sở thích của mình. Ước ao ấy cho đến lúc này, phải nghiêm túc nhận định là không tưởng, với bất cứ nhà văn Việt Nam nào.

Do đó từ nay tôi quyết định sẽ tự xuất bản các tác phẩm đã và đang viết của mình dưới hình thức ebook miễn phí. Trong khoảng 5 đến 10 năm trước mắt, tôi tạm xem văn chương là một sở thích ít tốn kém để theo đuổi, ngoài công việc mưu sinh thường nhật.

Và đây là quyển sách đầu tiên tôi gửi đến tất cả mọi người:

Tập truyện ngắn – Con Rồng Chữ

(Do sử dụng máy chủ miễn phí, link này sẽ mất trong vòng khoảng 30 ngày. Tuy nhiên 30 ngày là quá đủ cho rất nhiều trang truyện miễn phí và có thu phí copy về lưu giữ. Nếu ai không download được, xin liên lạc trực tiếp với tôi hoặc bác google 🙂 )

Ra mắt tiểu thuyết Hận Lãng Bạc

6 phản hồi

An Nam viễn cống vẹt hồng

4 phản hồi

VẸT ĐỎ

An Nam vừa cống vẹt hồng

Tiếng người nhẫn nhục, màu lông hoa đào

Văn chương thế mới tự hào

Muôn năm biết đến khi nào tự do?

—————————

Phần dưới đây copy từ blog Nguyễn Xuân Diện:

HỒNG ANH VŨ

Bạch Cư Dị

紅鸚鵡

安南遠進紅鸚鵡
色似桃花語似人
文章辯慧皆如此
籠檻何年出得身

Phiên âm: HỒNG ANH VŨ

An Nam viễn tiến hồng anh vũ
Sắc tự đào hoa, ngữ tự nhân.
Văn chương biện tuệ giai như thử,
Lung giám hà niên xuất đắc thân!

Dịch nghĩa: CHIM VẸT ĐỎ

Nước An Nam xa xôi vừa dâng chim vẹt đỏ,
Màu lông tựa hoa đào, tiếng giống tiếng người.
Văn chương và phát ngôn biện luận nếu cũng như thế,
Vậy đến năm nào mới thoát khỏi kiếp chim lồng!

Entry tất niên

7 phản hồi

Năm nay tôi không gửi truyện hoặc bất cứ bài báo nào cho các báo tết. Nhưng thật buồn cười, giống như hai năm trước, bút danh của tôi lại được dùng, làm niềm vui của bạn này không trọn vẹn. Đây là đoạn văn đính chính của BBT báo Văn Nghệ Trẻ: “Triều cường (Nguyễn Anh Vũ) – do sơ xuất biên tập nên tác giả bị nhầm trên báo là Trương Thái Du. Thành thật xin lỗi các tác giả và bạn đọc”.

Tình thực, tôi cũng có một truyện 100 chữ mang tên Triều Cường nhưng chưa hề gửi báo. Thậm chí một trang web văn học khi nhận bản thảo toàn bộ truyện ngắn của tôi đã email thắc mắc rằng hình như file Triều Cường bị lỗi, mất hết chữ. Không hiểu sao BTV Văn Nghệ Trẻ lại có thể nhầm lẫn được? Tại vì tôi hay ghi lại địa danh Thảo Điền dưới các văn bản của mình chăng? Triều Cường của Nguyễn Anh Vũ cũng nói về Thảo Điền. Thậm chí năm ngoái, nhà thơ Dạ Thảo Phương còn đưa địa danh Thảo Điền thành bút danh của tôi trong một bài viết trên báo tết nhà bạn. Mãi gần một năm sau bạn ấy còn xin lỗi, làm tôi ái ngại quá.

Hôm nay, mọi công việc cũ đã khép lại, tất bật cuối năm đã qua đi, có chút thời gian thư thả, xin post tặng các bạn hai truyện cùng tên Triều Cường.Truyện của tôi ngắn hơn, xin phép để lên trên, chứ không có ý gì.

Kính chúc các bạn đọc blog tôi một năm mới an khang – thịnh vượng và như ý.

———————-

Triều cường

Đường đi thành dòng sông. Linh xắn quần toan bước tới nhặt bọc rác nhà ai bị sóng lôi ra, vật vờ giữa hẻm.

– Vào ngay – Mẹ Linh thét lên

– Con muốn làm một việc tốt để sáng mai tả lại trong giờ Tập làm văn.

– Hãy tưởng tượng cho khéo và đem chúng vào vở!

– Cô giáo bảo thế là giả dối.

– Cấm tiệt đấy – Mẹ Linh chuyển giọng, gần như âu yếm – Nước cống trào lên hôi thối thế này, mất vệ sinh lắm con ơi.

