Nguồn gốc của thuật ngữ Lạc Việt

4 Comments

The origin of the historic term Luoyue – 駱越

Cách đây gần 20 năm, chúng tôi đã có những tháng năm trai trẻ thật đẹp đẽ, rong ruổi trên vùng Tây Nguyên và Đà Lạt. Khi tìm hiểu các địa danh Dalat, Dak Nong, Dak Min, Dak Nhim, Dak Song… ký âm bằng Pháp ngữ, chúng tôi đã lờ mờ nhận ra sự gần gũi của chúng với Lạc Việt.

Sau này tiếp xúc với “Thử tìm nguồn gốc ngữ nghĩa của từ tố Lạc”, của Nguyễn Kim Thản, Vương Lộc, tạp chí KHXH, 1974; chúng tôi đã tin Lạc 駱 trong Lạc Việt mang nghĩa là Nước như giả thiết của tài liệu. Các tác giả đã căn cứ trên nhóm từ Lạc điền, Lạc dân, Lạc hầu, Lạc tướng, Lạc vương và đi tìm âm tương ứng ở bắc bộ Việt Nam, một xóm rất nhỏ của ngôn ngữ Austronesian. Do nhu liệu quá ít, nên lý luận hơi gượng gạo, chưa kể việc họ không để ý đến sự trừu tượng hóa từ tố Nước.

Trực giác nói với chúng tôi âm Nước cổ đã được người Hán ký âm bằng Hán tự thành Lạc 駱, nhưng cuối cùng, mãi đến hôm nay các chi tiết và công cụ ngữ âm học mới được tập hợp đầy đủ để chứng minh điều này.

quangtay

Một lễ hội giỗ tổ Lạc Việt Vương tại Quảng Tây, châu thổ Tây giang, năm 2016.

Bám vào những dòng sông 

Đi đến không gian Lạc Việt, chúng tôi phải bám vào Trường giang và Hồng hà, bởi Hán sử đã nhắc đến người Lạc Việt phía bắc tận Kinh Châu, ở giữa là Quảng Tây và cuối cùng tại châu thổ sông Hồng.

Chữ Hán 江 giang chỉ sông Trường giang, từ thời Chu đến Minh đọc là [krōŋ]. Đó chính là âm tiền Mon Khmer, mẹ đẻ của từ [Sông] trong tiếng Việt. Khi người phương nam còn làm chủ con sông Trường Giang, họ gọi các nhánh nhỏ đổ vào sông mẹ bằng một âm gì đó mà người Hán ký âm thành Đà沱. Âm Tây Hán trở về trước của Đà沱là [l(h)āj], Đông Hán là [l(h)ǟ] và Đường âm là [d(h)ā]. Đây là định nghĩa của Đà 沱trong sách vở Trung Quốc: ở miền nam sông lớn gọi là Giang, sông nhánh gọi là Đà. Tuy nhiên chúng tôi nhìn rộng hơn, Đà沱có lẽ chỉ sông nhỏ, sông nhánh, suối lớn. Dalat (dòng suối của người Lat) và phụ lưu Đà giang của Hồng hà chứng minh điều đó. Sau rốt, Đà 沱 trong một câu Kinh Thi “月離于畢,俾滂沱矣 – Nguyệt li vu tất, tỉ bàng đà hĩ” lại có nghĩa là mưa lớn, nhiều nước.

So sánh các âm qua các thời kỳ của chữ Hán Đà沱 với âm chỉ Nước tiền Mon Khmer [*ɗaak] ở trên, chúng tôi thấy nó gần như đồng nhất với nhau. Nói cách khác Hán âm đã tuân thủ âm bản địa của Đà 沱 và chúng là một tại Đường âm.

Và từ chỉ quốc gia dùng tiền ngữ nước, trừu tượng hóa nước để thành quốc gia đầu tiên mà chúng tôi đã tìm thấy chính là Đô都. Vì nhu liệu của S. Starostin không có liệt kê lịch sử ngữ âm của Đô. Chúng tôi phải đi đường vòng: Tự điển ghi nhận Đô đọc là Đương Cô Thiết (當孤切), nghĩa là nói lái thành Đô Cương và giữ Đô lại. Từ đây chúng tôi tra lịch sử ngữ âm của Cô 孤 và lấy nguyên âm của nó. Từ thời Chu đến Đông Hán sẽ là nguyên âm A, nghĩa là Đô lúc ấy đọc là Đa. Đời Đường tương ứng nguyên âm Ô, lúc này nó là Đô. Hoán chuyển A thành Ô chúng tôi có vô số ví dụ. Như chữ Phụ 父, Hán âm của nó là [bá] và Đường âm là [bwó], tức Ba – Bố, và Mai – Mối, Ngạt – Ngột, Hạt – Hột, Ang – Ông (từ翁 cũng chỉ cha trong tiếng Hán).

Bộ Ấp trong chữ Đô 都 ghi nhận nghĩa của từ Đô là quốc gia. Chu Lễ viết: Cự quốc ngũ bách lý vi đô – Nước rộng năm trăm dặm gọi là Đô. Đa/Đô 都 không có trong giáp cốt văn, rõ ràng đây là ngôn ngữ Dương Tử đã được người Hoa Hạ ký âm và sử dụng muộn nhất là từ thời Chu.

Lạc Việt

Lạc Việt chỉ bắt đầu xuất hiện vào thời Tây Hán. Chúng ta có 3 chữ Lạc tạo nên Lạc Việt: 雒越 , 駱越 , 貉越. Đây chắc chắn là Hán tự ký âm phương ngữ Lạc Việt. Ba bộ chỉ ý nội dung mang tính miệt thị: 隹 chuy, một giống chim. 馬 mã, là ngựa. 豸trĩ, một loài sâu. Người ta dùng một chữ duy nhất chỉ âm là 各 các. Từ thời Chu đến Minh, âm Các đều đọc là [kāk]. Chúng tôi không khớp nối được với Đà 沱. Tuy nhiên khi dùng một chữ đồng âm với các chữ Lạc trên, bộ thủy, tên một con sông ở Hoa Bắc thì sự tương đồng lại hiện ra: Lạc 洛 Đông Hán trở về trước đọc là [rhāk], trở về sau đọc là [lhāk] hoàn toàn khớp với âm Đà 沱 Đông Hán là [l(h)ǟ].

Như vậy Lạc trong Lạc Việt là lần ký âm thứ hai chữ Đà 沱 chỉ nước, sông nhánh hay vùng nước đã được trừu tượng hóa thành xứ sở của một bộ lạc. Lần thứ nhất là chữ Đa/Đô都, dùng cho nước nhỏ. Với Lạc Việt, chữ Lạc dùng chủ yếu cho các bộ lạc còn chậm phát triển. Những ngữ ý miệt thị rất đáng trách bị lạm dụng, chắc chắn đã được viết ra bởi một viên thư lại Hán triều thiếu tư cách, phẩm giá và tri thức. Chúng không thể biện hộ dù theo Hán Thư, thời Tây Hán có dạo người ta kiêng bộ Thủy, là hành khắc với bản mệnh Hỏa của triều đình, dựa vào lối giải thích mê tín của thuyết ngũ hành.

Khi Việt không còn là tên riêng của nước Việt ở cửa sông Dương Tử, từ bộ Ấp chỉ quốc gia, nó chuyển qua bộ Tẩu và biến thành từ phiếm chỉ các nhóm bộ lạc hoặc tiểu quốc giang nam. Người Hán đã căn cứ trên tiền ngữ chỉ ý niệm quốc gia của họ để đặt tên cho phân nhánh Thái có gốc tích từ Điền Trì ở Vân Nam xuôi xuống Trường giang, Tây giang và Hồng hà, chủ nhân văn hóa trống đồng. Lạc Việt ra đời từ đó.

@12.2017 T.T.Du

Văn Lang và vua Hùng Phùng Hưng

7 Comments

Khởi đi từ Đại Việt Sử Lược (1388), Văn Lang được ghi nhận là một quốc gia có trước Công Nguyên. Không rõ sự thực thế nào nhưng Văn Lang trong hình dung của rất nhiều người Việt Nam hiện đại rất to và văn minh, có 4000 năm lịch sử như hình dưới.

dat van lang

Trong quá trình khảo sử, chúng tôi bắt gặp ghi chép thời Bắc Tống về một nước Văn Lang trùng tên, khá bé, cư dân hồn nhiên thuần phác như con người thượng cổ, sống theo tinh thần Lão Tử:

Sách 太平御覽 Thái Bình Ngự Lãm, Bắc Tống (977-984). Chương Châu Quận Bộ Thập Bát 州郡部十八. Đoạn Lĩnh Nam Đạo 嶺南道.

