Các kịch bản cho thế giới năm 2030

Để lại phản hồi

La Revue (tạp chí Pháp)*

 
Thế giới của chúng ta sẽ ra sao vào năm 2030? La Revue đang xem kỹ bản báo cáo mới nhất của giới tình báo Hoa Kỳ về các vấn đề: tăng trưởng, siêu đô thị, khủng bố, năng lượng,…
 
Các nhân viên tình báo Hoa kỳ là những người có trí tưởng tượng thật phong phú. Trong bản báo cáo định kỳ 4 năm một lần, dày 140 trang vừa công bố, Hội đồng Tình báo Quốc gia tại Washington (NIC) đã phác ra bức chân dung toàn cảnh của hành tinh chúng ta vào năm 2030 theo nhiều kịch bản đầy sáng tạo. Họ dùng lăng kính xã hội học để xem xét các vấn đề như các siêu đô thị, vai trò của các mạng xã hội trong địa chính trị hoặc tác động của công nghệ mới đối với năng suất lao động và khả năng sở hữu các vũ khí ngày càng nguy hiểm của con người cá nhân.
Những vấn đề gây quan ngại cho các nhà chiến lược Hoa Kỳ cũng là những vấn đề không mấy xa lạ: kỷ nguyên của một nước Trung Hoa lớn mạnh sẽ đồng nghĩa với hòa bình hay xung đột? Giới trung lưu toàn cầu sẽ có qui mô lớn như thế nào? Cuộc tranh đoạt các nguồn năng lượng, nước hoặc thực phẩm có dẫn tới các cuộc đối đầu không? Tiến bộ về công nghệ liệu có bù đắp kịp cho sự già đi của dân số, của đô thị hóa với tốc độ phi mã và sự nóng lên của khí hậu? Liệu khí đốt nguồn gốc từ đá phiến dầu (schiste) có giải quyết được triệt để sự nan giải một khi dầu lửa cạn kiệt?

Bản báo cáo không nhằm vào việc đưa ra các giải đáp, vì các «siêu xu hướng» được nhận định rất có thể lại bị xoay chuyển bởi những «kẻ tráo bài» – những tảng băng chìm hãi hùng của tương lai. Đối với 16 cơ quan thành viên của NIC, đứng đầu là CIA, chắc chắn họ đã phải hiểu rõ rằng một khi chấp nhận dấu chấm hết cho sự thống trị đơn cực của Hoa Kỳ, thì vấn đề là trật tự thế giới mới sẽ dịch chuyển như thế nào: Một cường quốc bá chủ mới sẽ nổi lên? Chủ nghĩa đa phương hóa lên ngôi? Hoa Kỳ co mình lại? Hay hỗn loạn? Bản báo cáo đề cập nhiều vấn đề, nhưng những gì nó không đề cập cũng rất đáng quan tâm. Nhưng bản báo cáo cho thấy điều rõ ràng là Hoa Kỳ không mấy lo ngại về châu Âu và cũng không tin rằng châu Phi có thể trở thành một tay chơi đáng gờm trên bàn cờ mới. Stéphane Marchand

 