T.T.Du

Thảo Điền 11.2006

———————-

Triều cường

(Nuyễn Anh Vũ. 2008)

Thảo Điền.

Chắc trước đây, khu này là cái ruộng ngập cỏ. Tôi làm gì ở giữa ruộng cỏ giờ này? Không thấy ruộng, cũng chẳng thấy cỏ đâu. Chỉ loe nghoe dưới giàn hoa vàng hoe trước tiệm cắt tóc (chút nữa, lúc hớt tóc, hỏi mới biết là hoa Huỳnh anh) vài cọng cỏ “mần trầu”. Quê tôi gọi “mần trầu”, không biết dân đây gọi là gì(?). Khác lắm, xa lạ lắm! Nơi này cách bến tàu hỏa cả chục cây số và cách nhà tôi mấy chục giờ xuỳnh xuỵch đường sắt hoặc tương đương sáu bảy bữa cơm tù.

Tôi xuống tàu từ sáng và trả bốn chục ngàn tiền xe ôm để tới đây và loanh quanh tới giờ. Tôi làm gì ở đây hả tôi ơi? Không ai biết em cả, không ai hết! Thảo Điền là thế này đây với ngút ngàn biệt thự lẫn ổ chuột lợp lá dừa nước. À, em ơi, anh biết cây dừa nước thế nào rồi nhé, trước cứ đố nhau mãi. Lúc nãy, qua cầu Sài Gòn rồi vòng xuống dưới anh thấy cái lạch nước đen ngòm với vài bụi vút xanh những tàu lá dừa nước cao năm sáu mét. Mát rượi và êm đềm. Thảo nào, người ngoài mình thích vào đây thế. Quanh năm nắng ấm, chẳng phải lo áo rét mỗi khi gió mùa Đông Bắc.

Tìm mãi cũng thấy trường VH của em. Giờ đang nghỉ hè, chỉ thấy lác đác vài người. Tôi hỏi, mà chẳng ai biết em cả, không ai hết. Hỏi nữa thì người ta bảo chiều nay hình như có lớp Thanh nhạc thi lại. Chắc sẽ có em trong số đó. Tôi sẽ đợi, tôi linh cảm thấy em chỉ ở quanh đâu đây thôi. Em bảo hè sẽ không về vì còn phải học trả nợ và đi làm thêm. Thật vậy hay em không đủ tiền về? Thật vậy hay có chuyện gì khác mà gần hai tháng nay không thấy tin gì của em? Không điện thoại, không e-mail, không gì hết.

Tôi gọi một phần cơm ở một trong dãy hàng ăn đối diện cổng trường và mang ra bàn ngoài vỉa hè vừa ăn vừa dán mắt vào cánh cổng đó. Thức ăn nguội te, nấu nướng không rõ khẩu vị vùng nào, nhưng quán cũng đông, khách ăn nói giọng đủ nơi, chủ yếu là người Trung và người Bắc. Có lẽ em cũng thường ăn trưa ở hàng này, có lẽ em cũng từng dùng đôi đũa này, ghé miệng vào cái tô này húp canh…

Con bé chạy bàn hỏi tôi bằng cái giọng vùng Duyên Hải rằng tôi tìm ai à. Tôi bảo ừ và hỏi xem quán có rượu gì. Nó mang cho tôi một chai nhờ nhờ bảo: chuối hột, dân đây hay uống. Dân đây? Dân đây tứ xứ. Lúc tôi hỏi thăm ở bên khu biệt thự, có chị ô-sin bảo rằng khu này toàn người Bắc mình vào thôi nhưng không biết em và cũng không biết cái địa chỉ ngoắt ngoéo của em…

Hai cái xe máy dừng trước cửa, ba đứa thanh niên, hai trai một gái tóc vàng như rơm. Và tưng bừng, chương trình nghệ thuật bắt đầu. Từ Lý Hải tới Cẩm Ly, vừa Kiếp đỏ đen lại đột ngột Công chúa bong bóng. Ban nhạc hát và minh họa hip-hop nhiệt tình rồi thay nhau mời mua kẹo. Hỏi kẹo gì thì ra kẹo bột, ngàn một cái. Kết thúc chương trình, ban nhạc xà vào quán gọi cơm đĩa. Đứa con gái mặc cái quần ngắn lòi mông ra ngoài nói gì đó không rõ lắm nhưng làm tôi giật mình. Kiểu “r”, “s” như thế chỉ có ở quê tôi. Tôi nhìn kỹ thì không thấy quen. Hai thằng kia thì thấy quen quen, hỏi thì bảo là người ở đây…

Tôi bắt đầu ngấm cái thứ rượu chuối hột nhờn nhợn đó thì thấy ướt chân, cúi xuống nhìn. Nước từ đâu dềnh lên ngập cả vỉa hè và lan gần kín đường. Trời không mưa mà nước đâu ra thế nhỉ? Con bé chạy bàn cười bảo triều cường đấy, tháng này nước lên sớm. Hỏi ở đây lâu chưa mà biết, nó bảo mấy tháng thôi, trước nó làm bên Thủ Đức cơ nhưng muốn sống ở đâu thì mau mau mà thuộc mà quen ở đó. Liệu em đã quen được chưa?