Nguyên văn: 《方輿志》曰:峰州,承化郡。古文郎國,有文郎水。亦陸梁地。秦 屬象郡。二漢屬交趾郡 。吳分置新興郡。晉改 為新昌。陳置興州。隋 平陳,改為峰州;煬帝 初,廢。唐復置峰州。

林邑記 , 曰:蒼梧以南有文郎野人,居無室宅 ,依樹止宿,食生肉,采香為業,與人交易,若上皇之人。

Tạm dịch: Phương Dư Chí viết: Phong Châu tức quận Thừa Hóa. Xưa là nước Văn Lang, có sông Văn Lang. Cũng là xứ sở phóng túng hoành hành. Thời Tần thuộc Tượng Quận. Tây và Đông Hán thuộc quận Giao Chỉ. Nhà Ngô chia ra xếp vào quận Tân Hưng. Tấn đổi thành Tân Xương. Nhà Trần (557 – 589) gọi là Hưng Châu. Tùy thay Trần, cải ra Phong Châu; từ những năm đầu Tùy Dạng Đế (604 – 618) thì bãi bỏ. Đường triều khôi phục đặt là Phong Châu.

Lâm Ấp Ký viết: Phía nam Thương Ngô có người Văn Lang hoang dã, sống không cần nhà cửa, dựa vào cây cổ thụ làm chỗ nghỉ ngơi, ăn thịt sống, lấy việc tìm hái hương liệu mưu sinh, trao đổi với người dưới xuôi, giống như thời tối cổ.

 ***

Nếu so sánh niên đại đi vào sách vở thì Văn Lang thời Đường lâu đời hơn Văn Lang trong Việt sử gần 500 năm. Khớp vào bản đồ thời Đường, Văn Lang trùng với Phong Châu – Phú Thọ ngày nay. Đó là khu vực nằm ngoài khối màu xanh mô tả những lãnh thổ đã bị Đường triều đô hộ.

Tang_Dynasty_circa_700_CE

Có lẽ Văn Lang thực tế là một tiểu quốc và độc lập với bắc triều nhiều trăm năm, cư dân chủ yếu là Thái – Mường, tức Lạc Việt, đồng chủng với Nam Chiếu. Hình dung Văn Lang có biên giới đến Dương Tử gần với lãnh thổ Nam Chiếu hơn. Nói cách khác, Văn Lang của Việt sử khá tương đồng với biên giới ngữ hệ Thái – Tráng, văn hóa trống đồng xa xưa.

Chi tiết Tùy Dạng Đế (604 – 618) bãi bỏ Phong Châu nhìn ở góc độ khác sẽ là sự cởi ách nô thuộc của vùng đất này. Từ đây mở ra một hướng nhìn rất bất ngờ: Văn Lang có thể chính là một tiểu quốc độc lập trong vương quốc Nam Chiếu, thủ đô ở Phú Thọ ngày nay. Văn Lang sau này đã bị Đại Việt sáp nhập vào bản đồ, lịch sử bị xóa sạch do vô tình hoặc cố ý. Phùng Hưng có lẽ là một trong những vị vua của Văn Lang.

Xin nhắc lại: Theo sách Thông Điển, kẻ có trống đồng tự xưng là Đô Lão 都老, dân chúng sẽ tôn phục. Việt sử chép Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng hiệu là Đô Quân 都君. Chữ Quân này mang âm Khun/Hùng. Như vậy Phùng Hưng chính là vua Hùng vậy. Điều thú vị là người Thái Mường hay Âu Việt đều gọi thủ lĩnh của mình bằng âm Hùng. Dùng chữ Hùng 雄 thay Quân, sử gia đã dựng lên một biểu tượng có tính hai mặt để hòa hợp dân tộc.

Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng hiệu là Đô Quân 都君. Chữ Quân mang âm Khun/Hùng chúng tôi đã chỉ rõ. Bây giờ đến chữ Đô 都:

Vì nhu liệu của S. Starostin không có liệt kê lịch sử ngữ âm của Đô. Chúng tôi phải đi đường vòng: Tự điển ghi nhận Đô đọc là Đương Cô Thiết (當孤切), nghĩa là nói lái thành Đô Cương và giữ Đô lại. Từ đây chúng tôi tra lịch sử ngữ âm của Cô 孤 và lấy nguyên âm của nó. Quá bất ngờ! Từ Tây Hán đến Đông Hán sẽ là nguyên âm A, nghĩa là Đô lúc ấy đọc là Đa. Tiếng Hán trung đại tương ứng nguyên âm Ô, lúc này nó là Đô.

Đa chính là Dak, tương đồng hoàn toàn với sông nhánh [d(h)ā], người Hán đã ký âm là Đà 沱. Như vậy Đô 都 là cách ký âm khác và tương đương với Lạc. Bộ Ấp trong chữ Đô ghi nhận nghĩa của từ Đô là quốc gia. Chu Lễ viết: Cự quốc ngũ bách lý vi đô – Nước rộng năm trăm dặm gọi là Đô. Rõ ràng đây là ngôn ngữ Thái – Tráng đã được người Hoa Hạ ký âm và sử dụng muộn nhất là từ thời Chu.

Đô Quân như vậy nghĩa là Quốc Quân, âm thời Hán người Việt cổ đọc là Đa Khun, sau thời Đường biến thành Đô Hùng. Từ đó Đô Lão trong các tài liệu thời Hán nói về người Việt Nam cổ sẽ có nghĩa là Quốc Lão.

Không nghi ngờ gì nữa Phùng Hưng chính là một trong những vị vua Hùng của nhánh Lạc Việt trên đất nước này!

@12.2017 T.T.Du

Nguồn gốc tên gọi Hùng Vương

2 Comments

Chúng ta đã rõ Lạc Vương nghĩa là Quốc Vương. Chữ Lạc có tiền ngữ là nước, vùng nước, từ đó được trừu tượng hóa thành lãnh thổ tại ngôn ngữ Austronesian, trong đó Thái – Tráng là một nhánh.

Ngạc nhiên lớn với chúng tôi là Hùng Vương tương đồng hoàn toàn với Quân Vương. Viết về các bộ lạc bản địa sử dụng trống đồng ở vùng Quảng Tây và Bắc Việt Nam, sách Thông Điển năm 801 ghi: 以富為雄 – Dĩ phú vi hùng. Có thể dịch thành “giàu có thì làm thủ lĩnh”. Chữ Hùng 雄 này chính là Hùng trong danh xưng Vua Hùng, Hùng Vương tại tất cả các quyển sử Việt Nam từ xưa đến nay.

Hùng 雄, Hán ngữ cổ đại mang âm [whǝŋ], trung đại khoảng thời Đường đọc là [ɦüŋ]. Âm [ɦüŋ] rõ ràng là sự nặng hóa của phương nam khi đọc âm [kün] của chữ Quân君. Các căn cứ ngữ âm liệt kê như sau: Genghis Khan tức Thành Cát Tư Hãn. Khan âm Mông Cổ là thủ lĩnh, âm KH đi về phương nam trở thành H trong Hãn. Chữ Hảo 好 nghĩa là tốt đẹp, người Hoa Nam đọc rõ chữ H trong khi ở Bắc Kinh chúng tôi nghe được âm KH rất nhẹ. Người Việt cũng có quan hệ bắc – nam như thế trong từ Không ở Hà Nội hay bị biến thành Hông tại Sài Gòn.

Quân 君 âm Hán cổ là [kun], trong văn hiến suốt thời Chu chỉ vua của nước nhỏ, xếp dưới Vương và Đế. Quân 君 xuất hiện nhiều ở giáp cốt văn và bốc tự (lời bói toán) do đó nó thuần Hán. Như vậy nhiều khả năng âm Quân 君 đã được người phương nam vay mượn từ Hoa Hạ phía bắc để chỉ thủ lĩnh bộ lạc từ thời Thương – Ân. Tiếng Thái hiện đại ngày nay vẫn dùng Khun tôn gọi ngôi thứ hai một cách trang trọng.

Đến thời Đường, khi âm chỉ thủ lĩnh của các bộ lạc phương nam là [kün] hao hao giống Hùng 雄 [ɦüŋ], thì từ Hùng 雄 mới được dùng để ký âm ấy. Nói cách khác Hùng Vương trong Hán ngữ chỉ xuất hiện cách đây hơn 1200 năm mà thôi. Cũng nên lưu ý chi tiết về nước Sở, theo Sử Ký vua Sở là người thuộc bộ tộc Hùng 熊, họ Mị 羋 (bộ Dương 羊). Âm cổ đại  của Hùng 熊 là [whǝm], trung đại là [ɦüŋ]. Dục Hùng không thể hiểu là ông vua tên Dục vì âm thời Chu của Hùng 熊 hoàn toàn khác Quân 君.

