Quyền trượng – scepter – tượng trưng cho tri thức?

2 Comments

Scepter symbolizes knowledge?

Einstein: “It is easy to find a superficial analogy which really expresses nothing. But to discover some essential common features, hidden beneath a surface of external differences, to form, on this basis, a new successful theory, is important creative work”.

Darius_the_Great

Relief carving of Darius the Great of Persia on his throne, holding a scepter and lotus

Quyền trượng có lẽ là hình ảnh tối cổ của thổ khuê/cây nêu/gnomon, một dụng cụ cực kỳ giản dị đã giúp khai mở thiên văn, toán học và chữ viết cho những nền văn minh tiên phong.

Local Noon

Khi đi vào tín ngưỡng, quyền trượng biến hình thành Kim tự tháp tượng trưng cho trời hoặc thiên đường. Một kiến trúc cổ đại khác kết nối trời và đất là obelisk, chắc chắn cũng là phản ảnh của thổ khuê. Một số người lại giải thích đó là hình ảnh sinh thực khí nam của tín ngưỡng phồn thực, nhưng quên rằng độ dài “siêu thực” của nó không ủng hộ hướng nhìn này.

Washington_Monument_obelisk_scale-3

Washington Monument, an obelisk.

Có thể suy luận các cấu trúc tháp là biểu tượng cho tri thức. Người phương Tây từ thời đại Hy Lạp đã vay mượn nội hàm văn hóa Egypt và Mesopotamia này để sử dụng, nhưng không thấu hiển bản chất giản dị của nó.

Ở Việt Nam có Tháp bút, ý nghĩa thiên văn và tri thức của nó rất sai lạc và méo mó. Vị trí tháp như truyền tụng là sẽ cho bóng ngòi bút chấm vào nghiên mực ngày Đoan ngọ. Thật ra bóng tháp chỉ phụ thuộc vào mặt trời, dựa vào lịch âm mặt trăng là cái sai thứ nhất. Hà Nội vĩ độ khoảng 20 độ, Đoan ngọ thường rất gần với Hạ chí, lúc đó mặt trời ở phía bắc tháp, nghiên mực cũng ở phía bắc, bóng tháp sẽ đổ về phía nam, ngòi bút không thể chấm vào nghiên mực được, đó là cái sai thứ hai. Chỉ có thể phỏng đoán nếu đủ điều kiện (độ cao Tháp bút, góc lệch của nó với nghiên mực phù hợp) ngòi bút sẽ chấm vào nghiên mực vào khoảng trước sau ngày lập Hạ mùng 5 hoặc 6 tháng 5 dương lịch.

thapbut

Biểu tượng quyền trượng ít xuất hiện trong văn hóa Trung Hoa bởi họ không thoáng như Egypt và Mesopotamia. Họ biết rõ tri thức là sức mạnh và luôn bảo mật rất kỹ càng. Khi không được trao đổi học thuật rộng rãi, vô hình trung tri thức sáng lạn cổ đại của họ chỉ dẫm chân tại chỗ và dần dần suy tàn. Đó là lý do ba thế kỷ tụt hậu của Trung Quốc so với phương Tây vừa qua.

@T.T.D 7.2017

Ý nghĩa thiên văn của bốn chữ Hán đông tây nam bắc

Leave a comment

Bắc 北: Vốn đồng âm và đồng nghĩa với chữ Bối 背 tức là lưng. Giáp cốt văn vẽ hình hai người quay lưng lại với nhau (hình 1). Giữa trưa nếu người Trung Quốc cổ đại (ở vĩ độ 34-35) nhìn thẳng về phía mặt trời thì sau lưng họ chính là hướng chính bắc.

Bei

Nam 南: Các nhà nghiên cứu chữ viết xưa nay cho rằng giáp cốt văn của nó là hình một loại nhạc khí. Tuy vậy, ý nghĩa thiên văn rõ ràng của chữ Bắc dẫn đến khả năng giáp cốt văn của Nam mô tả mặt trời ở thời điểm ban trưa nóng nực, thấp thoáng chữ Hỏa (hình 2).

Nan

Đông 東: Chữ Đông giáp cốt vẽ mặt trời nằm giữa một cây cổ thụ, tức mặt trời mới mọc (hình 3).

Dong

Tây 西: Sách Thuyết Văn đời Hán cho đấy là hình chim nằm trên tổ, buổi chiều chim bay về tổ cùng hướng mặt trời lặn. Do đó gọi phương ấy là Tây (hình 4).

Xi

Tất nhiên, Hán ngữ có quá trình phát triển, bồi đắp, thay thế… ít nhất là 4000 năm. Dấu vết thiên văn cổ đại của nó còn nhiều như đã liệt kê ở trên là khá bất ngờ.

Lý thuyết vùng đệm an ninh và ngôn ngữ đế quốc

Leave a comment

Văn bản đề cặp đến lý thuyết vùng đệm an ninh xưa nhất của đế quốc mà tôi tiếp xúc được bằng nguyên ngữ nằm trong Hậu Hán Thư: “Xứ Man Di tuy ngăn cách núi cao lũng sâu, nhưng có đất sinh sống, nối liền với vùng Kinh Sở là đất Giao, che chở đất Ba Thục cần một vùng ngoại Di, không thể xác định chỗ tận cùng. Tuy nhiên Man Di hung ác mạnh mẽ tinh ranh mưu lược, như bọn Khương Địch, có vượt qua chỗ trọng yếu bằng sự hung dữ tàn ác, cũng chẳng thể vào sâu”.

Chắc chắn các đế quốc cùng thời như La Mã, Ba Tư cũng có những thứ tương đương. Lý do là hậu thân của họ – nền văn minh phương Tây – từ nhiều trăm năm nay vẫn luôn áp dụng thuần thục lý thuyết này. Thậm chí họ còn đặt ra những cái tên mỹ miều như “Học thuyết Monroe”, biến toàn bộ châu Mỹ thành vùng đệm an ninh cho đế quốc Mỹ vào đầu thế kỷ 19.

Trước và sau thế chiến thứ hai, bản đồ các đế quốc xáo trộn. Nó là thời điểm hiếm hoi mà lịch sử nhân loại bày ra vô vàn những cuộc dàn xếp vùng đệm an ninh khắp nơi trên địa cầu.

1939 – 1940: Nhật tấn công vùng đệm Mông Cổ của Nga nhưng thất bại. Biên giới Nga – Phần Lan lùi hàng trăm km về phía Phần Lan sau một trận chiến tàn khốc trên băng giá mùa đông. Nga và Đức chia đôi Ba Lan theo một hiệp ước bí mật trước đó. Để “dễ ngủ” hơn, Nga lại chiếm thêm ba nước vùng Baltic.

1945 – 1952: Nga chiếm chuỗi đảo phía bắc Nhật. Anh – Pháp – Nga – Mỹ nhanh chóng thay đổi chế độ chiếm đóng hà khắc tại Nhật và Đức, biến phần đất mình đang đóng quân thành đồng minh, bản chất là chuyển hóa chúng thành các vùng đệm an ninh. Tàu Tưởng tràn sang bắc Việt, họ chỉ rút về khi được đổi miếng bánh lớn hơn đó là Quảng Châu Loan và tất cả các tô giới thuộc Pháp ở Hoa lục. Triều Tiên bị chia đôi, vĩ tuyến 38 là ranh giới.

korea

Đến năm 1954, Việt Nam cuối cùng cũng chung số phận với Đức và Triều Tiên. Đất nước bị xẻ làm hai ở vĩ tuyến 17. Hệ quả ấy có thể thấy trước, nếu sử gia vĩ đại nhất của người Việt không phải là Trần Trọng Kim. Lý thuyết vùng đệm an ninh của đế quốc đã nằm trong Hán sử 1800 năm và phổ biến rộng rãi suốt 1500 năm, từ thế kỷ thứ 5. Người làm sử bỏ sót nó, quả là điều đáng tiếc và không thể biện hộ.

Từ lý thuyết vùng đệm an ninh, các đế quốc thường trao đổi với nhau bằng thứ ngôn ngữ đặc thù mà không phải nước nhỏ nào cũng hiểu sâu sắc. Lỗi lại là ở sử học và các sử gia.

Chẳng hạn trước khi chiến tranh Việt – Mỹ khai mào rất lâu, Bắc Kinh đã “giao thiệp” với Washington nói riêng và thế giới phương Tây nói chung bằng “Bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của CHND Trung Hoa”. Ý nghĩa của nó là: “Tao không care vụ chủ quyền hay chủ quyền lịch sử như đài nhà tao hay nhồi sọ dân chúng đâu. Vấn đề là an ninh quốc gia. Đó là lằn ranh đỏ. Chúng mày bước qua đó là có chiến tranh. Mặt trận Triều Tiên thứ hai sẽ thành hình”. Và để chứng tỏ sự “thấu cảm” rất đế quốc, năm 1974 hạm đội 7 hùng mạnh của chú SAM đã “đá lông nheo” với hạm đội cổ lỗ sĩ lố nhố Hồng vệ binh trói gà không chặt của Mao: “Tới đi bác tài. Tui sẽ đóng ở Subic, bờ đông biển Đông. Thỉnh thoảng ta giao lưu bóng bàn nhé.”

Thầy của các chính trị gia kiệt xuất trên thế giới bao giờ cũng là sử gia. Chẳng phải vô lý mà Mao luôn gối đầu giường quyển sử “Tư Trị Thông Giám” của Tư Mã Quang. Sử học đúng nghĩa không những phải chứa đựng túi khôn, túi dại của tiền nhân trực hệ, mà còn bắt buộc phải thông hiểu ngôn ngữ đế quốc suốt lịch sử loài người. Đó là điều kiện tiên quyết để một quốc gia tự nắm vận mệnh của mình, tiến tới cường thịnh và độc lập, thoát khỏi thân phận là vùng đệm an ninh của bất cứ thế lực nào.

Ở quyển hồi ký The Pianist, nghệ sĩ dương cầm gốc Do Thái Wladyslaw Szpilman đã mô tả nhà nước Ba Lan tiền chiến bạc nhược giữa gọng kềm Đức – Nga, trong khi truyền thông “ngáo đá” luôn cố gắng “phiêu du” bằng cách “dìm hàng” máy bay và xe tăng fascist là những khối hình bằng giấy, chỉ hù dọa được trẻ con. Sự ấu trĩ đã phải trả cái giá đắt nhất xưa nay: trên dưới 17% nhân dân Ba Lan bị giết, đất nước biến thành đống gạch vụn!

Yêu nước cũng có nhiều loại: Thông minh, vô tri hoặc ngu xuẩn.

@T.T.D 7.2017

Could be dated age of a civilization by ancient main axes?

3 Comments

Có thể định tuổi các nền văn minh bằng trục chính đạo?

  1. Đồng hồ mặt trời cổ đại

Làm cách nào để hai chiếc đồng hồ cổ đại Egypt (A1 – trái – 1500 BC) và China (A2 – phải – Western Han, khoảng 100 BC) như hình dưới đây chỉ thời gian chính xác, ít nhất là solar noon, tức thời điểm mặt trời nằm trên thiên kinh tuyến địa phương.

Với A1: Đường kính ở đáy sundial phải trùng với vĩ tuyến địa lý tại điểm đặt nó. Nếu dùng A1 tại Washington, tốt nhất là ra Lincoln Memorial và đặt đường kính đáy A1 song song với tim trục đường từ Lincoln Memorial đến Capital Hill. Nếu dùng A1 bên cạnh bất cứ Kim tự tháp nào ở Egypt thì phải đặt đường kính đáy A1 song song với cạnh đông – tây của Kim Tự Tháp. Nếu Dùng A1 tại di tích Babylon thì cũng phải đặt đường kính đáy A1 song song với các bức tường đông – tây của các cung điện và nhà thờ. Sai số trong định vị trục đông – tây sẽ chính là sai số của sundial khi chỉ solar noon.

Với A2: Cạnh dọc của sundial phải trùng kinh tuyến địa phương. Nếu dùng A2 tại hoàng thành Bắc Kinh, cạnh dọc của nó phải song song với ngự đạo (御道) tức trục chính bắc – nam của hoàng thành.

Bản chất của sundial chính là sự kết hợp của một miếng đá chỉ thị thời gian (dial plate) có đục lỗ để cắm cây nêu (gnomon). Trong một ngữ cảnh của Sử Ký (khoảng 100 BC) có mô tả thời kế của người thời Xuân Thu (547 BC – 490 BC). Nó là tổ hợp của gnomon và đồng hồ nước: “穰苴既辭,與莊賈約曰:「旦日日中會於軍門。」穰苴先馳至軍,立表下漏待賈。賈素驕貴,以為將己之軍而己為監,不甚急;親戚左右送之,留飲。日中而賈不至。穰苴則仆表決漏,入,行軍勒兵,申明約束. Dịch nghĩa: Sau khi Nhương Tư từ biệt Cảnh Công, ông hẹn với Trang Cổ: “Ngày mai giữa trưa chúng ta sẽ gặp nhau tại cổng doanh trại”. Hôm sau Nhương Tư đến nơi, dựng biểu và mở van đồng hồ nước đợi Trang Cổ. Trang Cổ xưa nay ngạo mạn, lại cho rằng mình là Giám quân của quân đội chính mình, chẳng cần vội vàng; vì thân thích tả hữu tiễn biệt, nán lại uống rượu. Chính ngọ Cổ vẫn chưa tới. Nhương Tư xô đổ biểu can và đập vỡ đồng hồ nước, đi vào doanh trại, điều binh khiển tướng, trình bày pháp lệnh”.

  1. Trục chính đạo của các nền văn minh

Đa số các cổng chính của thành quách, đền thờ và lăng mộ của văn minh Lưỡng Hà và Egyp đều mở về phía đông và độ chính xác của trục đông – tây tăng dần theo thời gian. Đến pyramid Djoser (2700 BC) và hoàng cung cũng như điện thờ Babylon (2300 BC) độ chính xác của trục chính đạo đông – tây của hai kiến trúc này đã đạt tới ±5 độ. Djoser -5 độ, nghĩa là nó hơi lệch về phía nam. Babylon +5 độ, nghĩa là nó hơi lệch về phía bắc.