Tôi nhìn vào cánh cửa kính thấy mặt mũi, tóc tai mình phờ phạc quá. Ngó chếch sang kia thấy có tấm biển “Hớt tóc kiểu 25 ngàn, có khuyến mại”, tôi xắn quần bì bõm lội sang. Thằng thợ cắt tóc nhũn nhẽo từ quần áo, dáng đi đến giọng nói. Cái giọng nửa Hải Phòng nửa Cần Thơ nửa lơ mơ Việt kiều bảo để nó xì-tai-lít cho kiểu đầu mới vì nó là nhà tạo mẫu tóc “đoàng hoàng” chỉ chưa nổi tiếng và chưa có tiền mở tiệm ở quận Nhất thôi. Em cũng bảo em là ca sĩ rồi chỉ chưa gặp được bầu giỏi thôi. Chắc hè này em sẽ đi hát tụ điểm. Trong này nhiều tụ điểm lắm mà. Trong này nhiều cơ hội, cơ may lắm mà. Thằng thợ hỏi có nhuộm nhé, tôi giãy lên bảo cắt chân phương bình thường thôi, nó bĩu môi “sax” một cái.

Nó cắt cũng đẹp thật. Trong gương, cái mặt tôi đen đúa lại đang đỏ lựng vì rượu chuối hột cũng sáng sủa hơn hẳn. Cắt xong nó mời vào giường gội. Tôi bảo không gội đâu. Nó nói khuyến mại ấy mà vì mùa này ế. Rẻ thật, thấy có chút dễ chịu ve vuốt tâm hồn. Tôi nằm ngả ra giường gội, nó phủ cái khăn ướt lên mặt tôi. Tôi hỏi xì-tai-lít kiêm thợ gội luôn à, nó bảo tưởng tôi thích nó thì nó sẽ gội cho còn nếu không thì để gọi thợ, rồi nguẩy đi.

Cái khăn ướt làm mặt tôi giãn ra, mắt thì díu lại, chỉ thấy lướt qua chỗ khăn hé một cái eo hở cao. Nước xả. Bàn tay mềm mại nào đó lùa nhẹ vào chân tóc. Mùi dầu gội. . . Tôi thiếp đi, mộng mị linh tinh.

Trong mơ, tôi thấy tôi sống chung với em ở chính khu này trong một cái nhà lợp lá dừa. Tôi lái taxi và tối tối đưa em đi hát tụ điểm. Đêm về nấu mì tôm cho nhau ăn như hồi lên Hà Nội ôn thi. Có lúc gặp việc gì đó em khóc, tôi khóc cứ tu tu như khi trượt đại học. Có lúc lạ hề hề cười an ủi đen đủi như thi trượt rồi thì về quê làm ruộng tiếp hoặc lên thành phố kiếm việc gì đó làm cũng vui chán đi ấy chứ. Có lúc tôi mơ đưa em đi mua sắm. Mua nhiều lắm. Mà ở trong này nhưng cửa hiệu lại giống y như Hàng Ngang, Hàng Đào ở Hà Nội. À ừ. Hồi mới lên, có lần tôi và em đi qua mấy phố ấy. Em cứ hít hà mê đắm những quần những áo, cánh sen, nõn chuối, đăng-ten, kim tuyến lóng la lóng lánh trên hàng hóa ngập trời Thủ Đô. Ngay lập tức cả hai nhớ như in tên mấy con phố đăng-ten kim tuyến đó chẳng biết ghi nhớ để hẹn ngày “rửa hận” hay lưu giữ cảnh quan đẹp hiếm gặp trong đời. . .

Trong mơ, tôi thấy cái xe taxi mình lái bị trâu húc thủng một lỗ to tướng trên kính xe. Xuống cãi nhau với thằng chăn trâu thì thấy trâu nó đã húc thủng cả lốp. Bèn bắt đền. Nó nhồi rạ cho lốp xe căng trở lại và lấy giấy báo bồi vào kính xe. Bồi như bồi giấy diều, bồi như bồi hình nhân tháng Bảy. Bồi xong thì cái xe taxi cứ bay lên như diều. Tôi cứ vừa chạy theo vừa gào thét gọi. . .