HungVuong

Ảnh: Hình dung về Hùng Vương của người Việt Nam hiện đại. Cũng nên nhắc đến chi tiết trong Sử Ký: “Bắt đầu từ thời Sở Uy Vương (339 BC – 329 BC), đã sai tướng quân Trang Kiểu theo thượng lưu Trường giang chiếm các vùng phía tây đất Ba và Kiềm Trung. Trang Kiểu là hậu duệ của Sở Trang Vương ( 613 BC – 591 BC). Kiểu đến hồ Điền (Côn Minh – Vân Nam), rộng ba trăm dặm, xung quanh đất đai bằng phẳng phì nhiêu trải dài cả ngàn dặm, dùng binh lính trấn áp rồi gộp vào nước Sở. Kiểu muốn quay về Sở báo tin, nhằm lúc Tần đang đánh Sở để chiếm Ba quận và Kiềm Trung quận (316 BC), đường bị chặn, bèn quay lại xưng vương xứ Điền, đổi cách ăn mặc, sinh hoạt bằng tập quán bản địa như tù trưởng”.

***

Nếu các từ Âu và Lạc chắc chắn là Hán tự ký âm bản địa, bố mẹ gốc Thái, U/Bu gốc Austronesia vẫn còn thấy trải dọc ven biển từ Indonesia lên đến Phúc Kiến đến tận ngày nay, thì ngôn ngữ chính trị bao gồm: Việt (bộ Ấp chỉ quốc gia bên cạnh chữ Việt 戉 ghi âm bản địa) và Hùng (đồng âm đồng nghĩa với Quân ở thời Đường) lại đặc sệt Hoa Hạ. Nó là chỉ dấu cho hình dung nam tiến của các cơ cấu chính trị hậu bộ lạc khu vực từ Dương Tử đến tận Việt Nam:

  1. Việt hầu Vô Dư: Hậu duệ Hạ Vũ vì biến động chính trị phiêu dạt về vùng Giang Nam lập quốc xưng vương.
  2. Dục Hùng: Quan lớn của Chu Thành Vương được phong đất Kinh Sở, nhiều đời sau bành trướng thành một đại quốc bên bờ Dương Tử.
  3. Trang Kiểu: Tướng quân nước Sở, cùng họ với vua Sở, theo lệnh Sở Uy Vương (339 BC – 329 BC) tấn công Vân Nam rồi ở lại làm vua nước Điền.
  4. Úy Đà: Năm 208 BC huyện Úy nhà Tần là Triệu Đà ly khai, thống nhất hai nhánh Âu Việt và Lạc Việt thành lập vương quốc Nam Việt.

Tóm lại, nếu truy ngược lịch sử đến thời Thương – Ân, vua Hùng sẽ là quân trưởng các liên minh bộ lạc phía nam Dương Tử nói chung, nhiều khả năng là quý tộc hay mang dòng máu quý tộc Hoa Hạ, làm vua và ăn mặc theo kiểu bản địa. Văn minh Dương Tử ở đỉnh cao Lương Chử (2200 BC) suy tàn do thiên tai, xã hội cơ bản thụt lùi trở lại hình thái bộ lạc. Sau đó 1000 năm, nền chính trị Hoa Hạ vươn đến. Đó là lý do thuật ngữ Hoa Hạ chỉ lãnh tụ đã thay thế thuật ngữ Dương Tử tương đương trước đó, nếu có.

***

Dù sao đi nữa chúng ta cũng thấy trùng ngữ Quân và Vương trong danh xưng Hùng Vương, lần đầu tiên được nhắc đến là ở Đại Việt Sử Lược (1388). Về bản chất Lạc là ký âm từ chỉ quốc gia trong ngôn ngữ Thái – Tráng đời Hán, Hùng là ký âm quân chủ bộ lạc Hoa Nam thời Đường. Ở phương vị nhất định, trong xã hội Lạc Việt, Lạc Vương và Hùng Vương là một! Việt ngữ hiện đại vẫn dùng cụm từ “xưng Hùng xưng Bá một phương” chính là thể hiện thực nghĩa của chữ Hùng vậy.

Hùng Vương được ghép bởi hai danh xưng khác nhau, ở hai bậc, hai mức độ: Quân trưởng và Vương thượng. Nó đồng nghĩa với lãnh tụ ở ngôn ngữ hiện đại. Câu “Tất cả chúng ta đều là con cháu vua Hùng” tương đương với mệnh đề ông Nông Đức Mạnh từng nói: “Chúng ta đều là con cháu Bác Hồ”. Tôn Trung Sơn là quốc phụ nước Trung Hoa hiện đại, người Mỹ cũng có lớp Cha ông lập quốc (founding fathers), các khái niệm này giống hệt Hùng Vương của người Việt Nam.

Ý nghĩa của mọi thuật ngữ lịch sử đều nằm trước mắt bạn. Tôi chỉ có mỗi nhiệm vụ chỉ ra mà thôi.

(*) Các ngữ âm liệt kê trong đây lấy từ  S. Starostin

@12.2017 T.T.Du

Nguồn Gốc Chủ Nghĩa Đại Việt

Leave a comment

Vài nét lịch sử danh xưng Đại Việt

Năm 473 BC Việt vương Câu Tiễn tiêu diệt nước Ngô. Ngay sau đó quân Việt bắc tiến vượt sông Hoài cùng hai đại quốc Hoa Hạ là Tề và Tấn họp hội nghị Từ Châu (Từ Châu hội minh, ở vị trí thành phố Từ Châu, tỉnh Giang Tô ngày nay). Ba nước ăn thề rồi cùng suy tôn thiên tử nhà Chu. Vua Chu Nguyên Vương biết ý Việt vương muốn xưng bá, bèn sai người đến ban phúc cho Câu Tiễn. Quân Việt quay về nam lấn đất nước Sở ở vùng sông Hoài, chinh phạt nước Tống cắt đất chia về nước Lỗ, hoành hành một dải Giang – Hoài trong nhiều năm. Các nước nhỏ phải lục tục đến triều cống. Câu Tiễn trở thành Bá Vương.

Không rõ Bá Vương Câu Tiễn có sử dụng danh xưng Đại Việt hay không nhưng sách Ngô Việt Xuân Thu và Việt Tuyệt Thư đều đã trang trọng dùng Đại Việt để chỉ nước Âu Việt. Tuy vậy chủ nghĩa Đại Việt không trực tiếp truyền đến người Việt Nam – con cháu của Câu Tiễn, mà lại thông qua Lưu Nham.

Năm 306 BC, phần lớn Âu Việt bị Sở sáp nhập và lập quận Giang Đông, Việt vương Vô Cường bị giết. Hậu duệ vua Việt chạy về phương nam thành lập nước Mân Việt và Đông Âu ở khu vực Phúc Kiến ngày nay. Năm 222 BC Vương Tiễn sau khi diệt Sở tiến về nam, người Việt đầu hàng. Nhà Tần phế vua Mân Việt và Đông Âu xuống làm Quân trưởng (thủ lĩnh bộ lạc) và lấy đất này làm quận Mân Trung.

Vì có công giúp Cao Tổ nhà Hán đánh Hạng Vũ, năm 202 BC thủ lĩnh Mân Việt được phục hồi vương tước. Chính sử Trung Quốc cũng ghi nhận năm 193 BC Hán Huệ đế lại tấn phong Vô Diêu làm Đông Âu Vương. Không khó để nhận ra rằng đây chỉ là chiêu thức chia để trị, ngăn ngừa sự đoàn kết của người Việt để trở thành một thế lực cạnh tranh với các tiểu vương nhà Hán. Đến năm 110 BC Hán sử lại chép rằng toàn bộ người Việt đã bị dời sâu vào nội địa ở khu vực Giang Hoài. Điều này có lẽ chỉ đúng với quý tộc và vương tôn nước Việt. Mọi mầm mống phục hưng Đại Việt đã được nhà Hán đề phòng từ xa, qua nhiều giai đoạn.

Cũng ở giai đoạn Tần mạt, khoảng năm 208 BC Triệu Đà thành lập nước Nam Việt. Chữ Việt trong quốc danh này chắc chắn là chữ Việt bộ ấp trên thanh gươm Câu Tiễn vì tên bản địa của Nam Việt được chỉ ra rất rõ ràng trong Hán sử là Âu Lạc. Lý do xuất hiện chữ Lạc là bởi sau đó Triệu Đà đã bành trướng và sáp nhập vào Nam Việt vùng đất Lạc Việt phía tây kinh đô Phiên Ngu. Tên nước của Triệu Đà rất thuần phác, nó chỉ mang nghĩa nước Âu Việt phía nam mà thôi.