Pyramid of Djoser_2700BC_5

Picture 1: Photo of Djoser pyramid by Google Map.

babylon_2300BC_10

Picture 2: Master plan of Babylon (2300 BC)

Ở Indus và Hy Lạp cũng vậy, tuy nhiên độ chính xác kém hơn rất nhiều: Di tích Dholavira Harappan (2600 BC) lệch -10 độ. Di tích Knossos (1600 BC) lệch -13 độ.

Trung Hoa là một nền văn minh phát triển độc lập. Họ chọn trục chính đạo vuông góc với trục chính đạo đông – tây của phương Tây, tức là bắc – nam. Di tích thành quốc Đào Tự (2300 BC) và Nhị Lý Đầu (1900 BC) đều có sai số tương tự ở Egypt 2700 BC và Babylon 2300 BC là ±5 độ. Đào Tự – 5 độ, hơi lệch về phía tây. Nhị Lý Đầu +5 độ, hơi lệch về phía đông.

Taosi_Plan_5degree_2300BC

Picture 3: Master plan of Taosi (陶寺) site (2300 BC)

erli_1900_1500BC_5

Picture 4: Master plan of Erlitou (二里头) site 1900 BC.

Trục chính đạo đông – tây của Lưỡng Hà, Ai Cập, Ấn Độ và Hy Lạp trong tương quan với trục chính đạo bắc – nam Trung Hoa về cơ bản là trục tung và trục hoành của hệ trục tọa độ Cartesian (Cartesian coordinate system) mà thôi. Nói cách khác trục chính đạo đông – tây hay bắc nam là một nửa hệ tọa độ Cartesian khi thiên văn và toán học của con người còn rất sơ khai. Một cách tình cờ người phương Tây đã chọn đông – tây và người Trung Hoa lại chọn bắc – nam. Nó khiến cho việc tìm hiểu thời cổ đại vốn rất ít manh mối, trở nên rõ ràng và có căn cứ nhất định, ít nhất là với thiên văn và toán học.

Theo Jared Diamond, trong quyển “Guns, Germs and Steel”, căn cứ trên khảo cổ quá trình thuần hóa thực vật và động vật, người Lưỡng Hà bắt đầu định cư cách đây 10500 năm, người Trung Hoa đi sau 1000 năm.

Domesticated

Picture 5: Page 100 of the book “Guns, Germs and Steel”

Khoa học thiên văn đòi hỏi một mốc quan trắc cố định, tức là xã hội định cư. Có như vậy con người mới tổng hợp được qui luật chuyển động tương đối giữa trái đất với mặt trời, mặt trăng, hành tinh, định tinh nhằm xác định ngày tháng năm, mùa màng và phương hướng.

Chúng tôi tạm gọi Lưỡng Hà, Egypt, Indus và Hy Lạp là văn minh Tây Á mở rộng. Họ mất 10500 – (2700 + 2000) = 5800 năm để xác định phương hướng chính xác đến ±5 độ. 2700 BC như đã nói ở trên là niên đại kim tự tháp Djoser, di tích sớm nhất cho thấy sai số trục chính đạo chỉ là -5 độ. Với phép tính tương tự, người Trung Hoa ở Đông Á đi sau người Tây Á 1000 năm, nhưng họ lại tính chính xác nhanh hơn, chỉ mất 5.200 năm.

Ở thời điểm 2300 BC, có thể nói về phương diện thiên văn và toán học, người Babylon và người Trung Hoa giỏi như nhau nhưng người Egypt giỏi nhất, người Indus và Greece nằm cuối bảng. Trừ một số rất ít kim tự tháp có trục chính đạo lệch quá nhiều, có thể do biến động xã hội hoặc chủ thuyết tôn giáo phi truyền thống, về cơ bản hầu hết các kim tự tháp khác ở Egypt có sai số của trục chính đạo ngày càng giảm rõ rệt và xuống dưới ±5 độ.

  1. Ý nghĩa của độ chính xác ±5 độ.

Local Noon

Đối với người quan sát ở phía trên Chí tuyến bắc, local noon là thời điểm bóng cây nêu ngắn nhất trong một ngày nhất định. Khi ấy bóng cây nêu sẽ chỉ đúng hướng bắc. Những nền văn minh chúng ta đang khảo sát ở đây đều thỏa mãn tọa độ địa lý của bài toán thiên văn này. Như vậy độ chính xác của trục chính đạo đông – tây Egypt và Lưỡng Hà hay bắc – nam Trung Hoa phụ thuộc vào kết luận khi nào bóng cây nêu ngắn nhất của các thiên văn gia thời ấy.

Đầu mút bóng cây nêu là hình chiếu vị trí mặt trời trên quỹ đạo của nó xuống mặt phẳng chân trời. Mặt trời chuyển động (tương đối) được một vòng 360 độ xung quanh trái đất trong 24 giờ, tức là một ngày. Do vậy việc lệch đi ±5 độ ở trục chính đạo đông – tây hoặc bắc – nam sẽ dẫn đến sundial chỉ local noon có sai số ±15 phút.

Nói cách khác, người Egypt, Lưỡng Hà và Trung Hoa cách đây ít nhất 4300 năm có thể đã sử dụng những chiếc đồng hồ mặt trời sundial có sai số buổi trưa khoảng ±15 phút. Đây là bằng chứng khoa học không thể phủ nhận và có thể trở thành một chỉ mốc định tuổi văn minh.

  1. Kết luận

Nội dung trên chỉ là một phần nhỏ chúng tôi rút ra khi khảo sát thiên văn học cổ đại Trung Hoa, ở quyển sách Việt ngữ “Research Prehistory of Vietnam under Chinese classical Astronomy and Text“, ISBN 9781370154548.

Do tính liên tục đơn nhất của nó trên hoàn cầu, về cơ bản, nghiên cứu văn minh Trung Hoa từ thiên văn và toán học sẽ phần nào nhận ra tiến hóa của xã hội loài người nói chung và thiên văn – toán học nói riêng ở các nền văn minh khác. Người phương Tây vẫn chưa thật sự hiểu quá trình hình thành và phát triển của lịch sử Trung Quốc. Đó là chưa nói đến tâm thế bề trên trong nhiều tài liệu học thuật khi khảo sát Trung Hoa cổ đại bằng ngôn ngữ phi Hán.

Đây là một bài báo nhỏ của một sử gia không chuyên, nhưng chúng tôi tin nó sẽ là gợi ý có căn cứ, để các chuyên gia thông tuệ khắp hoàn cầu tham khảo và đi sâu nghiên cứu.

@Copyright by Trương Thái Du (张泰游)

Rất cần dịch giả Việt – Anh!

Leave a comment

Tôi có lẽ là người đầu tiên dùng các lý thuyết thiên văn khảo sát orientation của nền móng các di chỉ khảo cổ ở văn minh Lưỡng Hà, Egypt và Trung Quốc.

Từ bản chất xác định mùa màng, năm tháng và ngày giờ của thiên văn cổ đại, tôi đã tính được đồng hồ mặt trời Egyp năm 2700 BC, Babylon năm 2300 BC và thành quốc Đào Tự ở Sơn Tây – Trung Quốc năm 2300 BC có sai số bằng nhau là ±15 phút, tương đương 5 độ góc cũng chính là góc quay của mặt trời trên quỹ đạo ở một ngày nhất định trong 15 phút.

Đây là gì nếu không phải một thước đo mới cho văn minh loài người nói chung, khoa học nói riêng?

Pyramid of Djoser_2700BC_5

Ảnh 1: Trục chính đạo đông – tây Kim tự tháp Djoser (2700 BC) lệch 5 độ so với phương vị đông tây chuẩn.

babylon_2300BC_10

Ảnh 2: Trục chính đạo đông – tây của đền thờ và lâu đài Babylon (2300 BC) lệch 5 độ so với phương vị đông tây chuẩn.

Taosi_Plan_5degree_2300BC

Ảnh 3: Khác với phương Tây, người Trung Hoa cổ dùng trục chính đạo bắc – nam, chính đạo ở hoàng thành và đàn tế trời gọi là Ngự đạo, ở lăng mộ hoàng đế gọi là thần đạo. Dấu vết nền móng cung điện ở Đào Tự – Sơn Tây – Trung Quốc (2300 BC) lệch 5 độ so với phương vị bắc nam chuẩn.

Tôi tin những khám phá này cần được học giới quốc tế xem xét và phản biện. Do đó tôi rất mong cộng tác (có thù lao) với một dịch giả Việt – Anh yêu thích lịch sử để chuyển ngữ tài liệu qua tiếng Anh. Đầu tiên chỉ là một bài báo đơn giản khoảng 2000 đến 3000 chữ, gửi đến tạp chí Nature chẳng hạn.

Xin vui lòng liên hệ truongthaidu@gmail.com.

Thạch viên 15.7.2017

T.T.D

Nam Man Tây Nam Di Liệt Truyện

Leave a comment

Người dịch: Trương Thái Du

Nguồn: Hậu Hán Thư

(Xin tôn trọng bản quyền khi trích dẫn hoặc sử dụng)

Các phân đoạn do người dịch đặt tên căn cứ trên nội dung.

(Trích Khảo Chứng Tiền Sử Việt Nam bằng Cổ thư và Thiên văn học)

1. Từ Trung Nguyên xa xưa đến Hồ Nam

Ngày xưa nước Cao Tân gặp nạn Khuyển Nhung, nhà vua lo lắng vì bị giặc tàn bạo xâm lấn, không chống đỡ nổi. Vua bèn hỏi khắp thiên hạ ai có thể làm tướng đánh Khuyển Nhung, lấy được đầu Ngô tướng quân của địch, sẽ thưởng vàng ngàn lạng, phong ấp vạn nhà, lại gả thêm công chúa làm vợ. Khi ấy vua đang nuôi một con chó lông năm màu, tên gọi là Bàn Hồ. Sau khi vương lệnh ban ra, Bàn Hồ liền ngoạm đầu tướng địch đặt trước cửa cung điện. Quần thần kinh ngạc xem xét, quả đúng là thủ cấp Ngô tướng quân. Vua rất vui mừng nhưng thấy không thể để Bàn Hồ làm phò mã, cũng như không thể phong tước hàm, muốn cân nhắc thông báo cho Bàn Hồ điều này là không thích hợp với đạo lý. Công chúa nghe tin, cho rằng một khi hoàng thượng đã ban lệnh ước, không thể không giữ chữ tín, bèn yêu cầu vua cha thực hiện lời hứa. Bất đắc dĩ, vua phải gả công chúa cho Bàn Hồ. Bàn Hồ cưới được vợ, bèn cõng công chúa đi về vùng núi phía nam, vào hang đá sinh sống. Xứ sở ấy thâm sâu hiểm trở, không có dấu vết con người. Do vậy công chúa bỏ hết quần áo, búi tóc kiểu nô bộc hèn hạ, mặc trang phục áo liền quần giản đơn. Vua buồn thương nghĩ ngợi, sai sứ giả đi tìm, lần nào cũng vậy, gặp mưa gió sấm chớp tăm tối, sứ giả không tiến vào được. Sau ba năm công chúa sinh được mười hai người con, sáu nam sáu nữ. Sau khi Bàn Hồ chết, những người con này lấy nhau. Họ tước vỏ cây, nhuộm màu bằng các loại quả và hạt, rồi kết thành quần áo ngũ sắc, khi cắt may lúc nào cũng đính hình dạng một cái đuôi đằng sau. Đến khi công chúa qua đời, những người con kia về báo tin cho vua, ngài sai người tiếp đón. Quần áo đám cháu ngoại vua sặc sỡ, ngôn ngữ liến thoắn rời rạc, họ thích sống ở hang hốc trong núi cao, không ưa chốn đất bằng rộng rãi. Vua chiều lòng họ, ban cho danh tính là Sơn, Quảng và Trạch. Sau này nhóm người ấy sinh sôi lan tỏa, xưng là Man Di. Người Man Di vẻ ngoài khờ khạo, bên trong thông tuệ, đã trở về sinh sống dưới mặt đất, nhưng trọng cựu khinh tân. Vì công tích của tổ tiên Bàn Hồ, và có dòng máu công chúa, người Man Di cày cấy buôn bán, không cần phù tín ra vào cửa quan ải, không phải nộp tô thuế cho nhà nước. Họ có làng xóm và quân trưởng, quân trưởng đều được phát ấn thụ (ấn buộc dây thao đeo cổ), đội mũ làm bằng da rái cá. Thủ lĩnh (cừ soái) Man Di xưng là Tinh Phu, gọi người dưới là Ương Đồ. Hai quận Trường Sa và Vũ Lăng hiện nay (thời điểm Đông Hán) là đất Man Di vậy.

Thời Đường Ngu, vua Nghiêu vua Thuấn cùng người Man Di lập minh ước, (sách) xưa viết là yêu cầu phục tùng. Đến nhà Hạ, nhà Thương, họ dần dần trở thành tai họa nơi biên giới. Qua triều Chu, bọn ấy càng thêm cường thịnh. Lúc Tuyên vương trung hưng (827 BC – 782 BC), bèn ra lệnh Phương Thúc nam phạt Man Di, nên có thơ rằng “Uy quyền đến tận xứ Man Kinh”. Thơ còn viết “Bọn Man Kinh ngu ngốc ấy, là kẻ thù của nhà Chu”. Người ta cho rằng Man Di phồn thịnh, là nhờ dám chống lại người Hoa Hạ.

Đến khi Bình vương đời đô sang phía đông, lập triều Đông Chu (771 BC), người Man lại đánh phá ác liệt. Quan phụ chánh Tấn Văn Hầu bèn mang theo Thái Cộng Hầu triệt được giặc. Qua thời Sở Vũ vương (740 BC – 690 BC), người Man và người La Tử hợp sức đánh bại quân Sở, giết được tướng Khuất Hà. Lúc Trang vương (613BC – 591 BC) mới lên ngôi, dân đói quân yếu, lại bị người Man cướp phá. Sau khi quân Sở chấn chỉnh cường thịnh, người Man bèn thuận phục, tự giác xin nhập vào nước Sở. Trong trận Yên Lăng (575 BC), người Man cùng Sở Cung vương hợp binh đánh Tấn (tranh bá Trung Nguyên). Lúc Ngô Khởi (440 BC – 381 BC) làm tể tướng cho Sở Điệu vương, phía nam thâu tóm Man Việt, chiếm cứ Động Đình hồ và Thương Ngô. Tần Chiêu vương sai Bạch Khởi đánh Sở, chiếm lấy Man Di, đầu tiên đặt quận Kiềm Trung (276 BC). Nhà Hán lên, đổi Kiềm Trung thành Vũ Lăng. Hằng năm thu thuế người lớn bốn trượng, trẻ em hai trượng vải bố (vải gai), cho nên gọi người ở đấy là Tung Bố. Tuy thời ấy, người Man Di vẫn thường cướp bóc, nhưng không đủ mạnh để trở thành quận nạn hay quốc nạn.