(Phần 1)
VIỄN CẢNH
 
Tương lai dưới con mắt CIA
Các cơ quan tình báo Hoa Kỳ đang nghiên cứu kỹ diện mạo tương lai của thế giới và cố dự đoán những bất trắc có tính chiến lược. Họ đã tiết lộ bốn kịch bản có tính cực điểm nhất. Stéphane Marchand
Quí vị hãy nhắm mắt lại. Hãy thử hình dung một thế giới trong đó Hoa Kỳ không tìm được các đồng minh có khả năng để lập lại hệ thống quốc tế trong khi sự bá chủ của Hoa Kỳ đã hết. Khi đó Hoa Kỳ sẽ phải thu mình lại. Trung Quốc, Nga và Ấn Độ, tất cả đều trong trạng thái mất cân bằng vì sự bốc hơi của trật tự cũ, sẽ cố  khẳng định ưu thế của mỗi nước trong cuộc tranh giành các nguồn lực. Đặc biệt là Trung Quốc, với tăng trưởng kinh tế không được đúng như lời hứa của giới lãnh đạo, sẽ phải đối diện với cơn thịnh nộ bạo lực của xã hội. Khu vực tiếp giáp giữa ba quốc gia hùng mạnh này sẽ xuất hiện sự đe dọa từ các nhóm vũ trang, tự chủ hay bị giật dây, nhất là khi các nhóm này dễ dàng có được những « khí cụ chiến tranh » như đạn dược thông minh hay vũ khí sinh học.
Nếu quý vị không thích thế giới đó thì hãy nhắm mắt lại và mơ về một thế giới khác. Hoa Kỳ đã quay ngược trở lại trên trường quốc tế, nhất là ở châu Á. Còn Trung Quốc lại biết ơn Hoa Kỳ về điều này, nhất là khi các lãnh đạo tại Bắc Kinh đang phải cố kiểm soát bằng được quá trình chuyển đổi dân chủ không thể đảo ngược, như vẫn thường thấy trong Lịch sử, lúc thu nhập đầu người vượt ngưỡng 15.000 đô la tính theo ngang bằng sức mua. Còn khắp thế giới là sự gia tăng dân số, sự phát triển của tầng lớp trung lưu và quá trình đô thị hóa ồ ạt tạo ra một kỷ nguyên tăng trưởng lớn mạnh do những làn sóng đầu tư ào ạt rót vào các công trình công cộng và giao thông.
Nhìn từ Mát-xcơ-va
Mỗi người đều nhìn thế giới theo cách của riêng mình. Bản báo cáo tương tự thực hiện năm 2011 của Viện kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế của Nga (IMEMO, tương đương với NCI của Hoa Kỳ, nơi đào tạo các nhân viên tình báo Nga FSB) cũng cho thấy những điều thú vị. Nếu như người Mỹ và Nga thống nhất với nhau về sức mạnh mới của Trung Quốc thì những dự đoán của họ rất khác nhau khi liên quan đến bản thân họ. Đối với người Nga, «những nước phát triển nhất về cấu trúc sáng tạo và đầu tư sẽ là Trung Quốc, Ấn Độ và Nga. Ngược lại, những vấn đề đó lại bị suy thoái ở Mỹ, châu Âu và Nhật Bản ». Người Mỹ thì cho rằng nền kinh tế của họ vẫn sẽ được duy trì mặc cho sức mạnh Trung Quốc gia tăng, và «các nền kinh tế châu Âu, Nhật Bản và Nga sẽ tiếp tục đà suy thoái từ từ»… J.M.
Đa dạng, chính xác và bao quát
 
Hai kịch bản địa chính trị-viễn tưởng vừa mô tả ở trên được lấy ra từ bản báo cáo «Xu hướng Toàn cầu 2030» (Global Trends 2030), của một cơ quan tư vấn với những nguồn thông tin có lẽ là thuộc loại phong phú nhất thế giới, đó là Hội đồng Tình báo Quốc gia Hoa Kỳ (NIC) – một cơ quan nghiên cứu của Hoa Kỳ, đứng đầu là một Giám đốc Tình báo Quốc gia (DNI) phụ trách tất cả các cơ quan tình báo thành viên. NIC có thể lấy mọi tin từ những nguồn tốt nhất của 16 ban thông tin cực kỳ độc lập và đôi khi còn cạnh tranh nhau, trong số đó phải kể đến Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA) rất nổi tiếng, Cơ quan An ninh Quốc gia (NSA) bí mật nhưng cũng rất bề thế, và tất cả các cơ quan phản gián nằm rải rác trong hệ thống hành pháp. Nghiễm nhiên là phần lớn các công việc khổng lồ của Hội đồng Tình báo Quốc gia là bí mật. Nhưng cứ bốn năm một lần Hội đồng Tình báo Quốc gia vẫn cho công bố một bản báo cáo có tên «Xu hướng toàn cầu» (Global Trends) nhằm dự đoán những hướng phát triển trong tương lai của cả hành tinh. Đây là bản báo cáo lần thứ năm, được công bố cuối tháng 12 năm 2012 về giai đoạn từ nay đến 2030. Bản báo cáo không phải luôn luôn thuyết phục được độc giả vì quan điểm của nó quá tập trung vào việc bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ và quá dựa vào tính ưu việt giả định của nền dân chủ phương Tây, tuy nhiên công trình này vẫn xứng đáng được xem xét. Những dữ liệu mà Hội đồng Tình báo Quốc gia có được rất đa dạng, chính xác và sâu rộng, bao quát vào bậc nhất thế giới.
Những ván bài của tương lai
 