Đến năm 917, Lưu Nham ly khai khỏi nhà Hậu Lương thành lập nước Đại Việt, đóng đô tại Phiên Ngu. Lãnh thổ Đại Việt bao gồm các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây tức Nam Việt của Triệu Đà cộng thêm hai trong ba quận phía nam mà Hán Vũ Đế đã thiết đặt nhưng chưa thực chiếm ngay lúc ấy là Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Nhật Nam ở thế kỷ 10 đã là một phần lãnh thổ của một quốc gia độc lập với cả Đại Việt và Trung Nguyên là Chiêm Thành. Lưu Nham là cháu nội Lưu An, gốc tích từ vùng Hà Nam phía bắc, đến Phúc Kiến buôn bán làm ăn, sau lại dời xuống Lĩnh Nam và đẻ ra Lưu Khiêm. Lưu Khiêm là Nam Hải Tiết độ sứ của Đường Triều, năm 882 lại thêm chức Phong Châu Thứ Sử. Lưu Nham chỉ dùng quốc hiệu Đại Việt một năm rồi cải thành Nam Hán vì cho rằng mình là hậu duệ hoàng thất nhà Hán. Năm 939 Ngô Quyền ly khai khỏi Nam Hán và thành lập nhà nước Đại Việt. Quốc danh này được người Việt Nam sử dụng cho đến đầu thế kỷ 19, nếu không kể ngắt quãng vài năm Đại Ngu của Hồ Quý Ly.

Chủ nghĩa Đại Việt tiền khởi

Daiviet_NamHan

Ảnh: Bản đồ Đại Việt của Ngô Quyền khi đã tách khỏi Nam Hán.

Đại Việt của các triều đại phong kiến Việt Nam không hề mang bản chất một chủ nghĩa tuyên xưng lãnh thổ bao gồm cả Quảng Đông và Quảng Tây cho đến nhà Tây Sơn. Bản dịch “Hoàng Lê nhất thống chí” viết: Vua Quang Trung sau khi quyết định đánh Trung Quốc, bèn sai bầy tôi là Chiêu Viễn Vũ Văn Dũng sang nhà Thanh dâng biểu cầu hôn và đòi lại đất hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây. Bản dịch Đại Nam chính biên liệt truyện cũng ghi: Năm Nhâm Tý (1792), vua Quang Trung sai làm biểu văn sang nhà Thanh cầu hôn để dò ý vua Thanh và cũng để mượn cớ gây mối binh đao, nhưng vua bị bệnh không đi được. Cả hai ý trên xuất phát từ một sắc mệnh năm 1791: “Sắc sai Hải Dương, Chiêu Viễn Đại đô đốc Đại tướng quân Dực vận công thần Vũ Quốc Công được tiên phong làm Chánh sứ đi sứ nhà Thanh, kiêm lãnh toàn quyền trong việc tâu thưa để xin lại đất hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây để dò ý và cầu hôn công chúa để khiêu khích tự ái vua Thanh”.

Chúng tôi tin các chi tiết trên đây là có thực bởi Chủ nghĩa Đại Việt của nhà Tây Sơn đã được Gia Long khéo léo kế thừa và vận dụng, nhưng ẩn dưới cái tên Nam Việt của Triệu Đà. Năm 1802 Nguyễn Ánh sai sứ sang Bắc Kinh yêu cầu nhà Thanh công nhận quốc danh này nhưng thất bại. Tạm chấp nhận sự hoán đổi Nam Việt thành Việt Nam vào năm 1804 nhưng đến năm 1813 thì triều đình nhà Nguyễn quay về với danh xưng Đại Việt. Đến năm 1839 vua Minh Mạng một lần nữa đổi tên nước thành Đại Nam. Người Việt đã sử dụng Đại Nam đến năm 1945, trước khi dùng Việt Nam như chúng ta thấy ngày nay.

Ở khía cạnh chính trị chính thống suốt thế kỷ 20, chủ nghĩa Đại Việt hầu như biệt tích, ít nhất là trên văn bản công khai.

Tham chiếu Chủ nghĩa Đại Thái

Nền chính trị hiện đại phương Tây có thể xem như được bắt đầu từ năm 1648 với Hòa ước Westfalia. Từ đây quyền lợi quốc gia trở thành tính chính danh và mục đích tối thượng cho tất cả các thể chế. Trên cơ sở này, nhà nước dân tộc ra đời. Khi truy vấn nguồn gốc dân tộc, chủ nghĩa dân tộc được sinh thành. Một trong những thứ vô nghĩa nhưng lại gây tác hại rất lớn đến văn minh và tiến bộ là chủ nghĩa dân tộc cực đoan cùng toan tính vẽ lại bản đồ quốc gia men theo các đường biên nhân chủng hoặc ngôn ngữ.

Sử gia Lê Minh Khải – Liam Kelley viết: “Trước thế kỉ XX, người dân ở Siam đều không nghĩ gì nhiều về “nguồn gốc”. Nó chỉ xuất hiện khi người phương Tây lần lượt đến đây và bắt đầu kiếm tìm “các sắc tộc” và “nguồn gốc”, những khái niệm phổ biến ở “phương Tây” lúc bấy giờ và là những nhân tố quan trọng của chủ nghĩa dân tộc, để rồi một số người ở Siam cũng bắt đầu nghĩ theo cách ấy”.

“Những công trình như cuốn The Tai Race: Elder Brother of the Chinese (Tộc người Thái: Người anh của người Hoa) (xuất bản năm 1923) đã cho rằng người Thái có nguồn gốc từ Trung Quốc. Cuối thập kỉ 1930s và trong suốt Thế chiến II, Phibunsongkhram đã dùng ý tưởng này để cổ xúy cho một dạng thức cực đoan của chủ nghĩa dân tộc Thái, và điều đó khiến một số người ở Trung Quốc tức giận…”

Tác giả quyển “The Tai Race: Elder Brother of the Chinese” là William Clifton Dodd (1857 ~ 1919). Sinh ra ở Marion, bang Iowa nước Mỹ, Dodd là một nhà truyền giáo hoạt động tại Lào và Chiềng Mai, vùng đông bắc Thái Lan. Khẳng định người Thái là “anh cả” của người Hoa, Dodd đã khơi dậy tinh thần bộ tộc cổ hủ để làm gì, nếu không phải muốn biến chúng thành những viên gạch móng cho một sự nghiệp tín ngưỡng gắn liền với chính trị. Không loại trừ ông ta đã mơ đến một “Nước Thái” phụng thờ Kitô trùm phủ cả Thái – Lào – Tây bộ Việt Nam và Hoa Nam.

Ranh giới của Chủ nghĩa Đại Thái hầu như khớp với bản đồ ngữ hệ Thái – Tráng dưới đây.

Taikadai-en.svg

Chủ nghĩa Đại Bách Việt

Chủ nghĩa Đại Việt gián tiếp sinh ra đứa con mắc bệnh tâm thần phân liệt thể hoang tưởng là Chủ nghĩa Đại Bách Việt. Nguồn cơn cũng từ một ông linh mục Tây học. Phiên bản William Clifton Dodd ở Việt Nam tên là Lương Kim Định (1915 – 1997). Cũng là một tu sĩ Kitô giáo như Dodd, ngài Kim Định gom hết thành tựu của văn minh Hoa Hạ về Việt Nam để rồi đi xa hơn Dodd rất nhiều: Việt là bố của Tàu. Chủ nghĩa Đại Việt dưới phép màu Thánh Gióng trở thành Đại Bách Việt, tuyên xưng toàn bộ con người, văn hóa, văn minh và lãnh thổ Hoa Hạ có được là do… ăn cắp của người Việt!

DaiBachViet

Ảnh: Nước Xích Quỷ (Quỷ Đỏ) của Chủ nghĩa Đại Bách Việt.

Đại Bách Việt có mẹ đẻ là phản khái niệm Bách Việt. Thật vậy, thuật ngữ Bách Việt xuất hiện lần đầu tiên ở Lã Thị Xuân Thu (239 BC): 漢之南,百越之際 – Từ sông Hán trở về phía nam là biên giới với Bách Việt. Thuật ngữ ấy mô tả cả vùng bờ bắc Dương tử, được ghi nhận là khu vực đất đai màu mỡ, núi sông diễm lệ, có một số ít liên minh bộ lạc đã có quân trưởng, không có quốc gia nào cả. Khi đi vào lịch sử Việt Nam, Bách Việt lạc hậu đổi chiều trở thành phản khái niệm, là một nền văn minh rực rỡ hơn Hoa Hạ rất nhiều.