Trong mơ, tôi lại làm thơ. Và em cứ cười mãi. Khuôn mặt em rực rỡ và biến ảo. Còn tôi, tôi cứ soi vào đôi mắt em mãi, mặc kệ mọi thứ cuồn cuộn, xô đẩy, va đập, cào xé xung quanh. . .

Một ngày trong mơ, soi mình trong đôi mắt ấy, tôi chỉ thấy một màu nhờ đục và hình ảnh tôi trong đó biến dạng không nhận ra nổi. Thế nào nhỉ? Khuôn mặt tôi giống hệt lão xe ôm chở tôi tới đây tìm em, tóc thì như thằng bán kẹo kéo, vàng như rơm và mũi thì có cái khuyên giống thằng thợ hớt tóc. Tôi kinh hãi giật cái khuyên ra và chạy tới cái tiệm ấy. Vẫn “Hớt tóc kiểu 25 ngàn, có khuyến mại”. Xô cửa vào thì thấy thằng thợ đang mang khuôn mặt của tôi, rầu rĩ và đen đúa, tay cầm chai rượu chuối hột. Tôi gào lên đòi lại khuôn mặt và mái tóc của mình. Nó cắt và nhuộm đen tóc cho tôi xong và đẩy tôi nằm xuống giường gội rồi phủ cái khăn mặt ướt lên như đậy mặt người chết. Tôi thấy mình nằm rất lâu tưởng như đủ năm để cải táng. Rồi mãi cũng có một bàn tay nào đó rờ vào đầu tôi. . .

Cái khăn mặt được bỏ ra thì nước đã xả thẳng xuống mặt tôi. Một cái bụng dưới đàn bà nào đó tì vào bả vai tôi. Và một giọng nói. Trời! Giọng của em. “Anh tìm gì ở đây?”. Qua làn nước tôi thấy loang loáng khuôn mặt em. Đúng em rồi, em đang gội đầu cho tôi. Sao lại thế? Sao em lại ở đây? Rồi bộ ngực em hạ xuống người tôi nặng như núi làm tôi nghẹt thở. Đôi môi son mọng tía nhếch lên. Cái lưỡi lè thượt ra lướt vào cổ tôi. Và em cười. “Bất ngờ không? Cho thỏa nhớ mong nhé!”. Và em lại gội đầu cho tôi. Móng tay bén sắc lướt nhát nào nhát đó như cào ra từng mảng da đầu mà tôi không có cảm giác gì cả. Cứ nằm cứng đờ, mọi vùng vẫy đều vô ích. . .

Tôi nhỏm dậy được. Người sũng mồ hôi như vừa đi đánh dậm về. Tôi lao ra ngoài. Thằng thợ giữ tôi lại. Tôi dúi tiền trả nó. Nó đưa tôi xem cái điện thoại. Trên màn hình là cái clip sex V.A với tiếng rên rú. Con cái thỏa mãn, rũ rượi hất mái tóc lên. Trời! Em! Đôi môi đó là em! Tôi hét lên và chạy ra đường. Xung quanh mênh mông nước. Tôi cứ chạy mãi. “Anh tìm ai à?”. Con bé chạy bàn ở quán ăn gọi tôi. Cái giọng nói ấy, cái giọng nói của em. Một tràng cười rùng rợn. Ôi, con bé bán kẹo kéo, nó nháy mắt với tôi bằng đôi mắt của em và cặp mông lòi một nửa khỏi quần cũng là của em nốt. Sao tôi không thoát ra khỏi cơn ác mộng này? Tôi kiệt sức. Em ơi!

Tôi quỵ xuống, cố vỗ thứ nước đen ngòm ấy lên mặt, mong sẽ tỉnh lại.

Nước sộc vào mũi làm tôi sặc sụa, ho vật vã. Và hình như tôi đã tỉnh dậy được, đi như vô thức ra ngoài.

Cửa mở.

Hé mắt.

Chói lóa.

Trắng xóa.

Chắc đây không còn là mơ nữa.

Nước đã rút. Mặt đường và vỉa hè bắt đầu khô và thấy bám bên trên một lớp bùn xám bạc. Lớp bùn mỏng đó đang tan ra, bay lên thành bụi dưới bánh xe và chân người. Lại gặp con bé chạy quán, nó đang xách túi quần áo, cười toe. Hỏi triều cường rút nhanh thế, nó bảo lên lại rút, đến rồi đi như cơm bữa ấy mà và khoe giờ sang quận Bảy làm, nghe nói chỗ ấy cũng nhiều dân các nơi đến, vui và dễ sống lắm. Trong này dễ quen, dễ sống. . .

Còn em?

Còn tôi?

Giờ, nhất định tôi phải tìm được em. . .

Có tiếng người: “Anh tìm ai à?”. Giọng người trong này mà nghe như quen lắm.

. . .

(NAV. 2008)

Older Entries