Bản báo cáo này tránh được những khuyết điểm mang tính truyền thống trong sự đoán định. Ở đây, không có hàng loạt những dự báo, cũng không có cả mớ hổ lốn kiểu tương lai học. Bản báo cáo không phải là một tài liệu bày sẵn mọi thứ, mà đơn thuần là cuốn cẩm nang cho cách nhìn nhận, đánh giá về thế giới. Sẽ vô ích nếu ta kỳ vọng thấy một danh sách các kết luận trong bản báo cáo này. Hội đồng Tình báo Quốc gia chỉ gợi ý một danh mục các thay đổi có tính chiến lược và những cách đánh giá để hướng sự phân tích thăm dò của bạn tới tầm nhìn toàn cầu. Tóm lại, « GT 2030 » là một loạt các « ván bài của tương lai » trong đó những người có trách nhiệm đưa ra quyết định phải xây dựng quan điểm của mình dựa trên 4 công cụ : «các siêu xu hướng», «những đảo lộn về kiến tạo địa chất», «những kẻ tráo bài» và «các thiên nga đen»!
Theo Hội đồng Tình báo Quốc gia, chỉ riêng các siêu xu hướng cũng đủ làm thế giới biến đổi một cách sâu sắc, nhưng khi vận hành, nó sẽ gặp các trở ngại, là «những kẻ tráo bài », làm lệch hướng: rủi ro của một cuộc khủng hoảng tài chính mới có thể xảy ra; sự điều hành thế giới mong manh có thể bị nhấn chìm bởi những biến đổi trong các tương quan sức mạnh của thế giới và các cuộc xung đột có thể xảy ra từ đó. Một số tình huống «những kẻ tráo bài» khó nhận ra hơn và mang tính bạo lực hơn. Đó là những sự kiện hiếm, gọi là «thiên nga đen», mà Hội đồng Tình báo Quốc gia khuyến nghị nên đưa vào bàn cờ chiến lược: những nguy cơ xấu nhất (một bệnh dịch nghiêm trọng hoặc một sụp đổ của khu vực đồng tiền Euro), các nguy cơ khó đoán định nhất (tấn công mạng hoặc các cơn bão địa từ đến từ mặt trời). Nhưng cũng có một số hiện tượng hiếm «thiên nga đen» có thể mang lại những điều tốt lành: một Trung Quốc dân chủ hóa vượt lên hoặc một Iran tiến hành cải cách. Tất cả những yếu tố đó có thể ghép lại tạo thành nhiều tổ hợp khác nhau tương ứng với những kịch bản thay thế khác nhau cho thế giới – theo cách thức «trò chơi chiến tranh» rất được ưa chuộng với những người ra quyết định ở Hoa Kỳ.
Những siêu xu hướng đã khởi động
Trách nhiệm hóa mang tính chất cá nhân: sự giảm nghèo đói và sự gia tăng tầng lớp trung lưu đang đi cùng với sự tiến bộ nhanh chóng về công nghệ các khu vực truyền thông và công nghiệp.
Sự hùng mạnh đã lan tỏa: từ nay đến 2030, châu Á sẽ vượt cả châu Âu và Hoa Kỳ gộp lại trên mọi lĩnh vực của sức mạnh như PIB, dân số, chi tiêu cho quân sự và đầu tư cho công nghệ. Nền kinh tế Trung Quốc sẽ dẫn đầu toàn thế giới, kinh tế toàn cầu sẽ phụ thuộc nhiều hơn, so với ngày nay, vào những nhân tố mới như Colombie, Indonesie, Nigeria, Nam Phi và Thổ Nhĩ Kỳ. Sự lan truyền sức mạnh này còn được gia tăng bởi sự nổi lên của các mạng lưới vô định hình giữa các Nhà nước và các Tổ chức phi chính phủ với sự hướng tâm vào quyền lực mềm.
Dân số già đi và vấn đề đô thị hóa: các nước đang già đi phải chống chọi để duy trì mức sống hiện nay và những nước có tỷ lệ cao về dân số trẻ dưới 25 tuổi sẽ ít hơn, chủ yếu nằm trong vùng hoang mạc châu Phi Sahara.
Mối liên quan ngày càng chặt giữa thực phẩm, nước và năng lượng: nhu cầu về năng lượng có lẽ sẽ tăng 50% từ nay tới 2030, chủ yếu phụ thuộc vào khí đốt và dầu đốt sản xuất từ đá phiến. Hạn hán sẽ trầm trọng hơn ở châu Phi và nhiều nơi khác, những nơi có năng suất nông nghiệp đang bị đình đốn và, dù cho có tăng trưởng, nền kinh tế cũng đang rất khốn khó. S.M.
Bốn kịch bản mang tính cực điểm:
 