Kết luận

Chủ nghĩa Đại Việt tuyên xưng về lãnh thổ, một tiền bản hẹp hơn Đại Đông Á của Fascist Nhật rất nhiều nhưng về bản chất là tương đồng. Chủ nghĩa Đại Hán chú trọng vào văn hóa, tính ưu việt và lâu đời của văn minh Hoa Hạ nhưng không thể giấu đi tham vọng “Thiên tử” đè đầu cưỡi cổ các dân tộc khác. Chủ nghĩa Đại Mông chuộng vũ lực, vó ngựa tung hoành khắp nửa địa cầu đã gieo rắc biết bao đau thương trên lục địa Á – Âu. Và cuối cùng là Chủ nghĩa Đại Thái vạch ranh giới trên cơ sở bản đồ ngữ hệ Thái – Tráng nhưng đã chết yểu cùng với Fascist Nhật.

Là sản phẩm thủ dâm tinh thần hoặc con bài của thực dân đế quốc nhằm phân hóa Á Đông, do đó về cơ bản tất cả các loại Đại Chủ Nghĩa này đều đáng lên án. Ở thời đại mô hình quốc gia dân tộc đã phủ khắp nhân loại, việc tuyên xưng là cha là anh của người Việt và người Thái đối với người Trung Quốc là bước thụt lùi đáng hổ thẹn: Kéo tuột tư duy xã hội về chế độ thị tộc mông muội cách đây mấy ngàn năm.

Tháng 4.2017, khi gặp nhau lần đầu tiên tại Mar-a-Lago, ông Tập Cận Bình đã nói với tổng thống Donald Trump rằng bán đảo Triều Tiên từng là quận huyện của Trung Quốc thời Hán Vũ Đế. Bất kể ngữ cảnh, đây rõ ràng là biểu hiện cần cảnh giác và phê phán của Chủ nghĩa Đại Hán. Chủ nghĩa Đại Việt hay Đại Bách Việt không thể và cũng không nên được chọn làm đối sách với Chủ nghĩa Đại Hán.

Chúng chỉ có một giá trị tham khảo duy nhất: Khi chồng chủ nghĩa Đại Thái và Đại Việt vào cùng một bản đồ, phần tương giao của chúng là Quảng Tây và phía tây Việt Nam từ Điện Biên đến tận Nghệ An – Hà Tĩnh. Một lần nữa gốc tích Lạc Việt (chủng Thái) và Âu Việt của dân tộc Việt Nam hiện lên rõ như ban ngày.

(Nguồn tham khảo sử liệu chính: Sử Ký – Tư Mã Thiên)

@12.2017 T.T.Du

Mật mã gương: Lạc Long Quân và Âu Cơ

Leave a comment

Sau khi đi xuôi theo: 1. Khảo cổ: Trống đồng tùy táng và dấu tích văn minh Dương Tử. 2. Ngôn ngữ: Chữ Việt có tiền ngữ là Nước, chữ Lạc cũng có tiền ngữ nước. Đặc biệt là cặp từ gọi song thân bố mẹ, ba má, cha mẹ và thầy u. 3. Thư tịch: Khảo sát toàn bộ sử Trung Quốc có liên quan, bản gốc. 4. Di truyền: Công trình mới nhất Nature đã giới thiệu tháng 10.2017.

Chúng tôi đã tái hiện hoàn toàn quá trình vận động lịch sử trên mảnh đất bắc bộ Việt Nam từ năm 330 BC: Người Việt Nam hiện đại cơ bản là kết quả hòa huyết giữa hai phân chủng Thái (Lạc Việt) và Âu Việt trong đại chủng Austronesia. Ngoài ra họ còn có gene Hán, trực tiếp từ quan lại, lính viễn chinh, tội nhân chính trị đi đày, hoặc đã lai với người Âu Việt từ bờ nam Dương Tử.

Dùng kết quả này soi chiếu ngược lại truyền thuyết Âu Cơ – Lạc Long Quân trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên thì chúng ta sẽ nhận ra ngay bản chất “mật mã gương” của nó: Mượn motive của  Liễu Nghị truyện do Lý Triều Uy sáng tác vào đời Đường từng được Lĩnh Nam Chích Quái sử dụng, sử gia Ngô Sĩ Liên xây dựng một câu chuyện lịch sử và cần đọc ngược lại mới thấy được sự thật. Không có cuộc chia ly nào cả, mà là sự hợp nhất Âu Việt và Lạc Việt. Âu Việt ở cửa sông Dương Tử được hình tượng hóa thành Mẹ Âu Cơ trên đầu nguồn (Vân Nam). Lạc Việt vốn xuất tích từ Vân Nam lại trở thành Cha Lạc ở cửa sông.

Mirror Images

Như vậy chúng tôi có thể kết luận sử gia Ngô Sĩ Liên ít nhất đã có trực giác đúng đắn về cuội nguồn dân tộc. Trí tuệ của ông chắc chắn cao hơn mặt bằng của kẻ sĩ đương thời và cũng chính trí tuệ ấy đã viết ra một cốt truyện mà hoàng gia cũng như dân gian dễ dàng ghi nhớ rồi chấp thuận rộng rãi. Hẳn ông đã tin tưởng hậu nhân sẽ hiểu được mật mã của mình chỉ bằng một tấm gương giản dị.

Tổng hợp lịch sử hai nhánh Lạc Việt và Âu Việt làm một, sử gia gửi gắm rất nhiều điều trong tự nghĩa của những tên gọi mà ông viết xuống:

  1. Kinh Dương Vương: Vua châu Kinh và châu Dương (theo Vũ Cống). Châu Kinh là nước Sở, còn Dương chính là vùng đất Ngô – Việt, đất tổ Âu Việt.
  2. Lạc Long Quân: Lạc ở đây có tiền ngữ là nước, chỉ quốc gia. Lần lượt bị Sở rồi Tần thôn tính và sáp nhập, người Âu Việt lại phải thiên di về phía nam, từ hồ Động Đình trở xuống và bị hạ cấp xuống hàng quân trưởng. Vậy Long Quân nghĩa là quân trưởng hùng mạnh.
  3. Âu Cơ: Âu đồng âm với Việt, có tiền ngữ là Nước, chỉ quốc gia. Âu Cơ nghĩa là quốc mẫu. Chính tại khu vực phía nam hồ Động Đình, người Lạc Việt từ Vân Nam xuôi Tây Giang xuống đã gặp người Âu Việt. Cuộc hợp chủng đã sinh ra thuật ngữ Âu Lạc.
  4. Hùng vương: Chính là Quân Vương. Nhánh Lạc Việt xuất phát Vân Nam hay Âu Việt từ cửa sông Dương Tử đều gọi vua bằng âm Hùng. Nước Văn Lang của Hùng Vương đã lấy cảm hứng từ Dạ Lang trong Hán sử.
  5. An Dương Vương: Nghĩa của Dương là Nam. Do đó An Dương Vương chính là tiền thân An Nam Vương, nó ám chỉ các vị vương trước kỷ nhà Triệu.

Bạn đọc hãy so sánh giải mã của chúng tôi và kết luận của TS Trần Trọng Dương trên cùng chủ đề: “Đến đây, chúng tôi xin mượn lời của giáo sư Liam Christopher Kelley (Đại học Hawaii) để kết thúc bài viết này: Trải qua nhiều thế kỷ, những truyền thống mà họ [các sử gia] sáng tạo đã trở thành cái tự nhiên thứ hai (second nature). Thực tế, trong nửa thế kỷ qua, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc, những truyền thống được sáng tạo ấy (invented traditions) đã và đang trở thành những sự thực không thể thay đổi”.

Chọn sử dụng cái nào, tự bạn hãy quyết định.

Bố Mẹ, Ba Má và Cha Mẹ

10 Comments

Các công trình nghiên cứu ngôn ngữ học thế giới gần đây cho rằng hai từ dùng để gọi cha và mẹ của nhân loại có tuổi đời khoảng 15 ngàn năm và hầu như thống nhất khắp hoàn cầu. Chúng tôi lại nghĩ xa hơn, đây là cặp từ chứng minh loài người có cùng tổ tiên châu Phi và ít nhất từ Mama phải có tuổi đời trên 70 ngàn năm, khi các dòng di cư băng qua trạm trung chuyển Tây Á để tỏa ra khắp nơi. Nói cách khác, tháp Babel trong Thánh Kinh và văn minh Lưỡng Hà có thật, tối thiểu là với hai từ Mama và Papa.