Thời Hán Quang vũ trung hưng (sau năm 25 AD), người Man Di ở Vũ Lăng đặc biệt cường thịnh. Năm Kiến Vũ thứ 23 (48 AD), Tinh Phu (cứ soái) cùng với bọn Đan Trình đánh và chiếm cứ cửa ải hiểm trở, cướp bóc quận huyện. Quang Vũ sai Uy vũ tướng quân Lưu Thượng phát binh Nam quận, Trường Sa, Vũ Lăng hơn vạn người, dùng thuyền đi ngược sông Nguyên xâm nhập Vũ Khê công kích. Lưu Thượng khinh địch đi vào hiểm địa, núi non thâm u, thác gềnh nước réo, thuyền không thể ngược dòng. Người Man biết Thượng từ xa đến, lương thảo ít, lại không rõ đường ngang ngõ tắt, bèn tụ tập binh lực trấn giữ yếu địa. Lưu Thượng hết cái ăn, phải lui quân, người Man men theo đường lớn hẻm nhỏ tập kích, tiêu diệt Hán quân. Năm thứ 24 (49 AD), đánh bọn Đan Trình rồi đi xuống công phá Lâm Nguyên, sai Yết giả Lý Tung và Trung Sơn thái thú Mã Thành tập kích, nhưng không thể thắng. Mùa xuân năm sau, sai Phục ba tướng quân Mã Viện và bọn Trung lang tướng Lưu Khuông, Mã Vũ, Tôn Vĩnh dẫn quân đến Lâm Nguyên, đánh phá được quân Man. Bọn Đan Trình nguy khốn xin hàng, đúng dịp Mã Viện ngã bệnh rồi chết, Yết giả Tông Quân tiếp nhận sự đầu phục. Nhà Hán thiết trí quan lại cai trị, nhóm Man Di ở đây được bình định.

Thời Túc tông, năm Kiến sơ thứ nhất (76 AD), bọn người Man là Trần Tòng tại sông Lễ quận Vũ Lăng làm phản, tiến vào địa giới người Man tại Linh Dương. Mùa đông cùng năm, Tinh Phu (cừ soái) Linh Dương, người Man tộc Ngũ Lý, trước đã thuận Hán thiết lập thành quận, đánh tan được Tòng, bọn Tòng đều đầu hàng. Mùa đông năm Kiến nguyên thứ ba (78 AD), người Man ở sông Lâu, bọn Đàm Nhi Kiện lại nổi loạn, tấn công đốt phá địa giới Linh Dương, Tác Đường, Sàn Lăng. Mùa xuân năm sau, phát binh bảy quận Kinh Châu cùng với Nhữ Nam, Dĩnh Xuyên, thêm vào những kẻ phạm tội cùng sĩ lại được hơn năm ngàn người, phòng thủ tại Linh Dương, tuyển mộ bổ xung bốn ngàn người trong quân không làm phản của Tinh Phu tộc Ngũ Lý, đánh giặc nơi sông Lễ. Mùa xuân năm thứ năm (80 AD), bọn Đàm Nhi Kiện xin hàng nhưng không được chấp nhận. Người các quận tiến binh giao chiến tại Hoành Hạ, đại phá giặc, chém được đầu Nhi Kiện, tàn quân Man bỏ chạy về lại sông Lâu, một lần nữa sai người đến xin hàng, bèn chấp nhận. Từ ấy bãi đồn binh Vũ Lăng, ban thưởng mọi người.

Thời Hòa đế, mùa đông năm Vĩnh nguyên thứ tư (92 AD), bọn người Man Đàm Nhung ở vùng sông Lâu sông Lễ làm phản, đốt phá nhà trạm, cướp giết quan lại và dân thường, quận binh đánh dẹp phải hàng. Thời An đế năm Nguyên sơ thứ hai (năm 115), người Man ở sông Lễ nại sưu dịch và mức thuế của quận huyện không bình đẳng, cho nên mang oán hận, bèn tụ tập thu nạp trong các giống Man hơn hai ngàn người, tấn công thành trì giết trưởng lại. Châu quận mộ quân người Man Ngũ Lý và Lục Đình truy kích phá được, tất cả đều đầu hàng. Triều đình ân thưởng thủ lĩnh Ngũ Lý và Lục Đình vàng bạc không bằng nhau. Mùa thu năm sau, bốn ngàn người Man sông Lâu sông Lễ cùng lúc nổi dậy. Lại có bọn Dương Tôn, Trần Thang hơn ngàn người Man Linh Lăng chít lụa đỏ trên đầu, tự xưng tướng quân, đốt phá quan dinh, cướp bóc trăm họ. Châu quận tuyển mộ người Man lương thiện, trừ được.

Đời Thuận đế, năm Vĩnh hòa thứ nhất (năm 136), thái thú Vũ Lăng gửi thư lên hoàng đế, nói rằng người Man Di đã qui phục, có thể xem như ngang với người Hán, phải tăng tô thuế. Triều đình thảo luận đều cho rằng khả thi. Thượng thư lệnh Ngu Hủ đọc bản tấu viết: “Từ xưa các thánh vương không cho người dị tục làm thần dân, bởi không dùng đức thì không gần họ được, uy vũ không thể khuất phục họ, biết rõ cái tâm hoang dã tham lam của họ, rất khó dùng lễ. Xưa tuy đã lung lạc yên phủ, dùng khuôn phép phù hợp truyền thụ để họ không chống đối, khi họ không noi theo cũng không truy cứu. Phép cũ của tiên đế, nộp thuế ít hay nhiều, cứ thế nương theo thì sẽ được bền lâu. Nay tăng lên nhiều, tất có oán phản. Đắc kế là vậy, nếu không dùng, sau này sẽ hối tiếc.” Nhà vua không nghe. Mùa đông năm ấy, quả nhiên người Man ở sông Lễ sông Lâu tranh cãi việc cống nạp vải gai không như lệ cũ, cuối cùng giết hương lại, tập hợp người làm phản. Mùa xuân năm sau hai vạn người Man vây kín thành, tám trăm người cướp bóc trên đường. Vua sai Vũ Lăng thái thú Lý Tiến đánh dẹp, chém mấy trăm thủ cấp, số còn lại đầu hàng. Tiến bèn tuyển chọn quan lại thanh liêm, được lòng người Man. Lý Tiến làm việc tại quận ấy chín năm, đến khi Lương thái hậu trông coi triều chính, hạ chiếu tăng bổng lộc hai ngàn thạch, cấp hai vạn tiền. Đến thời Hoàn đế, mùa thu năm Nguyên gia thứ nhất (năm 151), người Man ở Vũ Lăng là bọn Chiêm Sơn hơn bốn ngàn người nổi loạn, bắt nhốt huyện lệnh, trấn thủ trong núi sâu. Đến năm Vĩnh hưng thứ nhất (năm 153), thái thú Ứng Phụng dùng ân tín chiêu dụ, tất cả mới đầu hàng và giải tán.

Tháng 11 năm Vĩnh thọ thứ ba (năm 157), người Man ở Trường Sa nổi loạn, chiếm đóng Ích Dương. Đến mùa thu năm Diên hi thứ ba (năm 160), tiến đến cướp đoạt trong quận, đông hơn vạn người, sát thương trưởng lại. Lại thêm người Man ở Linh Lăng vào Trường Sa. Đến mùa đông, người Man ở Vũ Lăng hơn sáu trăm mạng cướp bóc ở Giang Lăng, thứ sử Kinh Châu Lưu Độ, Yết giả Mã Mục và thái thú Nam quận Lý Túc đều bỏ chạy. Quan chủ bộ của Lý Túc là Hồ Sảng giữ cương ngựa can gián: “Man Di thấy quận không phòng bị, cho nên dám thừa cơ tiến đánh. Ông là đại thần quốc gia, thành quách liên tục hàng ngàn dặm, giương cờ đánh trống, mười vạn người đáp lại, sao nỡ vứt đi trọng trách thái thú được giao, ông chấp nhận làm kẻ bỏ chạy được ư?” Túc rút đao chỉ vào Sảng nói: “Phó quan nên chạy gấp đi. Thái thú ta vội lắm, chẳng rỗi mà suy tính đâu.” Sảng ôm ngựa cố can ngăn, Túc bèn giết Sảng rồi đào tẩu. Vua nghe việc này, triệu Lý Túc đến tước bỏ quan chức, cùng Lưu Độ và Mã Mục xử tử cả bọn, miễn trừ tô thuế sưu dịch cho gia đình Hồ Sảng, phong một người trong họ làm quan. Sau đó lấy Hữu hiệu lệnh Độ Thượng làm thứ sử Kinh Châu thảo phạt giặc Trường Sa, bình định người Man. Lại sai Xa kỵ tướng quân Phùng Cổn, đánh Man Di Vũ Lăng, tất cả đều đầu hàng giải tán. Sau khi quân Hán rút về, giặc trở lại đánh cướp Quế Dương, thái thú Liệu Tích trốn chạy. Người Man ở Vũ Lăng lại tiếp tục phá quận ấy, thái thú Trần Phụng dẫn quan quân dẹp được, chém hơn ba trăm thủ cấp, hơn hai ngàn kẻ đầu hàng. Đến đời Linh Đế, năm Trung bình thứ ba (năm 186), người Man Vũ Lăng lại nổi dậy, cướp phá trong quận, châu quận đánh dẹp được.

2. Từ Hồ Nam trở xuống phía nam, đến Nhật Nam.

Sách Lễ Ký viết: “Phương nam gọi là Man, người Giao Chỉ thích chữ lên trán11.” Trong tập tục ở nơi ấy, nam và nữ có thể cùng tắm trên một dòng sông, người xưa gọi là xứ Giao Chỉ. Tây (Giao Chỉ) có nước Đạm Nhân, người ở đó khi sinh được đứa con đầu lòng liền làm thịt mà ăn, cho là chỉ nên giữ nuôi từ đứa con thứ hai. Có món ngon của lạ, phép tắc nơi ấy là phải đem biếu tù trưởng, nếu tù trưởng vui lòng sẽ hậu thưởng cha mẹ kẻ hiến tặng. Chọn được vợ đẹp, phải nhường lại cho anh ruột. Đấy là người Ô Hử ngày nay vậy.

Phía nam Giao Chỉ có nước Việt Thường. Năm nhiếp chính thứ sáu của Chu Công (khoảng 1.018 BC), đặt ra lễ, sáng tác nhạc, thiên hạ thái bình, Việt Thường qua ba lần dịch thuật đến hiến bạch trĩ, nói rằng: “Đường xá xa xôi, sông núi cách ngăn, không hiểu lời sứ giả, cho nên chúng tôi phải dùng nhiều lần phiên dịch đến triều kiến.” Thành vương nhìn sang Chu Công. Chu Công nói: “Nếu không tích đức, người quân tử có được hưởng phước lộc như thế này không? Luật pháp không thực thi, người quân tử có được những kẻ ở xa đến xưng thần không? Tôi đồng ý nhận lễ vật này.” Sứ giả kính cẩn trả lời: “Tôi thụ mệnh chuyển lời của già làng nước mình: Bao lâu nay, trời không giáng sấm chớp bão tố, ý rằng ở Trung Quốc có thánh nhân chăng? Sao không đến đó mà chầu kiến?” Chu Công bèn quay qua Thành vương, ca tụng tiên vương có thần trí, rồi đem đồ cống dâng cúng tông miếu. Sau này đức nhà Chu suy, Việt Thường không còn đến nữa.

Đến thời Sở xưng bá, họ triều cống thay cho Bách Việt. Nhà Tần thống nhất thiên hạ, dùng sức mạnh khuất phục Man Di, đầu tiên khai mở vùng đất phía ngoài Ngũ Lĩnh, đặt các quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng. Khi Hán hưng, quan Úy tên Đà tự lập làm Nam Việt vương, truyền được năm đời. Đến thời Vũ đế, năm Nguyên đỉnh thứ năm (112 BC), diệt Nam Việt phân làm chín quận, đặt thứ sử trông coi (Giao Chỉ bộ gồm 9 quận). Châu Nhai và Đam Nhĩ là hai quận ngoài hải đảo, đông tây rộng ngàn dặm, nam bắc khoảng 500 dặm. Thủ lĩnh người Man cho rằng tai dài là cao quý, người ở đấy đều dùng ngoại vật xuyên qua tai, để căng dài thùy tai rủ xuống ba thốn (khoảng 10cm). Cuối thời Vũ đế, Châu Nhai thái thú người Cối Kê tên là Tôn Hạnh áp sưu thuế rất cao, người Man không chịu nổi, bèn nổi lên chiếm quận giết Hạnh. Con Hạnh là Tôn Báo tập hợp những kẻ thân thiết giành lại quận phủ, tự lãnh việc trong quận, truy kích các dư đảng người Man, liên tục mấy năm mới bình định được. Tôn Báo sai sứ giả gói gém ấn thụ của cha đem về triều đình cùng với thư tâu trình công trạng, vua liền ra chiếu chỉ phong Báo làm thái thú Châu Nhai. Từ đó uy quyền danh chính thực thi, mỗi năm đều hiến cống. Người Trung Quốc tham châu ngọc quý báu ở đây, cứ dần dần lấn ép hà hiếp bóc lột dân Man, cho nên vài năm người Châu Nhai lại nổi dậy một lần. Thời Nguyên đế, năm Sơ nguyên thứ ba (46 BC), bãi bỏ quận này. Đại khái lập quận và trấn đóng được 65 năm.