1.     «Động cơ bị chết»: đây hẳn là một trong những kịch bản tồi tệ nhất. Hoa Kỳ sẽ kết giao với chủ nghĩa tự cô lập. Còn Liên minh châu Âu sẽ sa lầy trong khủng hoảng và suy thoái sau khi đồng Euro sụp đổ. Châu Á  phân ly, chia rẽ và tiếp đến là toàn cầu hóa bị khựng lại.
2.     «Sát nhập»: Để giúp cho các xung đột ở vùng Nam Á không tệ hại hơn, Hoa Kỳ, châu Âu và Trung Quốc phải can thiệp. Điều đó dẫn đến sự thành lập nhóm G3, và còn được thuận lợi hơn nhờ những bước tiến về dân chủ ở Trung Quốc. Kinh tế thế giới lại tìm ra con đường tăng trưởng.
3.     «Ông thần màu nhiệm bước ra từ miệng bình»: những bất bình đẳng làm hủy hoại trật tự thế giới. Khu vực đồng Euro phải chia tay với các nước thành viên yếu kém. Hoa Kỳ an tâm trở lại vì tìm được sự độc lập về năng lượng dẫn đến việc Hoa Kỳ tách rời khỏi các nước sản xuất năng lượng và đẩy các nước đó vào tình trạng bất an. Thế giới trở nên giàu có hơn nhưng cũng kém liên kết và kém an toàn hơn.
4.     «Một thế giới vắng bóng Nhà nước»: Các tổ chức phi chính phủ, các công ty đa quốc gia, các viện-hàn lâm, những cá nhân giầu có, ngay cả những cấu trúc vượt trên quốc gia, được hỗ trợ bởi công nghệ cao, sẽ chủ động đối mặt với các thách thức toàn cầu. Sự linh hoạt bền vững của thế giới phụ thuộc nhiều hơn vào sức mạnh tư nhân, vốn tư nhân và sự từ tâm của con người hơn là các hỗ trợ phát triển từ nhà nước.
… và bây giờ, đến lượt dự đoán của quí vị!
Thế giới đơn cực sẽ chấm dứt!
Sẽ có một cú nhảy vọt cuối cùng về ngôi vị bá chủ hay sẽ hướng đến một thế giới hợp tác đa cực? Sẽ xuất hiện chủ nghĩa tân tự cô lập hay là một sự sụp đổ? Đó chính Vấn Đề. Vai trò của Hoa Kỳ sẽ biến đổi ra sao trong một thế giới không còn siêu sức mạnh? Đối với Hội đồng Tình Báo quốc gia, «khả năng có thể nhất là Hoa Kỳ vẫn sẽ dẫn đầu các cường quốc vào năm 2030».
Trên trường quốc tế, lợi thế chủ chốt của các cường quốc không chỉ nằm ở sức mạnh kinh tế mà còn ở «ưu thế nổi trội trong tất cả các lĩnh vực của quyền lực cứng lẫn quyền lực mềm». Điều đó nói lên một điều chắc chắn rằng với sự nổi lên của các siêu cường mới, thời kỳ thế giới đơn cực sẽ chạm tới điểm tận cùng.», và rằng nền « hòa bình kiểu Mỹ » thời hậu 1945 đang tan rã. Đồng thời các đối tác truyền thống của Washington, chủ yếu là thành viên nhóm G7, cũng phải chứng kiến «sự suy thoái tương đối về ảnh hưởng chính trị và kinh  tế của họ». Trong 20 năm tới, Hoa Kỳ sẽ phải kết giao liên minh tạm thời với nhiều quốc gia vì tính cấp bách. Việc có một cường quốc nào đó thay thế Hoa Kỳ vào khoảng năm 2030 là ít có khả năng xảy ra. «Các cường quốc mới nổi đều nóng lòng muốn có chỗ trong các thể chế đa phương lớn như Liên hiệp quốc, Quĩ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng thế giới, nhưng họ không tự đẩy tới chỗ va chạm đối đầu». Các quốc gia này muốn theo đuổi mục tiêu phát triển kinh tế và củng cố vị thế chính trị cho chính họ hơn là phản đối sự dẫn dắt của Hoa Kỳ đang trên đà suy thoái. Bởi vì, Hội đồng Tình báo Quốc gia kết luận gần như thẳng thắn rằng «tất cả đều hiểu rõ rằng một sự sụp đổ bất thần của Hoa Kỳ sẽ mở ra một giai đoạn hỗn loạn kéo dài trên toàn hành tinh ». S.M.
DÂN SỐ
 