51246954

Khảo sát tổ hợp hai từ này ở Việt Nam, trong tương quan các ngôn ngữ liên hệ Mon Khmer, Austronesian, Thái – Tráng và Hán, là hướng tiếp cận thú vị tái khẳng định nguồn gốc dân tộc Việt Nam.

***

Việt ngữ có rất nhiều từ chỉ phụ mẫu: Mẹ, Má, Mợ, Mạ, Mệ, Mụ, U, Bu, Bầm, Đẻ, Cái. Và Bô, Bố, Bọ, Ba, Cha, Tía (爹), Thầy.

1. Gốc Austronesian: MẸ, U, BU, BỐ

Từ quan trọng nhất là Mẹ và dễ dàng nhận thấy chúng xuất phát từ tiếng Proto Mon Khmer [*meeʔ] và phát âm rất giống tiếng Thái แม่ – [Phiên âm quốc tế của giới ngôn ngữ học là Mæ̀ hoặc Mae]. Đi cặp với Mẹ là Bố, cùng trong ngữ hệ này [*[ʔ]boʔ].

Trước khi nhánh Thái giành được quyền lực từ nhánh Âu Việt rồi dựng ra Lê triều tại Việt Nam, lịch sử có một vị thủ lĩnh gốc Thái rất nổi tiếng là BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG (khoảng 784 – 791). Liên quan đến chuyện này, Đại Việt sử kí toàn thư chép: [俗謂父曰布,母曰盖 Tục vị phụ viết bố, mẫu viết cái] – Tập quán người Việt gọi cha là Bố, mẹ là Cái. Ngoài ra, Lĩnh Nam chích quái – Hồng Bàng thị truyện chép rằng người Việt gọi Lạc Long Quân là Bô:「逋乎何在?Bô Hồ Tại Hà?] – Bố ơi người ở đâu? Liên kết với พ่อ [Phó – Ph̀x] ở tiếng Thái hiện đại thì rõ ràng Bố có liên hệ nào đó với Thái ngữ.

Trong tiếng Indonesia, Mẹ phát âm là Ibu, gần giống Bu là tiếng gọi Mẹ trong một nhánh Mân ngữ ở Hạ Môn – Phúc Kiến. Tuy nhiên những từ này rất khó tách bạch tại Việt ngữ vì nó xuất phát từ hai nguồn trong đại gia đình Austronesian: Proto Mon Khmer bản địa hoặc di dân Âu Việt. Trường hợp Ẩu – Ủ (嫗) tiền thân của U là điển hình. Đây là một từ của văn minh Dương Tử, cách ký âm khác của nó là Âu trong Âu Cơ mang nghĩa Quốc Mẫu.

2. Gốc Hán: CHA, BA, BỐ và MÁ, MỢ

Ở gốc này chúng tôi lại phải phân biệt Hán Dương Tử hay Hoàng Hà. Các liệt kê ngữ âm ở đây dựa vào nghiên cứu của nhà ngôn ngữ học quốc tế người Nga S. Starostin. Thật vậy, theo Khang Hy Tự Điển, người miền bắc Trung Quốc dùng chữ Đa (爹 – người Triều Châu đọc là Tía) để chỉ Bố. Nó được ký âm bởi chữ Phụ (父) mang nghĩa Bố và chữ Đa (多) mang âm. Âm tương đồng trong tiếng Việt chính là Cha. Câu ca dao:

Công cha như núi Thái Sơn.

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Đã chứa đựng một phần lịch sử hình thành dân tộc Kinh: Những người bố Hán từ Hoa Bắc đã đến châu thổ sông Hồng lấy phụ nữ Lạc Việt bản địa. Con cái ra đời sẽ gọi song thân của mình là Cha – Mẹ, nửa Hoàng Hà, nửa Hồng Hà như chính dòng máu nửa Lạc Việt nửa Hoa Hạ của họ.

Người Triều Châu vốn ở miền bắc Trung Quốc đi về Hoa Nam cuối thời Đường và định cư ở vùng giáp ranh Quảng Đông – Phúc Kiến. Khi di cư sang châu thổ Cửu Long mấy trăm năm trở lại đây, họ đã đem theo từ Tía gọi phụ thân vào ngôn ngữ Nam Bộ Việt Nam. Tía và Cha chính là biến âm của Đa (多) vốn được đọc là [tǟ] ở thời Đông Hán.

Hán ngữ còn một từ khác chỉ Cha là Da 爺, bộ Phụ, dùng chữ Da 耶 chỉ âm. Tiếng Bắc Kinh hiện nay đọc là [yé] rất giống Tía như người Triều Châu và đặc biệt âm Đông Hán của nó là [zhä]. Cơ bản Da 爺 và Đa 爹 có độ tương đồng tuyệt đối cao. Chúng tôi cho rằng đấy là hai cách ký âm có thể ở hai thời kỳ, hai khu vực khác nhau mà thôi.

Ba và Má, Mợ lại dễ hiểu hơn rất nhiều. Nó chính là Hán âm Phụ 父 [bá] và Mẫu 母 [mǝ̄́] trước thời Đường. Đến thời Đường, âm [bá] đã chuyển thành [bwó] tức Bố, Má – Mợ [mǝ̄́] thành [mǝ̄́w]. Ngôn ngữ Trung Nguyên đi theo các dòng di dân Quảng, Triều Châu, Khách Gia vẫn giữ lại âm cổ Ba – Má và cuối cùng chúng đã theo chân những đoàn người Minh Hương tị nạn chính trị đến miền nam Việt Nam.

Ở đây xuất hiện sự tương đồng của âm Bố trong tiếng Proto Mon Khmer và Thái với Đường âm của Phụ 父 là [bwó]. Tiếng Việt có thể tiếp thu từ cả hai nguồn, dù tận gốc rễ, khả năng vùng văn hóa Dương Tử phương nam đã dung nạp từ Bố này từ phương bắc là rất cao. Lý do là chữ Phụ 父 đã hiện diện rất lâu đời, muộn nhất trong giáp cốt văn ở tận thời Thương.

Ngoài các từ chỉ phụ thân ở trên, chúng tôi còn thấy chữ 翁 âm Hán Việt là Ông, xuất hiện ở Sử Ký, nghĩa là Cha. Thời Đường 翁 đọc là [ʔōŋ]. Một biến âm khác của nó là [aŋ] vẫn còn được người Song Phong – Hồ Nam dùng đến ngày nay. Do đó Ông – Ang tương tự như Ba Bố, Mai Mối, Ngột Ngạt, Hột Hạt… chỉ là một chữ ghép bởi hai âm ở hai vùng hoặc hai thời đại khác nhau. Từ Ông Già để chỉ người cha trong ngôn ngữ nam bộ có lẽ bắt nguồn từ đây.

anchi

Ảnh: Kiến giải chưa ổn về Ông – Ang của tác giả An Chi.

***

Tóm lại, sự đa dạng và kết hợp chéo của hai từ cốt lõi chỉ song thân trong ngôn ngữ Việt Nam, một lần nữa đã chứng tỏ nguồn gốc đa dạng của chính dân tộc Việt Nam mà chúng tôi đã làm rõ bằng khảo cổ, thư tịch cũng như các công trình khảo sát di truyền gần đây nhất.

Nếu văn minh Hoàng Hà đã chuyển qua phụ hệ chậm nhất là ở đời Thương thì văn minh Dương Tử vẫn ở chế độ Mẫu quyền (một vợ nhiều chồng, lãnh tụ là phụ nữ) hoặc Mẫu hệ (lãnh tụ có thể là nam giới nhưng quyền thừa kế vẫn thuộc nữ giới). Vì lý do đó tên gọi người đàn ông trong gia đình là kém quan trọng. Khi văn minh Hoàng Hà tràn đến, từ bản địa đó (nếu có) đã bị xóa sổ và thay thế mãi mãi bằng Hán ngữ Cha, Ba, Bố, Bá, Thầy...

Phodong Village 12.2017

@T.T.Du

Dương Tử – Nền Văn Minh 5400 Năm Bị Quên Lãng

11 Comments

Bắt đầu từ câu hỏi của một bạn đọc “Tết nguyên đán là của ai, do ai đặt ra?”. Tôi đã giải thích rằng Tết nguyên đán là một mốc thời gian đặc biệt của âm – dương lịch. Muốn có âm – dương lịch thì phải có thiên văn học, tính được thời gian trái đất quay xung quanh mặt trời một vòng gần với con số chính xác là 365,25 ngày. Điều kiện để xây dựng thiên văn học ở thời đại đồ đá là con người phải ở trên chí tuyến bắc, từ vĩ độ 23 độ 27 phút bắc trở lên. Dưới vĩ tuyến ấy, các bài toán thiên văn rất phức tạp, vượt quá khả năng của bất cứ cộng đồng dân cư cổ đại đã định cư nào. Thực tế là tất cả các nền văn minh đã nắm bắt thiên văn từ rất sớm đều ở trên chí tuyến bắc, chẳng hạn: Lưỡng Hà, Trung Hoa, Ai Cập, Ấn Độ hay Hy Lạp.