Tới thời Vương Mãng phụ chánh, năm Nguyên thủy thứ hai (năm 2 sau Công nguyên), có nước Hoàng Chi phía nam Nhật Nam đến hiến cống tê giác. Nói chung đất Giao Chỉ đã được thống thuộc, tuy đặt thành quận huyện, nhưng ngôn ngữ của họ khác biệt, phải qua phiên dịch mới hiểu được. Con người hoang dã, già trẻ không phân biệt. Họ búi tóc ra sau gáy, đi chân đất, phục sức  bằng vải gai quấn quanh đầu. Sau này tội nhân Trung Quốc bị đày xuống đây, hỗn cư hòa trộn, dần dần người quận Giao Chỉ hiểu được tiếng Hán, và từ từ được lễ hóa.

Đến Quang vũ đế trung hưng (sau năm 25), Tích Quang được cử làm thái thú quận Giao Chỉ, Nhâm Diên làm thái thú Cửu Chân, hướng dẫn người hai quận ấy canh nông trồng cấy, đội nón mang giày dép, bắt đầu sắp đặt nghi thức mai mối, họ mới biết áp dụng phong tục hôn nhân theo kiểu người Hán, lại xây trường học, dạy dỗ lễ nghĩa và đạo lý.

Năm Kiến vũ thứ 12 (năm 36), người Man Lý tên Trương Du ở ngoài Cửu Chân, hâm mộ nhà Hán, mang dân chúng xin nội thuộc, được phong Quy Hán Lý quân. Năm sau người Man Di ngoài cõi Nam Việt cũ cống bạch trĩ và thỏ trắng. Đến năm thứ 16 (năm 40), người đàn bà quận Giao Chỉ tên Trưng Trắc cùng em gái Trưng Nhị nổi dậy, đánh chiếm quận phủ. Trưng Trắc là con gái Lạc tướng huyện Mi Linh. Bà là vợ ông Thi người huyện Chu Cấu, rất tài giỏi và đảm lược. Thái thú quận Giao Chỉ là Tô Định dùng pháp luật trói buộc, Trưng Trắc nổi giận, do đó phản kháng. Lúc ấy người Man Lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, đại khái chiếm được 65 thành ấp, tự lập vương quyền. Thứ sử Giao Chỉ bộ (gồm chín quận) và các thái thú gần đó đành tự thủ thân. Quang vũ đế bèn ra chiếu chỉ cho Trường Sa, Hợp Phố và các quận khác trong Giao Chỉ bộ sửa soạn xe và thuyền, tu sửa cầu đường, thông khe lạch cản trở, tích trữ lương thảo. Năm thứ mười tám (năm 42), sai Phục ba tướng quân Mã Viện cùng Lâu thuyền tướng quân Đoàn Chí, lấy hơn một vạn người ở Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô đi đánh dẹp. Tháng tư mùa Hạ năm 4312, Viện đánh bại quận vương Giao Chỉ, chém đầu nữ vương Trưng Trắc và Trưng Nhị, số còn lại hàng phục và giải tán. Sau đó lại tiến đánh tướng Đô Dương ở Cửu Chân, cũng khuất phục được. Bắt dời hơn ba trăm thủ lĩnh và tù trưởng (cừ soái) đến Linh Lăng (Hồ Nam). Ngoài cõi Ngũ Lĩnh lại bình yên.

Thời Túc tông, năm Nguyên hòa thứ nhất (năm 84), Man Di phía ngoài Nhật Nam, thổ hào nước Cứu Bất Sự Nhân tặng tê giác còn sống, bạch trĩ. Thời Hòa đế, mùa hạ tháng tư năm Vĩnh nguyên thứ mười hai (năm 101), Man Di ở Nhật Nam và Tượng Lâm hơn hai ngàn người cướp bóc trăm họ, đốt phá quan phủ, quận huyện phát binh thảo phạt, chém được thủ lĩnh, số còn lại đầu hàng. Do đó trí đặt tại Tượng Lâm quan Trưởng sử trông coi quân binh, đề phòng tai họa. Thời An đế năm Vĩnh sơ thứ nhất (năm 107), người Man Dạ Lang phía ngoài Cửu Chân lấy đất xin nội thuộc, mở rộng thêm biên giới 840 dặm. Năm Nguyên sơ thứ hai (năm 115), Man Di ở Thương Ngô lại làm phản, năm sau chiêu dụ được Uất Lâm, Hợp Phố, vừa Man vừa Hán mấy ngàn người đánh quận Thương Ngô. Đặng thái hậu sai Thị ngự sử Nhậm Trác phụng chiếu ân xá, giặc đều đầu hàng và tan rã. Năm Diên quang thứ nhất (năm 122), phía ngoài Cửu Chân triều cống và xin nội thuộc. Đến Thuận đế năm Vĩnh kiến thứ sáu (năm 132), bên ngoài Nhật Nam Diệp Điều vương nhân tiện sai sứ giả đến tiến cống, hoàng đế ban cho Điều ấn vàng dây thao tía.

Năm Vĩnh hòa thứ hai (năm 137), bọn Khu Liên người Man Di ở ngoài Nhật Nam và Tượng Lâm vài ngàn mạng đánh huyện Tượng Lâm, đốt phá thành phủ, giết trưởng lại. Thứ sử Giao Chỉ bộ là Phàn Diễn phát binh hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân hơn vạn người đến cứu. Binh sĩ sợ đi xa, bèn làm phản, đánh dinh phủ. Hai quận tuy phản kích phá được, nhưng thế giặc lại lên cao. Lúc này Thị ngự sử Cổ Xương đi sứ ở Nhật Nam, liền tập hợp châu quận chống đỡ, nhưng gặp bất lợi, bị tấn công nguy khốn. Quân Hán bị bủa vây hơn một năm, cạn nguồn lương thực, nhà vua rất ưu phiền. Năm sau, vua triệu các công khanh và trăm quan, cùng bốn phủ giúp việc để hỏi sách lược, mọi người đều đề nghị sai đại tướng, phát binh Kinh Châu, Dương Châu, Duyện Châu, Dự Châu, đem bốn vạn người đi đánh. Đại tướng quân kiêm trung lang Lý Cố phản đối: “Nếu Kinh Châu và Dương Châu vô sự, thì có thể phát binh. Ở hai châu ấy đạo tặc liên kết, không phân tán, Vũ Lăng và Nam Quận người Man Di vẫn chưa tụ tập lại mà thôi; Trường Sa và Quế Dương nếu bị trưng binh nhiều, tất sẽ động loạn. Đó là cái không thể thứ nhất. Còn Duyện Châu và Dự Châu nếu bắt lính, viễn chinh ngàn dặm, dễ đi khó về, lệnh vua thúc ép, tất sẽ xảy ra tình trạng nổi loạn hoặc trốn tránh. Đó là cái không thể thứ hai. Phương nam thủy thổ nóng bức, lại thêm lam sơn chướng khí, quan binh có thể chết vì bệnh tật đến bốn năm phần. Đó là cái không thể thứ ba. Băng qua ngàn dặm, sĩ tốt mệt nhọc vất vả, đi đến Lĩnh Nam, không hồi phục được thì khó chiến đấu. Đó là cái không thể thứ tư. Hành quân 30 dặm một ngày, từ đây đến Nhật Nam hơn 9000 dặm, ba trăm ngày mới tới, cứ tính một người ăn năm thăng, sẽ cần 60 vạn hộc gạo, chưa kể thức ăn của lừa ngựa và cho rằng quân trang tự túc, chi phí đã nhiều như thế. Đó là cái không thể thứ năm. Giả sử quân đến nơi, tử vong sẽ rất nhiều, rồi không đủ chống chọi, lại phải phát binh cứu viện, như vậy là xẻo gọt ruột gan để đắp sửa tay chân. Đó là cái không thể thứ sáu. Cửu Chân và Nhật Nam cách nhau ngàn dặm, nên bảo họ lấy dân chúng quan lại ở đấy đi đánh, sao không coi sóc đảm đương nổi, mà lại làm khổ quan quân bốn châu, bắt người ta vượt qua vạn dặm hiểm nguy. Đó là cái không thể thứ bảy. Trước đây Trung lang tướng Doãn Tựu dẹp được người Khương làm phản ở Ích Châu, bảo rằng ngạn ngữ ở đấy có câu: “Giặc đến có thể chống, Doãn đến lại giết ta”, sau đó Doãn Tựu trở về, giao phó quân lính cho Thứ sử Trương Kiều. Kiều dựa vào quan binh sở tại, chẳng bao lâu phá tiệt giặc cướp. Do đó phát đại quân thì không hiệu quả, các châu quận có thể đảm trách là việc đã từng chứng nghiệm. Điều thích hợp nên làm là tuyển người hữu dũng mưu lược và nhân ái, ủy phái đến cầm quân, nhận chức thứ sử, thái thú, tất cả xuống trú đóng ở Giao Chỉ bộ. Bây giờ ở Nhật Nam lính yếu và ít, lại không có gạo ăn, phòng thủ không được, thiếu khả năng chiến đấu. Nhất thiết nên rút quan lính và dân lên phía bắc, dựa vào Giao Chỉ, sau này yên ổn, sẽ ra lệnh quay trở về. Lại tuyển mộ người bản địa, sai chúng đánh lẫn nhau, cung cấp tiền bạc lụa là cho chúng tiêu dùng. Cố gắng dùng phản gián chiêu dụ thủ lĩnh người Man, hứa hậu thưởng phong hầu cấp đất. Nguyên Tịnh Châu thứ sử người Trường Sa tên là Chúc Lương, tính tình dũng mãnh quả quyết, thêm Trương Kiều người Nam Dương, trước đó đã có công phá giặc ở Ích Châu, đều có thể tin dùng. Trước đây Thái tông khôi phục chức thái thú Vân Trung cho Ngụy Thượng, Ai đế cử người đến nhà Cung Xá bái kiến rồi trao cho y chức thái thú Thái Sơn. Có lẽ nên làm như thế với bọn Chúc Lương, là cách tiện lợi nhất.” Tứ phủ đều đồng ý với nghị luận vững vàng ấy, liền bái Chúc Lương làm thái thú Cửu Chân, Trương Kiều làm thứ sử Giao Chỉ bộ. Kiều đến nơi, khuyên nhủ vỗ về, tất cả đều đầu hàng giải tán. Lương đến Cửu Chân, một mình đi vào giữa đám giặc, dùng mưu lược, chiêu dụ Man Di bằng uy tín, số đầu hàng đến mấy vạn người, tất cả vì Chúc Lương mà bắt đầu xây dựng lại phủ dinh. Nhờ thế Lĩnh ngoại vãn hồi bình yên.

Năm Kiến khang thứ nhất (năm 144), hơn một ngàn người Man Di Nhật Nam lại tấn công đốt phá huyện ấp, tiếp theo đánh động Man Di Cửu Chân, cùng nhau liên kết đánh phá. Thứ sử Giao Chỉ bộ tên Hạ Phương người Cửu Giang khai ân chiêu dụ, giặc đều hàng phục. Thời Lương thái hậu nghe chầu, hài lòng với công lao của Hạ Phương, cho dời đến làm thái thú Quế Dương. Thời Hoàn đế năm Vĩnh thọ thứ ba (năm 157), quan huyện Cư Phong tham bạo vô độ, người trong huyện là bọn Chu Đạt cùng Man Di tụ họp, đánh giết huyện lệnh, bốn năm ngàn người sau đó tấn công Cửu Chân, thái thú Cửu Chân là Nhi Thức tử trận. Triều đình ban cho sáu mươi vạn tiền tử tuất, cho hai con của Thức làm chức quan nhỏ. Sai Cửu Chân đô úy là Ngụy Lãng thảo phạt phá được, chém hai ngàn thủ cấp, cừ soái Do Tuân chiếm cứ Nhật Nam, chúng đảng phát triển cường thịnh. Năm Diên hi thứ ba (năm 161), chiếu chỉ lại bái Hạ Phương làm thứ sử Giao Chỉ bộ. Uy danh và lòng nhân ái của Phương vốn rõ ràng, người Nhật Nam đã nghe được, hơn hai vạn người gồm cả tướng súy đến yết kiến Phương xin hàng. Đời Linh đế năm Kiến ninh thứ ba (năm 170), thái thú Uất Lâm là Cốc Vĩnh dùng ân tín chiêu hàng người Ô Hử hơn mười vạn nội thuộc, tất cả (thủ lĩnh) đều nhận quan tước, khai mở thêm bảy huyện. Mùa đông tháng mười hai năm Hi bình thứ hai (năm 173), có nước ở phía ngoài Nhật Nam qua phiên dịch đến chầu cống. Năm Quang hòa thứ nhất (năm 178), người Ô Hử ở quận Giao Chỉ và Hợp Phố nổi dậy, chiêu dụ thêm Cửu Chân và Nhật Nam, được mấy vạn người đánh phá quận huyện. Năm thứ tư (181), thứ sử Chu Tuấn phá được. Năm 183 nước bên ngoài Nhật Nam lại đến triều cống.

3. Vùng Tứ Xuyên.

Người Man ở Ba quận và Nam quận vốn có năm họ tộc: họ Ba, họ Phiên, họ Thẩm, họ Tương và họ Trịnh. Đều có gốc tích từ Vũ Lạc núi Chung Li. Núi này có hai hang là đỏ và đen, con cháu họ Ba sinh ở hang đỏ, con cháu bốn họ còn lại sinh tại hang đen. Lúc chưa có quân trưởng thì họ đều phụng sự quỷ thần, bèn cùng nhau ném kiếm vào hang đá, hẹn ước ai ném được vào giữa hang, sẽ tôn làm quân trưởng. Chỉ có con cháu họ Ba là Vụ Tương ném kiếm đến giữa hang, mọi người khen ngợi. Lại ra lệnh nặn thuyền bằng bùn đất, hẹn rằng nếu thuyền nổi được trên nước, đương nhiên trở thành tù trưởng. Thuyền của các họ khác đều chìm cả, chỉ có mỗi thuyền của Vụ Tương là nổi. Mọi người đồng ý lập Vụ Tương làm quốc quân, chính là Lẫm quân. Lẫm quân cưỡi thuyền đất, theo sông Di đến Diêm Dương. Nữ thần ở Diêm Dương gọi Lẫm quân đến nói: “Đất này to lớn, là nơi có cá và muối, mong người ở lại chung hưởng.” Lẫm quân không đồng ý. Thần muối cứ chiều tối liền tìm đến chỗ nghỉ, đến sáng biến thành côn trùng, cùng những loài khác bay lượn, che lấp ánh sáng ban ngày, trời đất tối tăm mù mịt. Liên tục hơn mười ngày, Lẫm quân chọn lúc thuận tiện, thừa dịp bắn cung giết chết thần muối, trời sáng trở lại. Lẫm quân ở tại Di Thành, bốn họ khác đều xưng thần dân. Lẫm quân chết, hồn phách nhập vào hổ trắng. Người họ Ba cho hổ uống máu người, dùng người sống hiến tế Lẫm quân.

Đến thời Tần Huệ vương (338 BC – 311 BC), thôn tính đất Ba, dùng họ Ba làm quân trưởng Man Di, nhiều đời chuộng lấy vợ là người Tần, các tước vị trong dân chúng không đổi, có tội thì dùng chức tước miễn trừ. Quân trưởng hằng năm được giao cho 2.016 đồng tiền thuế, mỗi ba năm một lần lại xuất thưởng thêm 1.800 đồng. Mỗi hộ dân nộp thuế bằng (giá trị) vải gai dài tám trượng hai xích, lông chim trĩ ba mươi cân. Từ lúc nhà Hán lên, Nam quận thái thú Cận Cường xin được nộp thuế y như thời Tần.

Đến năm Kiến vũ hai mươi ba (năm 37) bọn Lậu Sơn, Man Lôi Thiên ở Nam quận bắt đầu làm phản, cướp bóc trăm họ, triều đình sai Vũ uy tướng quân Lưu Thượng đánh phá được, dời hơn bảy ngàn người xuống vùng tiếp giáp với hạ lưu Trường Giang, nay là vùng Miện Trung của người Man vậy. Thời Hòa đế, năm Vĩnh nguyên mười ba (năm 101), bọn đồng cốt Hứa Thánh nại việc quận phủ thu thuế không công bằng, ôm oán hận, tụ tập làm phản. Mùa hạ năm sau, sai sứ giả đốc thúc các quận Kinh Châu hơn vạn người đánh dẹp. Bọn Hứa Thánh dựa vào địa thế hiểm trở chống cự, mãi không phá được. Các cánh quân bèn chia đường cùng tiến, từ Ba quận phục kích tấn công nhiều nơi, người Man bèn bỏ chạy, chém được thủ lĩnh, thừa thắng truy đuổi, đại phá bọn Hứa Thánh. Bọn chúng xin hàng, lại đem tất cả dời xuống hạ lưu Trường Giang. Thời Linh đế, năm Kiến ninh thứ hai (năm 167), người Man miền hạ lưu Trường Giang lại làm phản, châu quận thảo phạt bình được. Năm Quang hòa thứ ba (năm 180), người Man hạ lưu Trường Giang lại nổi dậy, cùng giặc Hoàng Nhương ở Lư Giang liên kết với nhau, hơn mười vạn người, đánh chiếm bốn huyện, cướp phá mấy năm. Thái thú Lư Giang là Lục Khang dẹp được, tàn quân đầu hàng giải tán.

Ở Bản Thuẫn xứ Man Di, thời Tần Chiêu tương vương (307 BC – 250 BC) có một con hổ trắng, thường dẫn cả đàn hổ đi vào biên cảnh nước Tần, quận Thục, quận Ba và quận Hán làm hại hơn ngàn người. Chiêu vương bèn tuyển mộ người trong nước có khả năng giết hổ, hứa thưởng ấp vạn nhà, vàng trăm lạng. Lúc này có người Di ở Lãng Trung thuộc Ba quận biết làm nỏ bằng bạch trúc, bèn lên lầu thành bắn chết hổ trắng. Chiêu vương khen ngợi, nhưng vì kẻ giết hổ là người Di, không muốn phong thưởng, bèn khắc đá làm tin, trả ơn người Di bằng cách không thu tô ruộng nương, cưới mười vợ cũng không tính, đánh người không tội, sát nhân có thể dùng tiền mà chuộc. Trên đá viết minh ước: “Tần mà xâm phạm Di, sẽ mất một đôi rồng vàng; Di mà phạm Tần, phạt một vò rượu trong suốt”. Từ đó người Di yên ổn.

Đến khi Cao tổ làm Hán vương, phát động người Di quay qua đánh Tam Tần. Đất Tần yên định rồi, bèn sai người Di trở lại đất Ba, miễn cho các thủ lĩnh bẩy họ La, Phác, Đốc, Ngạc, Độ, Tịch, Cung, không thu tô thuế, các hộ khác mỗi năm đều phải nộp thuế, một nhân khẩu 40 đồng. Các đời đều xưng Bản Thuẫn Man Di. Đất Lãng Trung có sông Du, dân chúng cư ngụ ở hai bờ. Người ở đấy tính tình hồn nhiên, cứng cáp mạnh mẽ, ban đầu là tiền phương nhà Hán, nhiều lần xông pha chiến trận. Phong tục chuộng ca vũ vui vẻ, Cao tổ thưởng thức, nói rằng: “Đây là bài ca Vũ vương phạt Trụ”. Bèn ra lệnh nhạc công tập luyện, gọi là khúc “Ba Du vũ”. Người ở đây đời đời phục tùng nhà Hán.

Tới Hán trung hưng, quận thú thường mang quân đi chinh phạt. Đời Hoàn đế, Bản Thuẫn làm phản, thái thú Thục quận Triệu Ôn dùng ân tín hàng phục được. Thời Linh đế, năm Quang hòa thứ ba (năm 180), người Bản Thuẫn ở Ba Thục nổi dậy, cướp phá ba quận đất Thục và Hán Trung. Linh đế sai Ngự sử trung thừa Tiêu Viện đốc thúc binh lính Ích Châu thảo phạt, mấy năm không khắc chế được. Vua muốn phát đại binh, bèn hỏi quan tham mưu Ích Châu, tìm hiểu chiến lược chinh chiến. Trình Bao mưu sĩ Hán Trung nói: “Bản Thuẫn có bảy họ, giết bạch hổ lập công, các đời trước tín nghĩa thuần phục. Người ở đó dũng mãnh, quân sĩ thiện chiến, xưa năm Vĩnh sơ, người Khương xâm nhập đất Hán, quận huyện bị phá hoại, được Bản Thuẫn cứu giúp, quân Khương bị giết gần hết, nên gọi lính Bản Thuẫn là thần binh. Người Khương oán ghét, kêu gọi đồng đảng, đừng tiến xuống phía nam. Đến năm Kiến hòa thứ hai (năm 148), người Khương lại cử đại quân xâm nhập, vẫn nhờ Bản Thuẫn bẻ gãy đánh tan. Trước đây Xa kỵ tướng quân Phùng Cổn nam chinh Vũ Lăng, tuy có tinh binh Đan Dương tinh nhuệ, cũng phải dựa vào Bản Thuẫn mới thành công. Gần đây quận Ích Châu lại loạn, thái thú Lý Ngung cũng nhờ Bản Thuẫn để bình định. Công lao trung thành như thế, họ không có ác tâm. Trưởng lại hương chức càng ngày càng thu tô thuế nặng nề, sưu dịch đòn roi khổ sở, còn hơn tù binh nô lệ, lại phải bán vợ đợ con, hoặc bèn tự sát. Tuy có đến châu quận kêu oán, bọn thú mục không đáp ứng. Triều đình xa xôi, không thể nghe thấy. Ngậm hờn oán kêu với trời cao, khấu đầu vỗ ngực bất lực nơi hang cùng ngõ hẻm. Sầu khổ vì tô thuế sưu dịch, nhọc nhằn âu lo hình phạt tàn khốc. Đó là nguyên nhân thôn xóm tụ họp, phản kháng bất công. Họ không có chủ mưu lập quốc xưng vương, chỉ suy tính trần tình. Giờ nên tuyển quan lại sáng suốt, tự nhiên sẽ an bình, chẳng phải lo lắng chinh phạt.” Vua thuận theo lời ấy, sai thái thú Tào Khiêm tuyên chiếu xá tội, lập tức tất cả hàng phục. Đến năm Trung bình thứ năm (năm 188), ở quận Ba có giặc khăn vàng nổi lên, Bản Thuẫn Man Di nhân đó làm phản, cướp phá thành ấp, sai Tây viên thượng quân biệt bộ tư mã Triệu Cẩn trừ được.

4. Khu vực giáp giới giữa Hồ Nam và Quý Châu đến Côn Minh và miền nam Vân Nam.

Người Man Di vùng tây nam, ở về phía ngoài Thục quận. Có nước Dạ Lang, phía đông giáp Giao Chỉ, phía tây có nước Điền, phía bắc có nước Cung Đô, mỗi xứ đều lập quân trưởng (tù trưởng). Người ở đây búi tóc, vạt áo hướng về bên trái, tụ họp cư ngụ thành làng, chăm chỉ làm ruộng. Phía ngoài còn có bộ tộc Tây, thuộc về các bộ tộc Côn Minh, cực tây có Đồng Sư, đông bắc đến Diệp Du, đất vuông vài ngàn dặm. Những nơi ấy không có tù trưởng, người ta tết bím tóc, du cư theo đàn gia súc. Đông bắc nước Tây có nước Tạc Đô, đông bắc Tạc Đô là nước Nhiễm Mang, nửa định cư, nửa du cư theo đàn gia súc. Đông bắc Nhiễm Mang có nước Bạch Mã của chủng người Để. Ba nước vừa kể không có tù trưởng.

Nước Dạ Lang, xưa kia có một nữ nhân đứng giặt bên sông Độn, bỗng một đoạn tre lớn ba đốt trôi vào giữa hai chân, nghe thấy trong thân tre tiếng khóc, cô gái liền bổ tre làm đôi, được một hài nhi nam, bèn đem về nuôi dưỡng. Khi đứa bé trưởng thành, vừa trí tuệ vừa mạnh mẽ, tự lập làm Dạ Lang hầu, lấy chữ Trúc làm họ. Thời Vũ đế, năm Nguyên đỉnh thứ 6 (111 BC), bình định nam Di, đặt làm Tang Kha quận, Dạ Lang hầu đầu hàng, vua cấp cho vương ấn đeo cổ. Sau này cuối cùng Dạ Lang vương cũng bị giết. Các bô lão đều biết Trúc vương không được sinh ra bởi khí huyết thường nhân, nên rất kính trọng, cầu xin lập thừa tự. Tang Kha thái thú là Bá nghe được về bẩm báo, triều đình bèn phong đứa con thứ ba của Trúc vương tước hầu. Sau khi vị hầu này chết, cùng cha được cúng tế như thần thánh. Ngày nay trong huyện Dạ Lang vẫn tồn tại tục thờ Trúc vương tam lang thần.

Sơ khởi, thời Sở khoảnh tương vương (298 BC – 263 BC), sai tướng Trang Hào đi theo sông Nguyên chinh phạt Dạ Lang, khi quân đến vùng Thả Lan, buộc thuyền vào bờ rồi lên bộ đánh nhau. Dạ Lang bị diệt, Dạ Lang vương lưu vong đến Điền Trì. Bởi xứ Thả Lan là nơi có cọc buộc thuyền (tiếng Hán là Tang Kha), bèn đổi địa danh đất này thành Tang Kha. Đất Tang Kha nhiều mưa, phong tục chuộng đồng cốt quỷ thần, nhiều điều cấm kỵ, không biết chăn nuôi, cũng không trồng dâu dưỡng tằm, do đó người ở đây rất nghèo. Huyện Cú Đinh có loài cây Quang lang, trong lõi có phấn vàng có thể dùng làm trang sức, sinh kế của trăm họ là khai thác Quang lang. Thời Công Tôn Thuật cát cứ xưng đế (Tại Ích Châu năm 25 đến 36 Công nguyên), các họ lớn là Long, Phó, Duẫn, Đổng, cùng quận công Tào Tạ Xiêm bảo vệ biên cảnh nhà Hán, sai sứ theo sông Phiên Ngu triều cống. Hán Quang vũ đế khen ngợi, rồi hậu thưởng. Đến thời Hoàn đế (năm 147 đến 167), người trong quận là Duẫn Trân tự cho rằng mình vốn sinh trưởng nơi xa xôi hẻo lánh, không hiểu lễ nghĩa, bèn đi theo người Nhữ Nam là Hứa Thận, tiếp nhận kinh sách Khổng gia, học xong trở về nguyên quán dạy dỗ, từ đó vùng đất phía nam mới bắt đầu có sự học vậy. Duẫn Trân làm quan đến chức thứ sử Kinh Châu.

Điền vương là hậu duệ Trang Kiểu. Năm nguyên phong thứ hai (109 BC), Vũ đế bình định xong miền tây nam, lấy đất này làm quận Ích Châu, chia Tang Kha, Việt Tây lấy một số huyện gộp vào Ích Châu. Sau đó vài năm, thu phục được đất Côn Minh, đều gộp vào quận Ích Châu. Ở Côn Minh có một cái hồ chu vi hơn hai trăm dặm, đầu hồ rộng và sâu, phía cuối càng ngày càng nông và hẹp, dòng chảy tự đổi hướng (có lẽ theo mùa gió và mưa), do đó gọi là Điền Trì. Xứ này đất đai bằng phẳng rộng rãi, xuất về Trung Quốc nhiều chim vẹt và chim công, có cả hồ nước mặn, nông nghiệp và ngư nghiệp phát đạt, vàng bạc và súc sản phong phú. Phong tục hào hiệp xa hoa. Quan lại đều giàu có nhiều đời.

Đến loạn Vương Mãng, bọn người Di quận Ích Châu là Đống Tàm và Nhược Đậu khởi binh giết quận thú, bọn Đại Mưu người Cô Phục ở Việt Tây cũng đều làm phản, giết quan lại. Vương Mãng sai Ninh thủy tướng quân Liêm Đan, phát động quan quân Ba và Thục, cùng binh tốt tải lương bộ hành hơn mười vạn tấn công. Quân binh đói và mắc dịch bệnh, mấy năm không thắng được. Bèn lấy người Hán quảng là Văn Tề làm thái thú, đắp bờ ngăn nước ở triền núi, khai nguồn tưới tiêu, khai khẩn hơn hai ngàn khoảnh ruộng. Tề dẫn theo binh mã dùng mãnh, tu sửa thành quách những nơi hiểm trở, khuất phục các nhóm người Di, cuối cùng vãn hồi hòa hợp. Đến khi Công Tôn Thuật cát cứ Ích Châu, Văn Tề cố thủ những chỗ hiểm yếu, Thuật bắt giữ vợ con Tề, hứa phong Tề chức hầu, Tề cũng không chịu đầu hàng. Khi nghe tin Hán Quang vũ lên ngôi, Tề sai người tìm đường về kinh báo cáo. Sau khi bình định xong đất Thục, cho Văn Tề làm Trấn viễn tướng quân, tước Nghĩa hầu. Sau này Văn Tề mất đi, vua ra chiếu khởi xây từ đường, người trong quận lập miếu thờ tự.