Thiên văn học nôm na là quá trình quan trắc mặt trời, trăng và sao từ một mốc cố định. Nếu rày đây mai đó như trong đời sống du canh du cư của các bộ tộc săn bắt hái lượm chẳng hạn, con người không thể tổng hợp được quy luật chuyển động của mặt trời để xây dựng âm dương lịch. Họ chỉ có thể sử dụng tháng trăng tròn khuyết gọi là âm lịch hay Nguyệt lịch. Nguyệt lịch hoàn toàn lệch pha với Nhật lịch, tức lịch mặt trời. Chỉ có Nhật lịch mới chỉ thị đúng thời điểm mùa màng mà thôi.

Ngoài thiên văn, chúng ta có một chỉ thị khác để xác định thời điểm bắt đầu chuyển từ du cư sang định cư của các tộc người cổ đại. Đó là thuần hóa vật nuôi và cây trồng hay quá trình chọn lọc gene đột biến thích hợp của động vật và thực vật nhằm phục vụ đời sống con người. Hoàn toàn có thể phân tích chính xác niên đại những dấu hiệu thuần hóa đầu tiên từ các mẫu vật khảo cổ.

Như vậy, âm dương lịch ở tình trạng sơ khai nhất phải có tuổi đời khá tương đồng với chiều dài lịch sử định cư và thuần hóa động thực vật. Trên lãnh thổ Trung Quốc ngày nay có hai nhánh chủng tộc Bắc – Nam và nhiều dấu vết ngôn ngữ, văn hóa cũng như khảo cổ khẳng định sự tồn tại của hai nền văn minh tối cổ tiền Hoa Hạ tương ứng. Xin được tạm gọi là văn minh Hoàng Hà và Dương Tử và đi sâu vào khảo sát.

CON ĐƯỜNG THIÊN DI

Cách đây trên 40 ngàn năm, từ vùng Lưỡng Hà có hai nhánh di dân về phía đông. Hình minh họa có sẵn dưới đây chỉ để cho dễ hiểu:

map_human_migration

A. Nhánh thứ nhất băng qua thảo nguyên và sa mạc trung Á đến đông bắc Á trở thành người Mông – Mãn. Khi đến được bờ bắc Hoàng Hà, chọn lọc tự nhiên đã loại trừ gần hết gene hai mí vốn phổ biến khắp nhân loại. Địa hình bằng phẳng ngút mắt trên con đường thiên di yêu cầu phải giảm thị trường (tức là giảm kích thước mắt), vừa để nhìn rõ mục tiêu hơn, vừa hạn chế tia cực tím từ ánh mặt trời chiếu thẳng vào nhãn cầu, vì địa bàn có ít vật che chắn như cây cao, rừng rậm… (Ngược lại, các bộ tộc săn bắt hái lượm trong rừng nhiệt đới hoặc ôn đới mênh mông mà mắt nhỏ, một mí, nếu không bị thú dữ ăn thịt, thì cũng chết đói đến tuyệt chủng). Họ dùng da thú giữ ấm tốt nên lông trên cơ thể hầu như đã biến mất, trừ râu quai nón. Ở giai đoạn cuối, nhóm này bắt đầu chăn nuôi các đàn gia súc lớn, cưỡi ngựa rong ruổi khắp nơi nên đàn ông có xu hướng chân ngắn, lưng và tay dài.

Cách đây khoảng 12 ngàn năm người Mông Mãn bắt đầu định cư ở châu thổ Hoàng Hà và xây dựng nền văn minh cùng tên. Mốc thời gian này căn cứ trên dấu hiệu thuần hóa chó sói trở thành chó nhà [1] cũng như gieo trồng giống kê đuôi cáo tại Nam Trang Đầu, Hà Bắc, Trung Quốc.

B. Nhánh thứ hai băng qua tiểu lục địa Ấn Độ đến Miến Điện. Tại đây họ lại chia hai, nhóm người đi sâu vào lục địa chiếm cứ thượng nguồn các dòng sông Mekong và Dương Tử tạm gọi là Thái – Tạng – Miến. Nhóm phân bổ khắp Đông nam Á rồi đi ngược về phía bắc đến cửa sông Dương Tử là Nam Đảo (Austronesian). Người Nam Đảo bắt đầu định cư ở đồng bằng bờ nam cửa sông Dương Tử cách đây khoảng 12.000 năm, căn cứ vào dấu hiệu thuần hóa lúa nước tại hồ Bà Dương và hang Ngọc Thiềm Nham tỉnh Hồ Nam. Xin lưu ý, chúng tôi lấy mốc ước đoán 12 ngàn năm từ rất nhiều tài liệu khảo cổ học công bố gần đây và chúng không hẳn hoàn toàn thống nhất với nhau.

BABYLON PHƯƠNG ĐÔNG

Liangzhusite_Chinadaily

Sơ đồ Babylon phương đông.

Đỉnh cao và cũng là trung tâm của văn minh Dương Tử đã được xác nhận bởi khảo cổ học là di tích thành quốc Lương Chử (Chiết Giang, văn minh ngọc thạch, 3400 BC – 2200 BC): Đây là thành quốc rộng lớn nhất Á Đông ở thời đại của nó, diện tích 290ha, có tường thành bao bọc xung quanh và 6 cổng chính, 2 cổng ở mỗi hướng bắc, đông và nam, nhiều cửa thông nối với hệ thống sông rạch. Hoàng cung nằm ở giữa rộng 30ha. Thành quốc có đàn tế trời đất, hệ thống đê điều tưới tiêu và ngăn lụt lội, xã hội đã phân chia giai cấp và có khả năng đã có vua chúa và giới quý tộc tăng lữ. Dấu vết kho lương thực chứa được khoảng 15 tấn gạo [2]. Các di cốt dưới lòng đất có gene liên hệ rõ rệt với chủng người Thái – Tráng và Nam Đảo [3].

DẤU HIỆU THIÊN VĂN HỌC

Để khảo sát trình độ thiên văn học hai nền văn minh Dương Tử và Hoàng Hà, chúng tôi chọn ra ba di tích thành quốc là Lương Chử, Đào Tự (Sơn Tây, cuối đá đầu đồng, 2300 BC – 1900 BC) và Nhị Lý Đầu (Hà Nam, đồ đồng, 1900 BC – 1500 BC).

Lương Chử cách Đào Tự khoảng 1000km đường chim bay và bị chia cắt bởi hai con sông lớn là Dương Tử và Hoàng Hà. Thêm nữa, thời điểm suy tàn của Lương Chử và khởi phát của Đào Tự chênh nhau 100 năm. Do đó chắc chắn hai nơi này phát triển độc lập. Nhị Lý Đầu nằm giữa Đào Tự và Lương Chử, bên bờ nam Hoàng Hà, có thể là nơi đã tiếp nhận tinh hoa từ hai phía và phát triển thành nền văn minh Thương Ân mở đầu văn minh Hoa Hạ.

Figure-1-Location-map-of-the-Liangzhu-Site-Zhejiang-Southeastern-China

Mặt bằng nền móng và tường thành Lương Chử (3400 BC – 2200 BC)

Taosi_Plan_5degree_2300BC

Mặt bằng nền móng di tích Đào Tự (陶寺2300 BC – 1900 BC)

erli_1900_1500BC_5

Nền móng di tích Nhị Lý Đầu (二里头1900 BC – 1500 BC)

Sơ đồ móng cung điện và Đại Môn (tiền thân của Ngọ Môn) của Nhị Lý Đầu được định vị đông tây nam bắc khá chuẩn, sai số chỉ 5 độ góc, chứng tỏ chủ nhân của chúng đã nắm khá vững thiên văn, có niên lịch và sử dụng đồng hồ mặt trời đo thời gian.

Tuy Lương Chử và Đào Tự lâu đời hơn Nhị Lý Đầu rất nhiều nhưng sơ đồ móng của chúng có sai số định vị đông tây nam bắc dưới 10 độ góc. Từ đó có thể kết luận Lương Chử và Đào Tự đã độc lập phát triển thiên văn và khả năng rất lớn là họ đã xây dựng được niên lịch và sử dụng đồng hồ mặt trời có độ chính xác chính ngọ dưới 30 phút. Để hiểu thêm định vị phương hướng, xin bạn đọc tham khảo thêm chủ đề riêng “Có thể định tuổi các nền văn minh bằng trục chính đạo?