Năm Kiến vũ thứ mười tám (năm 42), thủ lĩnh người Di Đống Tàm cùng các bộ tộc Cô Phục, Điệp Du, Kiều Đống, Liên Nhiên, Điền Trì, Kiến Liên, Côn Minh làm phản, giết trưởng lại. Thái thú Ích Châu Phồn Thắng nghinh chiến nhưng thất bại, lùi về trấn giữ Chu Đề. Năm sau, sai Vũ uy tướng quân Lưu Thượng phát binh quận Quảng Hán, Kiền Vi và Thục đến vùng Chu Đề của người Di, hợp quân thành một vạn ba ngàn người phản kích. Quân của Thượng vượt sông Lô, vào địa giới Ích Châu. Bọn người Di nghe đại binh đến, vứt vũ khí bỏ chạy, Thượng chỉ bắt được những quân Man gầy yếu và lương thảo, gia súc. Năm thứ hai mươi (năm 44), tiến quân đánh nhau với bọn Đống Tàm, liên tục mấy tháng, đều phá được. Tháng một năm sau, truy đuổi đến huyện Bất Vi, chém thủ lĩnh Đống Tàm, giết hơn bảy ngàn quân Di, bắt sống năm ngàn bảy trăm người và ba trăm con ngựa, hơn ba vạn bò và dê, các bộ tộc người Di bị bình định hoàn toàn.

5. Quay lại vùng Tứ Xuyên, đông Tây Tạng.

Thời Túc tông, những năm Nguyên hòa (năm 84 đến 87), Vương Truy là thái thú quận Thục, chính trị và giáo hóa kì lạ khác thường, có bốn mươi bẩy con ngựa thần xuất hiện ở Hà Trung, Điền Trì, sương ngọt rơi xuống, xuất hiện ngựa trắng, Vương Truy bắt đầu lập ra học hiệu, dần dần cải biến phong tục. Thời Linh đế năm Hy bình thứ năm (năm 176), các tộc Di nổi loạn, bắt thái thú Ung Trắc. Sai Ngự sử trung thừa Chu Quy thảo phạt, nhưng không khống chế được. Hán triều thương nghị rằng những quận Man Di ngoài biên giới, người bản địa hay làm phản, quân đội phải lao dịch xa xôi khổ cực, hay là bỏ đi vậy. Thái úy người huyện Duyện quận Ba là Lý Ngung đưa ra kế sách thảo phạt, bèn bái Ngung làm thái thú Ích Châu, cùng thứ sử Bàng Chi phát động người Man Bản Thuẫn tấn công phá được, giải thoát Ung Trắc. Sau này Ngung chết, người Di lại phản, dùng Cảnh Nghị người Quảng Hán làm thái thú, bình định được. Lúc Nghị mới đến quận, một hộc gạo được bán cả vạn đồng, dần dần dùng nhân đức sửa trị, sau vài năm, một hộc gạo giá chỉ còn vài chục đồng.

Người Di Ai Lao, tổ tiên là một nữ nhân tên Sa Nhất, sống ở vùng núi Lao. Nàng thường đánh bắt cá trong suối, ngày nọ chạm vào một gốc cây trầm hương bỗng động lòng, nhân đó mang thai, mười tháng sau sinh được mười con trai. Sau đó cây trầm kia biến thành con rồng, bay khỏi dòng suối. Sa Nhất chợt nghe tiếng rồng nói: “Nàng vì ta mà sanh hạ con cái, hiện chúng ở đâu rồi?” Chín đứa con thấy rồng sợ hãi chạy mất, chỉ đứa nhỏ nhất thì không, nó ngồi (tọa) lên vai rồng (long bối), rồng nhân đó dùng lưỡi liếm con mình. Người mẹ vốn nói ngôn ngữ của loài chim, gọi “bối” là “cửu”, “tọa” là “long” do đó gọi tên con là Cửu Long (ngồi trên vai). Sau này trưởng thành, các anh trai thấy Cửu Long tài giỏi thông tuệ bởi đã được cha rồng liếm vào người, bèn cùng nhau nhường cho ngôi vương. Dưới núi Lao có một đôi vợ chồng, lại sinh mười người con gái, anh em nhà Cửu Long cùng cưới làm vợ, sau dần dần sinh sôi nảy nở đông đúc. Tộc người này có tục xăm mình, thể hiện hình tượng con rồng, quần áo cũng đính đuôi rồng. Con của Cửu Long, đời đời tiếp nối. Bèn phân đặt tiểu vương, cấp cho làng ấp sinh sống, phân tán ra nhiều nhánh suối thung lũng. Ai Lao là vùng đất hoang sơ tận cùng phía ngoài, sông núi thâm sâu cách trở, ít người lai vãng, chưa từng thông giao với Trung Quốc.

Năm Kiến vũ thứ hai mươi ba (năm 47), Ai Lao vương Hiền Lật khiển binh cưỡi bè kết bằng gỗ và tre xuôi xuống phía nam trên sông Trường Giang và sông Hán, đánh vào biên giới bộ tộc Lộc Kỵ người Di. Người Lộc Kỵ yếu nhược, vì thế bị bắt giữ. Bỗng nhiên sấm chớp mưa giông dữ dội, gió nam cuốn thổi, sông ngòi đảo dòng, hơn hai trăm dặm Trường Giang nổi sóng cồn, bè mảng chìm hết, người Ai Lao chết đuối mấy ngàn mạng. Hiền Lật lại sai sáu vương gia cùng cả vạn quân đánh Lộc Kỵ một lần nữa, Lộc Kỵ vương nghênh chiến, giết được sáu vị vương. Các già làng Ai Lao mai táng sáu vị vương này, nhưng đêm đến hổ xuất hiện ăn hết tử thi, mọi người hoảng sợ dẫn quân về nước. Hiền Lật kinh hoàng, gọi các kỳ lão đến nói: “Bọn ta xâm nhập biên giới, từ xưa đến nay mới có chuyện ấy, nay đánh Lộc Kỵ, lần nào cũng bị trời phạt, Trung Quốc có thánh đế chăng? Trời giúp như thế, nay đã rõ rồi.” Năm thứ hai mươi bảy (năm 51), bọn Hiền Lật bèn đem 2.770 hộ, 11.659 khẩu đến yết kiến đầu hàng thái thú Việt Tây là Trịnh Hồng, xin nội thuộc. Hán Quang vũ phong Hiền Lật làm quân trưởng, từ đó hằng năm vào triều cống.

Hiển tông, năm Vĩnh bình thứ mười hai (năm 70), Ai Lao vương Liễu Mạo sai con đem dân chúng nội thuộc, có tất cả 77 ấp vương, 51.890 hộ, 553.711 khẩu. Trung Quốc giờ đây từ miền tây nam đến Lạc Dương rộng bảy ngàn dặm, thời Hiển tông trí đặt hai huyện Ai Lao và Bác Nam, phân đô úy tây bộ quận Ích Châu lĩnh quản sáu huyện, nhập vào quận Vĩnh Xương. Đường thủy thông đến núi Bác Nam, qua sông Lan Thương (đầu nguồn sông Mekong ngày nay), đi lại rất cực khổ. Có bài hát viết rằng: “Đức nhà Hán bao la, khai mở quốc gia đến cả những kẻ không thần phục. Trải đến tận núi Bác Nam, bến Việt Lan. Qua dòng Lan Thương, mới là đất của người khác.”

Người Ai Lao đều xuyên mũi và căng tai, thủ lĩnh tự xưng là vương, thùy tai rũ xuống ba thốn (~10cm), dân thường thùy tai dài chấm vai. Đất đai màu mỡ tươi đẹp, thích hợp với ngũ cốc, trồng dâu nuôi tằm. Họ biết nhuộm vải thêu hoa, biết dùng lông thú làm len cũng như dệt vải từ cây bông, từ đó tạo thành sợi “lan can” và vải gai nhuyễn mịn, dệt nên loại gấm lụa có hoa văn. Xứ này có cây hoa ngô đồng, xe đánh và dệt thành vải, khổ năm thước, trắng ngần không một vết ố bẩn. Trước đây dùng vải này khâm liệm người chết, tuy nhiên về sau cũng dùng may y phục. Ở đây có loại tre đốt dài một trượng, gọi là bộc trúc. Có mỏ quặng sản xuất đồng, sắt, chì, thiếc, vàng, bạc, đá dạ quang, hổ phách, thủy tinh, ngọc lưu li, con trai, con sò, chim công, bích ngọc, tê giác, voi, khỉ vượn, mạch thú (gấu trúc?). Ở huyện Vân Nam có con nai thần hai đầu, ăn được cỏ độc.

Đầu tiên, tây bộ đô úy người Quảng Hán là Trịnh Thuần thực hành chính trị thanh khiết, triển khai giáo hóa người Di, các tù trưởng cảm mến, đều hiến tặng của ngon vật lạ trong xứ, ca tụng công đức. Nhà vua khen ngợi, liền phong chức thái thú Vĩnh Xương. Trịnh Thuần cùng người Ai Lao thỏa thuận, trưởng làng mỗi năm thu mỗi đầu người hai súc vải, một hộc muối, đây là thuế định kỳ, đã trở thành thông tục và làm hài lòng Di dân. Trịnh Thuần đảm nhận chức đô úy và thái thú được mười năm thì mất. Năm Kiến sơ thứ nhất (năm 76), Ai Lao vương Loại Lao tranh chấp dữ dội với quan huyện, rồi giết quan huyện làm phản, đánh Đường Thành ở Việt Tây. Thái thú Vương Tầm chạy trốn đến Điệp Du. Hơn ba ngàn người Ai Lao đánh phá Bác Nam, đốt phá nhà cửa của dân chúng. Túc tông chiêu mộ và phát binh Việt Tây, Ích Châu, Vĩnh Xương gồm cả người Hán và người Di được 9000 quân đi thảo phạt. Mùa xuân năm sau, người Di Côn Minh là bọn Lỗ Thừa ở huyện Tà Long hưởng ứng, đem người theo quân lính các quận tấn công Loại Lao tại Bác Nam, đại phá và giết được. Đầu Loại Lao được chuyển về Lạc Dương báo công, vua thưởng Lỗ Thừa một vạn xấp vải, tấn phong làm Phá lỗ bàng ấp hầu.

Năm Vĩnh nguyên thứ sáu (năm 94), ở vùng đất phía ngoài quận Vĩnh Xương có vua Đôn Nhẫn Ất tên Mạc Diên hâm mộ nhà Hán, sai sứ thông dịch tiến cống tê giác và voi lớn. Năm thứ chín, vua nước Man Cập Đạn tên Ung Do sai sứ thông dịch dâng lên những thứ quý báu của xứ mình, Hòa đế cấp cho ấn vàng dây đeo tía, các tiểu tù trưởng cũng được ấn đeo cổ, tiền bạc, lụa là.

Năm Vĩnh sơ thứ nhất (năm 107), bọn Lục Loại thuộc giống người Di Tiêu Nghiêu ngoài biên giới, hơn ba ngàn người xin nội thuộc, cống ngà voi, trâu, bò. Năm Vĩnh ninh thứ nhất (năm 120), vua nước Đạn là Ung Do Điều sai sứ giả đến viếng thăm triều đình, hát tặng các nhạc phẩm và biểu diễn ảo thuật, phun lửa từ miệng, tự chặt chân tay, biến đầu trâu bò thành đầu ngựa. Lại còn nhảy nhót xoay tròn cả thân người, liên tục đến ngàn vòng. Họ nói họ là người ở vùng biển phía tây. Hải tây tức là biển phía tây đại Tần, Đạn quốc thông nối với tây nam đại Tần. Năm sau vào dịp tết Nguyên đán, An đế sáng tác nhạc cung đình, phong Ung Do Điều làm Đại đô úy nhà Hán, ban ấn đeo cổ, vàng bạc, tơ lụa nhiều màu nhiều loại khác nhau.

Người Di Cung Đô, Vũ đế khai mở, đặt làm huyện Cung Đô. Chẳng bao lâu sau đất ấy sụt lún (động đất?) thành một vùng đầm lầy dơ bẩn, nhân đó gọi là Cung Trì, người phía nam xưng là Cung Hà. Sau này người Di Cung Đô lại nổi dậy. Năm Nguyên đỉnh thứ sáu (111 BC), Hán binh từ Việt Tây theo đường thủy chinh phạt, lập thành Việt Tây quận. Đất đai ở đây bằng phẳng, có ruộng lúa gié. Núi Ngu Đồng huyện Thanh Linh có gà xanh, ngựa vàng, bộ lông lấp lánh, hay xuất hiện. Phong tục nơi này phóng đãng, con người hay ca hát vui vẻ, đại khái giống như quận Tang Kha. Thủ lĩnh phóng túng, khó chế ngự.

Thời Vương Mãng, quận thú Mai Căn điều người Cung là Trường Quý làm hậu quân. Năm Canh thủy thứ hai (năm 25), Trường Quý mang theo người của mình tấn công giết Mai Căn, tự lập làm Cung Cốc vương, nhận lĩnh công việc của thái thú. Sau lại đầu hàng Công Tôn Thuật. Thuật thất bại, Hán Quang vũ phong Trường Quý làm Cung Cốc vương. Năm Kiến vũ thứ mười bốn (năm 38), Trường Quý ba năm sai sứ thượng triều một lần, vua cấp cho ấn thụ Việt Tây thái thú. Năm thứ mười chín (năm 42), Uy vũ tướng quân Lưu Thượng đánh người Di ở Ích Châu, đi qua Việt Tây. Trường Quý nghe được, nghi ngờ Thượng sẽ bình định vùng biên giới phía nam, rồi thực hành uy pháp, không còn phóng túng được nữa, lập tức tụ tập khởi binh ở doanh trại, kêu gọi các tù trưởng, nấu nhiều rượu độc, chuốc say quân đội cực khổ của Lưu Thượng, sau đó tập kích. Thượng biết mưu, liền chia quân chiếm cứ Cung Đô, đánh giết được Trường Quý, dời cả gia tộc Trường Quý về Thành Đô.

Năm Vĩnh bình thứ nhất (năm 58), bộ tộc Cô Phục người Di lại nổi dậy, thứ sử Ích Châu phát binh phá được, chém thủ lĩnh, chuyển thủ cấp về kinh sư. Sau đó thái thú quận Ba là Trương Hấp áp dụng chính trị và giáo hóa thanh liêm trong sạch, được lòng người Di. Trương ở lại quận mười năm, khi chết người Di thương cảm, để tang như cha mẹ. Huyện Tô Kì gửi hơn hai trăm người đến, dùng tê giác và dê phúng điếu, rồi đưa thi thể vể nguyên quán ở huyện An Hán mai táng, đắp mả thờ cúng. Chiếu thư triều đình gửi xuống khen ngợi, cho lệnh lập từ đường.

Thời An đế năm Nguyên sơ thứ ba (năm 116), ngoài biên giới quận (Việt Tây), người Di Đại Dương, có tám bộ tộc, 31.000 hộ, 67.620 khẩu, xin nội thuộc. Đang lúc quận huyện thu được tô thuế rất nhiều, năm thứ năm (năm 118), bọn Phong Li của bộ tộc Quyển Di Đại Ngưu làm phản, giết đến chín viên quan cấp huyện. Năm sau người Di ở Vĩnh Xương, Ích Châu và Thục quận đều hưởng ứng, đông đến hơn mười vạn, phá hoại hơn mười hai huyện, giết trưởng lại, thiêu đốt làng ấp, cướp bóc trăm họ, xương cốt chất đống, ngàn dặm không còn một bóng người. Triều đình hạ chiếu sai thứ sử Trương Kiều tuyển mộ những người có khả năng đi thảo phạt. Kiều bèn sai tòng sự Dương Tủng đưa quân đến Điệp Du công kích, thế giặc mạnh không dám tiến lên, trước tiên dùng chiếu thư bố cáo cho ba quận rõ, bí mật trưng tập võ sĩ, treo giải thưởng rất cao. Sau đó mới tiến quân chiến đấu với bọn Phong Li, đại phá được, chém hơn ba vạn thủ cấp, bắt sống 1.500 người, của cải thu được hơn bốn ngàn vạn, thưởng hết cho quân sĩ. Bọn Phong Li hoảng sợ, chém đầu kẻ thủ lĩnh đồng mưu, cung kính đến xin hàng, Dương Tủng sau đó gia ân vỗ về thu nạp. Có tất cả ba mươi sáu bộ tộc đều đến hàng phục. Tủng lại tấu trình những trưởng lại tàn ác gian trá xâm hại người Man Di, có đến chín mươi người, đều bị tội chết. Trong châu đang luận công, chưa báo lên, thì Tủng bị mụt nhọt rồi chết, Trương Kiều đau khổ thống thiết, bèn khắc đá bài văn điếu ghi công tích, đồ họa di ảnh. Vua thấy họ Trương được người Di ái mộ, bèn bái con trai Kiều tên Thoan làm thái thú. Người Di vui mừng, kính cẩn nghênh đón ngoài đường. Họ nói: “Tướng mạo của ông đúng là giống phủ quan của chúng tôi rồi.” Nhưng sau này Thoan làm mất nhân tâm, có người muốn làm phản, bô lão người Di nói cho Thoan hiểu: “Hãy xem gương thái thú đời trước.” Cuối cùng được yên ổn. Sau này đến thời Thuận đế, Hoàn đế (125 đến 167), người Quảng Hán là Phùng Hạo làm thái thú, chánh trị giáo hóa lạ kỳ, có nhiều thành tích được ghi lại.

Xứ Di Tạc Đô, được Vũ đế khai mở, đặt làm Tạc Đô huyện. Người ở đây xõa tóc, xếp vạt áo về bên trái, có rất nhiều loại ngôn ngữ, tập tục giống người Di ở Vấn Sơn. Trong đất có thần dược trường sinh, núi tiên là chỗ có tiên ở. Năm Nguyên đỉnh thứ sáu (111 BC), đặt làm Trầm Lê quận. Đến năm Thiên hán thứ tư (97 BC), nhập vào tây bộ của quận Thục, đặt hai đô úy, một ở Mao Ngưu tuần xét ngoại Di. Một ở Thanh Y, quản lý người Hán.

Vào những năm Vĩnh bình (58 – 75), Ích Châu thứ sử người Lương quốc tên Chu Phụ, đại lược khẳng khái, rất vui thích lập công danh. Chu Phụ ở tại châu nhiều năm, tuyên truyền Hán đức, uy phục những tộc Di xa xôi. Từ Vấn Sơn đi về phía tây, đời trước không với tới, pháp luật Hán chưa được thi hành. Các vùng Bạch Lang, Bàn Mộc, Đường Thoàn có hơn trăm bộ tộc, hơn 310 vạn hộ, 600 vạn khẩu trở lên, cử người phụng cống xưng thần, Chu Phụ gửi sớ viết: “Thần nghe Kinh Thi nói rằng “Người ta đến với nhà Chu, vì biết Di nhân có thể được khai hóa.” Truyền thuyết cũng nói “Đến triều đình nhà Chu tuy ngàn dặm cách trở, nhưng người ta không thấy xa”. Điều thi nhân tụng ca, lấy làm chứng nghiệm. Ngày nay bọn Bạc Lang vương và Đường Thoàn hâm mộ văn hóa Hán, quay về với phép tắc, làm ba chương thơ. Đường về kinh qua núi lớn Cung Lai, mưa trên vách núi cao, chót vót khó khăn nguy hiểm khắc nghiệt, hàng trăm đường lộ phải vượt qua. Phụ nữ người già và trẻ con phải địu cõng như mẹ địu con mới qua được. Ngôn ngữ của người Di nơi xa thẳm này, ý và lời khó hợp chính tắc. Như thảo mộc khác loài, chim thú phân biệt vậy. Có viên quan phụ tá ở quận Kiền Vi là Điền Cung chịu khó luyện tập, rất thông hiểu, thần vẫn thường sai hỏi thăm phong tục, phiên dịch từ ngữ. Nay sai tòng sự sử Lý Lăng cùng Điền Cung hộ tống đoàn khách về kinh, dâng lên hoàng thượng nhạc và thơ. Dùng nhạc và vũ của tứ di, mô tả công tích các thánh đế; kính tặng nhà vua, hy vọng sự xếp đặt này là lần đầu tiên.” Vua khen ngợi, sai xuống sử quan chép lại lời ca.

[Không dịch 240 chữ trong hai bài thơ và một bài ca tán tụng nhà Hán. Nói chung văn ngôn xu nịnh, không có ý tứ hồn nhiên của những bộ tộc tây nam. Khả năng do quan Hán tự sáng tác để lấy lòng hoàng đế.]

Những năm đầu Túc tông, Chu Phụ gặp sự cố bị bãi quan chức. Lúc này các quận phủ huyện xá đều chạm khắc trang trí, vẽ thần núi thần sông kì cầm dị thú, mê hoặc người ta, người Di kiêng sợ e ngại. Hòa đế năm Vĩnh nguyên thứ mười hai (năm 100), xứ Mao Ngưu phía ngoài Bạch Lang cùng Lâu Bạc Man Di vương là bọn Đường và Tăng, đem 17 vạn người, xin nội thuộc. Vua xuống chiếu cấp ấn vàng dây đeo tía, tiểu thủ lĩnh được thưởng tiền và các loại lụa.

Thời An đế, năm Vĩnh sơ thứ nhất (năm 107), ba bộ tộc Di ở Thục quận giúp đỡ lẫn nhau, cùng bộ tộc ngoài biên giới là Ô Diễn, tụ tập hơn ba ngàn quân nổi dậy, đánh thành Tàm Lăng, giết trưởng quan. Năm sau, ấp trưởng Lệnh Điền của chủng Di Thanh Y, cùng ba tộc Di khác ngoài biên giới tổng cộng 11 vạn khẩu, cống tê giác, vàng bạc và bò lông dài (bò Tây Tạng), đem đất đai xin nội thuộc. An đế thăng chức Phụng thông ấp quân cho Lệnh Điền. Mùa xuân năm Diên quang thứ hai (năm 123), người Di Mao Ngưu làm phản, đánh các đồn ải, giết trưởng quan, Ích Châu thứ sử Trương Kiều cùng Tây bộ đô úy phản kích phá được. Từ đó phân đặt Thục quận thuộc đô úy triều đình, cai quản bốn huyện như thái thú. Thời Hoàn đế, năm Vĩnh thọ thứ hai (năm 156), người Di thục quận làm loạn, giết quan hại dân. Năm Diên hi thứ hai (năm 159), ba bộ tộc Di ở Thục quận cùng nhau cướp phá Tàm Lăng, giết trưởng quan. Năm thứ tư, người Di nội thuộc ở Kiền Vi cướp phá biên giới của quận, Ích Châu thứ sử Sơn Dục phá được, chém một ngàn bốn trăm thủ cấp, số còn lại giải tán. Thời Linh đế, lấy các vùng Di phụ thuộc quận Thục, cải thành quận Hán Gia.

Đất Di Nhiễm Mang, Vũ đế khai mở. Năm Nguyên đỉnh thứ sáu (111 BC), đặt thành quận Vấn Sơn. Trong ba năm, người Di nộp tô thuế rất nhiều, Tuyên đế (74 BC – 49 BC) bèn xem xét để Thục quận cai quản bởi bắc bộ đô úy. Vùng núi ở đấy có sáu bộ lạc người Di, bảy bộ lạc người Khương và chín bộ lạc người Để. Vương hầu của họ hơi biết văn thư, dùng luật pháp nặng nề khắt khe. Quý trọng phụ nữ, xã hội ở hình thức mẫu hệ thị tộc. Chết thì hỏa thiêu thân xác. Khí đất lạnh nhiều. Khi lạnh nhất sẽ có tuyết rơi và không tan chảy, do đó mùa đông người Di thường tránh rét, vào đất Thục làm thuê, mùa hạ lại bỏ đi, trở về thôn ấp. Họ cư trú dựa vào núi, dùng đá xếp dựng thành nhà ở, cao đến hơn mười trượng, gọi là “cung lung”. Đất đai ở đây rất cứng và chứa muối, không thể trồng các loại thóc gạo hoa màu cây gai cây đậu, chỉ nương nhờ vào lúa mạch, thích hợp cho chăn nuôi  gia súc. Họ có bò lông dài (bò Tây Tạng), không sừng, còn gọi là đồng ngưu, nặng ngàn cân (~500kg), lông có thể dùng làm đồ trang sức. Đất này có ngựa nòi nổi tiếng. Còn có linh dương, có thể giải độc. Lại có loài hưu ăn cây thuốc, khi mang thai hưu con, phân trong ruột của nó là vị thuốc chữa được bệnh hiểm nghèo. Lại có dê năm sừng, xạ hương, loài gà lông tơi mịn nhẹ và nhiều thứ gia súc khác. Người ở đấy có thể tạo nên len từ lông gia súc, rồi dệt đan thành màn trướng đa sắc, thảm xanh, thảm lông, nối với nhau tạo thành tường lều trại. Đặc biệt vùng này có rất nhiều loại dược liệu khác nhau, đất có quặng mặn, nấu sôi tách được muối, nai dê trâu bò ngựa ăn vào sẽ béo mập.

Phía tây vùng này có Tam Hà, Bàn Vu Lỗ, mặt bắc có Đồng Thạch, Bắc Địa, hồ Lô Thủy, vùng ấy nằm ngoài biên giới nhà Hán. Thời Linh đế (năm 168 – 169), lại chia vùng bắc bộ Thục quận thành Vấn Sơn quận.

Bạch Mã là đất của người Để, Vũ đế năm Nguyên đỉnh thứ sáu (111 BC), phân vào tây bộ quận Quảng Hán, hợp với Vũ Đô, đất đai hiểm trở, có ruộng đay gai, ngựa nổi tiếng, trâu bò, dê, cây sơn, cây mật, người Để cường tráng hùng dũng nhưng ngờ nghệch bộc trực, thích của cải và chết vì cái lợi, sinh sống ở khu Hà Trì, còn có tên nữa là Cừu Trì, đất đai khoảng trăm khoảnh, bốn mặt đều bị chắn chặn bởi núi non. Người Để nhiều lần xâm nhập biên giới cướp bóc, quận huyện thảo phạt, liền cố thủ trong hang cùng ngõ hẻm. Năm Nguyên phong thứ ba (năm 108 BC), người Để làm phản, điều binh phá được, phân dời về quận Tửu Tuyền. Đời Chiêu đế năm Nguyên phụng thứ nhất (năm 80 BC), người Để lại nổi dậy, sai Kim ngô mã Thích Kiến, Long phôi hầu Hàn Tăng, Đại hồng lư Điền Quảng Minh, chỉ huy ba phụ quan và những kẻ tội đồ đến thảo phạt thành công.

Đến khi Vương Mãng thoán nghịch, người Để nhân đó làm phản. Những năm đầu Kiến vũ (năm 25 trở đi), người Để quy phụ đất Lũng xứ Thục, đến khi Ngôi Hiêu bị diệt, thủ lĩnh người Để bèn đi theo Công Tôn Thuật hàng Hán, Lũng Tây thái thú Mã Viện tâu lên vua cho phục hồi vương hầu quân trưởng, cấp cho ấn đeo cổ. Sau đó Ngôi Hiêu dựa vào Ngôi Mậu làm phản, giết thái thú Vũ Đô. Đại thủ lĩnh người Để là Tề Chung Lưu được đồng tộc kính trọng và tin tưởng, dùng quyền thế thuyết phục các thủ lĩnh, cùng quan phụ tá trong quận đánh Ngôi Mậu, chém chết y và phá tan giặc. Sau này người Để vẫn cướp bóc, quận huyện đều dẹp được.