Như chúng tôi đã làm rõ trong “Khảo chứng tiền sử Việt nam bằng Cổ thư và Thiên văn học“, thiên văn chỉ định hình khi xã hội chuyển hóa từ săn bắt hái lượm sang định canh định cư và thuần hóa cây trồng, vật nuôi. Thiên văn là tiền đề cho toán học ra đời và từ ngôn ngữ toán học con người tiến tới khai sinh ngôn ngữ truyền đạt, tức là chữ viết. Tại di chỉ Lương Chử, rất tiếc chưa xuất hiện dấu hiệu của chữ tượng hình rõ ràng như Đào Tự và Nhị Lý Đầu. Có thể họ vẫn đang dùng toán học ở dạng Kết Thằng (thắt nút), chưa đi đến bước viết các con số lên những chất liệu khác nhau để hình thành chữ viết đầu tiên.

BABYLON PHƯƠNG ĐÔNG SỤP ĐỔ

Các bằng chứng từ đầu não Lương Chử đã cho chúng ta cái nhìn mới về văn minh Dương Tử: phát triển rực rỡ ở tầm nhân loại, đã sử dụng thiên văn, có thể có toán pháp và bắt đầu xây dựng văn tự tượng hình cách đây 5400 năm. Tuy nhiên đến năm 2200 BC, thành quốc Lương Chử đột ngột biến mất, vùng ảnh hưởng của nó phân rã và thụt lùi trở lại văn hóa bộ lạc. Ước đoán các lý do như sau:

A. Do biến đổi khí hậu như diễn dịch tại đây. Khi dùng sóng radar quét sâu xuống 5m dưới lòng đất và kiểm nghiệm bằng những hố đào trực tiếp, công trình khảo cổ năm 2015 của các nhà khoa học Trung Quốc và Italy đã xác định ở độ sâu 2m3 trở xuống là kiến trúc đất nện nén chặt. Bề mặt của chúng là lớp đất mỏng khoảng 10 đến 20cm, có dấu vết rất rõ ràng của nhiệt lửa, do sinh hoạt nhiều đời của cư dân cổ. Khả năng rất lớn là ở năm 2200 BC, một trận đại hồng thủy tại sông Dương Tử đã xóa sổ toàn bộ trung tâm của nền văn minh ngọc thạch này.

B. Các tiểu trung tâm khác của văn minh Dương Tử tồn tại qua đại hồng thủy đã bị văn minh Hoàng Hà tiêu diệt hoặc thôn tính: Biến đổi khí hậu là lý do trực tiếp và cụ thể. Tuy nhiên, một quốc gia lớn (có hoàng thành rộng gấp 10 lần Tử Cấm Thành ngày nay ở Bắc Kinh) không thể tuyệt diệt hoàn toàn nếu thủ đô của nó đột nhiên biến mất. Đáng chú ý là tại Lương Chử chưa có dấu hiệu sử dụng đồng trong khi đó các di chỉ cùng tuổi phía bắc thuộc văn minh Hoàng Hà như Ngưỡng Thiều, Hồng Sơn… đã phát lộ dày đặc xỉ đồng. Chúng là tiền đề cho Nhị Lý Đầu vươn lên và tỏa sáng. Chúng ta lại thấy quy luật “Guns, Germs and Steel” của Jared Diamond ở đây: Vũ khí sắc bén hơn, gây sát thương dễ dàng và nghiêm trọng hơn đã đóng vai trò tiên quyết trong lịch sử.

Mãi đến khoảng năm 800 BC, trên địa bàn Lương Chử lại hồi sinh một hình thái nhà nước mới có gene Nam Đảo và Thái – Tráng, đó là nước Âu Việt. Sau khi bị nước Sở tiêu diệt vào năm 334 BC, một số nhánh Âu Việt đi về phía nam thành lập Mân Việt, Đông Âu và hợp huyết với người Lạc Việt tại nước Nam Việt của Triệu Đà. Sau công nguyên, người Âu Việt tiếp tục vượt biển đến mảnh đất Việt Nam và chính họ đã một lần nữa giành độc lập rồi dựng lên nước Đại Việt.

Như vậy, về cơ bản, quan điểm cho rằng người Việt có một nhánh tổ tiên từ một nền văn minh vĩ đại trên 5000 tuổi có lẽ không sai. Chỉ có điều nó là con đẻ của dòng sông Dương Tử vĩ đại, chứ không phải sông Hồng bản địa nhỏ bé. Dương Tử trong Hán ngữ còn viết là 江 (giang), từ thời Chu đến Minh người Hán đọc là [krōŋ]. Đó chính là âm Thái / Mon Khmer của từ Sông trong tiếng Việt. Trong từ chỉ sông này, tiếng Thái và Mon Khmer rất giống nhau. Ngày nay, sau mấy ngàn năm Hán hóa, vùng phía nam Trường Giang vẫn còn lốm đốm các khu vực phát âm khá giống tiếng Thái / Mon Khmer: Nam Xương – Giang Tây: [kɔŋ] ; Mai Huyện và Quảng Châu – Quảng Đông: [kɔŋ] ; Phúc Châu – Phúc Kiến: [kouŋ] hoặc [köyŋ] ; Dương Châu – Giang Tô: [ka_ŋ] hoặc sang trọng là [ćiâŋ]. Khi chủng Nam Đảo còn làm chủ con sông Trường Giang, họ gọi các nhánh nhỏ đổ vào sông mẹ là [d(h)ā], người Hán ký âm thành Đà沱, hoàn toàn tương đồng với cách các bộ tộc gốc Nam Đảo ở Tây Nguyên Việt Nam vẫn gọi sông là Dak hoặc Krong.

TẾT NGUYÊN ĐÁN CỦA AI?

Thiếu kiến thức thiên văn cổ đại và khảo cổ, rất nhiều học giả và tác giả Việt Nam đoán mò rằng âm lịch có nguồn gốc từ văn minh lúa nước Dương Tử còn dương lịch của văn minh Hoàng Hà. Chúng tôi thì chắc chắn rằng cả hai nền văn minh ấy đều dùng một hình thức âm – dương lịch tuy sơ khai nhưng hữu hiệu với mùa màng, không ai phải học của ai mà chỉ cần quan trắc lâu dài và tổng hợp quy luật chuyển động tương đối của mặt trăng, mặt trời và các vì sao với trái đất.

Nói cho cùng, phong tục ăn tết Nguyên đán có lẽ do người Chu truyền đến Âu Việt và người Hán sau đó lại đem đến Việt Nam. Ban đầu người Hoàng Hà ở vĩ độ rất cao, họ lấy tháng trăng gần ngày Xuân phân nhất, đỡ lạnh nhất để làm đầu năm. Do đó Hạ lịch chọn ngày 1 tháng Dần làm nguyên đán. Khi Hoàng Hà nam tiến xuống Dương Tử, để phù hợp với vĩ độ thấp hơn của kinh đô, nhà Thương chọn tháng Sửu, nhà Chu chọn tháng Tý (gần Đông Chí nhất). Tần lại lùi hẳn về tháng Hợi, trước những đợt lạnh nhất trong năm. Kể từ Hán Vũ Đế người ta quay lại tháng Dần. Cháu nội Tào Tháo có lần đổi sang tháng Sửu.

Đây là những lý do thuần túy thiên văn và chắc chắn do những thiên văn gia hoàng gia thiết lập nhưng khi công bố thì thường dưới những chiếu chỉ rất mông lung và mang tính chính trị là chính. Người Việt Nam vẫn gọi tháng Tý là tháng Một chắc chắn là do thói quen Âu Việt có mãi tận thời Chu mà thôi!

@T.T.Du 12.2017


[1] The zooarchaeology of domesticated animals in ancient China). Quaternary Sciences 30(2):298–306

[2] http://as.wiley.com/WileyCDA/WileyTitle/productCd-1444335294.html

[3] https://link.springer.com/article/10.1007%2Fs00439-007-0407-2

Older Entries Newer Entries

tongocthao

The greatest WordPress.com site in all the land!

Lạc Hoa Viên

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận. Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Anle20's Blog

Just another WordPress.com weblog

levinhhuy

Quắc mắt xem khinh nghìn lực sĩ/ Cúi đầu làm ngựa bé nhi đồng

thôn Sấu

Quê hương yêu dấu (Dọc hành chấm đứng). Xin các bạn vui lòng ghi rõ nguồn và dẫn link đến trang này nếu đăng lại bài của tôi

thienthanh2017.wordpress.com/

Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh - Lão Tử

Học Thế Nào

How We Learn

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Xuân Bình

Nhà báo tự do

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.