6. Luận bàn của sử quan.

Luận bàn: Nhà Hán chinh phạt Nhung Địch, dụng binh nơi biên viễn, là vương nghiệp lớn trùm phủ từ xưa đến nay, nghiêng ngả biên thùy, quân chết tướng thua, không phải chỉ trong một năm, cuối cùng khai mở biên cảnh sâu vào đất tứ Di, khiến những kẻ khác phong tục phải quy phụ. Tiếp theo giúp người ta dần dần thấm nhuần minh ước, giáo hóa phổ biến khắp nơi, chẳng phải chuyện một ngày một buổi. Sách vở thánh nhân chú sơn giải thủy ở chốn xa xôi ấy chỉ qua loa đại khái. Tuy tứ Di qui thuận hay chống đối thì vô chừng, nhưng thanh uy và ân trạch luôn khoáng đạt, thực hành giáo hóa, nhân ái với đạo lý căng tai xăm mình, với những bộ tộc còn hoang cư và dùng điểu ngữ, tuyệt đối không đánh đuổi đến đường cùng, lúc ta quay về thì họ lại xin đặt quan cai trị, vượt qua biển lớn núi cao sông rộng, nhờ phiên dịch mong nội thuộc. Cho nên đã chọn người xếp đặt các chức danh trung lang, hiệu úy, ghi chép sổ sách đô hộ phủ, bố trí quan thái thú, sử dụng trăm ngàn vạn kế an định. Những nơi ấy còn có linh vật trong núi cao dưới biển sâu, chìm dưới cát đá là tê tê rất quý giá nơi đại lục, tuyệt không thể không dâng lên những thứ đẹp đẽ lạ lùng, để trang hoàng cung điện nhà vua. Lại còn thu được vải gai, chim hỏa thúy, chim tuần cầm và nhiều muông thú khác đem hết vào nội phủ; bài ca của người Di, điệu múa của người Ba khác âm khác nhịp, bày xếp diễn xướng ở ngoài triều. Dùng phương cách mềm dẻo đã đủ chưa? Đúng là đã trí đặt được quận huyện nơi xa xôi rồi đấy. Xứ Man Di tuy ngăn cách núi cao lũng sâu, nhưng có đất sinh sống, nối liền với vùng Kinh Sở là đất Giao, che chở đất Ba Thục cần một vùng ngoại Di, không thể xác định chỗ tận cùng. Tuy nhiên Man Di hung ác mạnh mẽ tinh ranh mưu lược, như bọn Khương Địch, có vượt qua chỗ trọng yếu bằng sự hung dữ tàn ác, cũng chẳng thể vào sâu. Bên ngoài phía tây nam, các bộ tộc người Di đặc dị nhưng yếu ớt. Cho nên tại Vĩnh Xương (Vân Nam ngày nay, gần Miến Điện) thiết quan trú thú, phòng bị người Di ở xa, sau đó khai thác đất đai, sai bách tính đến dựng xây, nay đã trở thành nơi đô hội.

Tán viết: Người Bách Man ngờ nghệch, ở khắp nơi nhỏ hẹp ngoài vùng biên ải. Họ xăm mình, che thân bằng vỏ cây, sinh sống nơi thâm sâu hiểm trở. Lại còn những người Di khác, sống bên ngoài quận Thục. Thôn làng phân bố khắp nơi, cũng biết đạo nghĩa. Họ thu nhận giáo hóa, cải biến phong tục và triều cống trân bảo. Đã xây dựng tiền đồn Vĩnh Xương, chép vào sổ sách cả triệu người.

____________________________

 

[11] Xin lưu ý bạn đọc chúng tôi dịch “Điêu đề Giao Chỉ” là “Người Giao Chỉ thích chữ lên trán”, khác với các sách vở cũ.

[12] Ngày tháng ở Nam Man Tây Nam Di Liệt Truyện và Mã Việt Liệt Truyện, tuy cùng trong Hậu Hán Thư nhưng không khớp với nhau. Ở tài liệu thứ hai chép mùa xuân năm 42 Mã Viện đến Lãng Bạc, tháng giêng năm 43 mới chém được đầu Hai Bà Trưng.

 

BÍ MẬT TRONG CÁI TÊN CỦA LÃNH TỤ HỒ CHÍ MINH

Leave a comment

Chúng tôi tin rằng tên CHÍ MINH của lãnh tụ họ Hồ bắt nguồn từ Chu Dịch và nó biểu trưng cho khát vọng độc lập và tự do xuyên suốt lịch sử Việt Nam từ thời Hai Bà Trưng.

Thật vậy, Chu Dịch (1046 BC – 771 BC) viết: 離也者、明也,萬物皆相見,南方之卦也。聖人南面而聽天下,嚮明而治,蓋取諸此也。Âm Hán Việt: Li dã giả, minh dã, vạn vật giai tương kiến, nam phương chi quái dã. Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ, HƯỚNG MINH nhi trị, cái thủ chư thử dã. Tạm hiểu: Quẻ Li là minh – sáng tỏ, nơi vạn vật đều rõ ràng, đó là quẻ tượng trưng cho phương nam. (Xưa) các thánh đế ngồi hướng mặt về phương nam thiết triều, ý là hướng về lẽ minh bạch mà cai trị muôn dân.

Chữ Hướng (嚮) trong đoạn Chu Dịch ở trên thông nghĩa với Hướng (向) trong Chí Hướng (志向). Chí Hướng nghĩa là lý tưởng, chí nguyện hay ý hướng. Cả hai chữ Hướng đồng âm dị tự đều có chức năng là động từ và đồng nghĩa trong nhiều ngữ cảnh cổ văn. Trong khi đó Chí ở khía cạnh nào đó là danh từ của Hướng. Do đó Chí Minh và Hướng Minh chắc chắn phải có quan hệ liên đới. Nói cách khác, có lẽ cụ Hồ đã dựa vào khái niệm cổ đại Á Đông Hướng Minh để đặt tên cho mình trại thành Chí Minh trước khi đón nhận vai trò lãnh đạo đất nước Việt Nam đứng lên cởi bỏ ách nô lệ ngoại bang.

Nội dung “Nam Diện – Hướng Minh” mang màu sắc tín ngưỡng chính trị và nó có nguyên khởi từ khoa học thiên văn.

***

Có thể mường tượng thiên văn học ra đời khi loài người bắt đầu nhận thức được ngày và đêm, xuất phát từ việc quan sát chu trình mọc lặn của mặt trời. Trong khi đó toán học bắt đầu ra đời khi loài người thu thập số lượng sự vật xung quanh mình: một người, hai người; một con thú, hai con thú săn bắt được… Các số đếm phát triển từ năm ngón tay trên một bàn tay, rồi đến mười ngón tay trên hai bàn tay. Cũng không loại trừ người ta đếm cả ngón chân nữa. Tuy nhiên nó không thuận tiện bằng việc đếm các đốt ngón tay. Sự trùng hợp ngẫu nhiên và kỳ lạ là tháng trăng 28 ngày đúng bằng số đốt ngón tay. Ngày đầu tháng hoặc cuối tháng không trăng của tuần trăng, tùy theo cách gọi của các nền văn minh khác nhau, nằm ngoài các đốt ngón tay ở cả hai bàn tay chúng ta.

Chúng tôi tin rằng nhận thức ngày đêm của con người có trước nhu cầu đếm số, nghĩa là thiên văn ra đời trước toán học, sau đó chúng sẽ cùng vận động phát triển và hỗ trợ cho nhau.

Khi phát sinh nhu cầu số đếm lớn hơn 28, người cổ đại Á Đông đã kết thằng, tức là bện dây thừng rồi thắt các nút tái tạo hình dạng đốt ngón tay của họ. Bộ số thập phân ra đời. Nhu cầu liên quan đến thiên văn của nó chính là số ngày trong một năm gấp nhiều lần tháng trăng 28 ngày.

Quá trình quan trắc, hệ thống hóa quy luật chuyển động tương đối của mặt trời với trái đất vừa giúp con người xác định số ngày trong năm và chia một ngày thành nhiều khoảng thời gian bằng nhau, ngày nay chúng ta gọi là giờ. Để tính giờ chính xác người Ai Cập cổ đại sử dụng định vị thiên văn đông tây (vĩ tuyến), người Trung Hoa dùng trục bắc nam (kinh tuyến). Nhìn vào hai cổ vật đo thời gian tối cổ của Ai Cập và Trung Hoa đặt cạnh nhau dưới đây, một người thành thạo các khái niệm thiên văn sẽ nhận ra ngay là phải đặt đường kính của miếng chỉ thị thời gian Ai Cập bên trái trùng vĩ tuyến người quan sát; đặt trung tuyến đi qua tâm và chia đôi nhật quỹ Tây Hán bên phải trùng với kinh tuyến người quan sát. Có như thế những chiếc đồng hồ cổ đại này mới chỉ đúng giờ.

Chính yêu cầu trên đây đã khiến những công trình hoàng cung và lăng mộ xa xưa ở Ai Cập và Trung Quốc cần phải thiết lập trục chính đạo đông tây hoặc bắc nam. Các bức tường ngang hoặc dọc trùng với vĩ tuyến hoặc kinh tuyến nhằm tạo chỉ thị đông tây hoặc bắc nam chuẩn giúp cư dân thuận theo đó mà đặt đồng hồ xem giờ giấc. Nhu cầu giản dị này sau đấy được khoác lên vẻ thần thánh, linh thiêng và thấm sâu vào các nền văn hóa. Người Trung Hoa gọi đoạn trục này trong hoàng thành hoặc ở khu vực đàn tế trời là ngự đạo, trong hầm mộ hoàng đế là thần đạo (đường lên trời cho thiên tử sau khi băng hà). Người Mỹ xây thủ đô Washington ở thời điểm đồng hồ cơ khí đã rất chính xác, các đồng hồ mặt trời chỉ để nhìn ngắm cho vui, nhưng họ vẫn thiết lập trục thần đạo đông tây, đó chính là đoạn đường từ Lincoln Memorial đến Capital Hill.

Như vậy trục chính đạo ban đầu chỉ là định vị thiên văn hướng bắc nam hoặc đông tây chính xác mà thôi. Đạo Giáo thu nạp Hoàng Đế, ông vua thần thoại đầu tiên, làm ngọc hoàng trên trời. Tín ngưỡng chính trị Á Đông khẳng định vua là con trời. Cả hai hình thức tôn giáo này có thể đều có xuất phát điểm là tục thờ mặt trời cổ xưa và đã đồng hành với thiên văn ở giai đoạn đầu.

Dưới nhãn quan toán học, trục chính đạo nam bắc Trung Hoa hay đông tây Ai Cập chính là cách nhìn và tính toán của con người cổ đại bằng trục tung hay trục hoành của hệ tọa độ Descartes ở thế kỷ 17.

Văn minh Trung Hoa phát tích dọc trung lưu Hoàng Hà, nơi có vĩ độ địa lý khoảng 34 – 35 độ vĩ bắc. Mặt trời đối với họ luôn luôn mọc ở phía đông nam và lặn phương tây nam. Các thiên văn gia thời đồ đá dựng cây nêu quan trắc chuyển động tương đối giữa mặt trời và trái đất để xây dựng niên lịch luôn phải nhìn về phía nam. Thời điểm thiên tử đốt lửa tế trời luôn luôn là chính ngọ – giữa trưa, lúc mặt trời nằm ở hướng chính nam. Chế độ phong kiến phân quyền nhà Chu xem việc độc tôn tế trời và độc quyền phát hành niên lịch cho chư hầu là phương tiện bảo tồn tính chính danh.

Sách Chu Lễ biến vĩ độ tình cờ và tự nhiên của kinh đô Chu, thành tín ngưỡng chính trị. Nó khẳng định chỗ bóng nắng cây nêu giữa trưa ngày Hạ chí dài một thước năm tấc, là Địa Trung, trời đất gặp nhau, bốn mùa chuyển giao, mưa thuận gió hòa, âm dương tương hợp, thế thời tốt đẹp, vạn vật bằng an, là nơi tạo dựng vương quốc, mở mang bờ cõi, bốn phương ngàn dặm phong phân chư hầu.

Từ đó có qui định không thành văn trong thế giới Nho giáo Á Đông: Chỉ thiên tử Trung Hoa mới được quyền xưng đế, được xây dựng cung điện có ngọ môn đúng nghĩa, mọi ngày mặt trời giữa trưa nằm ở hướng chính nam sẽ chiếu thẳng góc vào cổng chính là cổng nam kinh đô. Trái lại nghĩa là thách thức Bắc triều. Di tích thành nhà Hồ ở Thanh Hóa hay thành Huế của nhà Nguyễn đã triệt để tuân thủ qui định này. Mặc dù cửa nam họ vẫn gọi là ngọ môn, nhưng về bản chất nó là tỵ môn thẳng hướng đông nam vì tia nắng mặt trời giờ tỵ sẽ vuông góc với mặt phẳng cửa.

***

Khi sáng lập nhà nước Việt Nam hiện đại, Hồ Chí Minh chưa chắc đã thấu hiểu bản chất thiên văn của trục chính đạo các kinh đô nước Việt xưa, nhưng chắc chắn ông nắm rõ các trói buộc tuy khá hình thức nhưng tuyệt đối bất bình đẳng trong thế giới Nho giáo từ triều Nguyễn trở về trước. Khát khao độc lập và nỗ lực độc lập của người Việt là xuyên suốt từ Hai Bà Trưng đến Hồ Chí Minh, do đó ý hướng tự chủ và tự do của ông là rõ ràng. Là lãnh tụ của một nước Việt Nam mới, ông chọn cái tên Chí Minh ẩn tàng “nam diện – hướng minh nhi trị” vừa phủ nhận trật tự phong kiến xa xưa, vừa hướng về giá trị “nhà nước minh bạch” của thế kỷ 20.

Ở góc nhìn này chúng tôi còn thấy rằng Hướng Minh – Chí Minh với “Độc lập – Tự do” trong tiêu ngữ “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa – Độc lập tự do hạnh phúc” về cơ bản là tương đồng. Nó hướng đến một nền chính trị dân tộc thuần chất, độc lập với phương bắc nói riêng và các thế lực có mưu đồ xấu ở bất cứ đâu nói chung.

Đây mới chính là cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh.

@Trương Thái Du 2017

Older Entries Newer Entries

thôn Sấu

Quê hương yêu dấu (Dọc hành chấm đứng). Xin các bạn vui lòng ghi rõ nguồn và dẫn link đến trang này nếu đăng lại bài của tôi

thienthanh2017.wordpress.com/

Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh - Lão Tử

Học Thế Nào

How We Learn

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Xuân Bình

Nhà báo tự do

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)