5 tỷ thị dân
 
Gần 60% cư dân của hành tinh chúng ta sống ở thành phố. Vùng cận ngoại ô sẽ phát triển nhanh hơn các khu trung tâm truyền thống.
Dominique Mataillet
 
Thế giới đang tiến tới giai đoạn dân số cứ 10 năm lại tăng thêm 1 tỷ người. Sau khi tăng từ 3,7 tỷ vào năm 1970 lên 6,1 tỷ năm 2000, dân số thế giới vào năm 2010 là 6,8 tỷ và có lẽ vào năm 2030 sẽ là 8,3 tỷ người. Những thách thức tới đây không nằm ở số dân đông mà ở vấn đề thành phần và sự phân bố dân cư. Nghiên cứu của Hội đồng Tình báo Quốc gia Hoa Kỳ nhấn mạnh tới 3 biến động dân số lớn, đó là dân số nói chung bị già đi, di cư các loại tăng đột biến, thị dân hóa gia tăng trên toàn hành tinh.
Vào năm 2012, hơn 80 nước có tuổi trung bình thấp hơn hoặc bằng 25 tuổi. Trong 20 năm nữa, sẽ chỉ còn 50 nước và chủ yếu ở vùng châu Phi cận hoang mạc Sahara. Ngoài khu vực này, Afghanistan là một trong số hiếm hoi các quốc gia có chỉ số sinh sản vào loại cao trên thế giới (vào năm 2011 là 6,8 con/1 phụ nữ), và dân số lên đến 50 triệu vào năm 2030, đây sẽ là một quốc gia duy nhất đông dân và có tuổi trung bình «trẻ».
Những dòng di cư mới
 
Ở những nước có thu nhập cao là thành viên của OCDE, tuổi trung bình của người dân sẽ tăng từ 37,9 lên 42,8. Và sẽ lên đến 45 ở phần đông các quốc gia châu Âu cũng như Nhật Bản và Hàn Quốc. Hậu quả của việc dân số già đi đã quá rõ. Những nước bị ảnh hưởng nhiều nhất là Đức và Nhật Bản sẽ phải chịu gánh nặng ngày càng lớn về hưu trí và y tế. Tăng trưởng kinh tế của các nước đó do vậy sẽ bị ảnh hưởng bởi sự thụt giảm người lao động.
Thậm chí ngay cả ở Hoa Kỳ, nước phát triển duy nhất hiện nay còn giữ được mức tăng trưởng tự nhiên về dân số khá tốt, tỷ lệ người dân ở độ tuổi 15-24 sẽ thay đổi từ 14% hiện nay còn 12,8% trong ¼ thế kỷ tới, và sẽ không tránh khỏi tình trạng dân số già đi.
Khi đó người ta hiểu rằng vấn đề di cư toàn cầu sẽ mang một tầm vóc mới. Các dòng di dân mới sẽ có các điểm đến khác so với bây giờ. Những nước mới nổi hiện nay như Trung Quốc, Brésil và Thổ Nhĩ Kỳ nơi mà dân số đang già đi với tốc độ nhanh chóng, sẽ thu hút lực lượng lao động rẻ của các nước khác nhất là vùng châu Phi cận hoang mạc Sahara và Đông Nam Á.
Sự di dân từ hai vùng đó có nguy cơ càng lớn hơn khi đó vẫn là những nơi phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp và lại phải chịu hậu quả nặng nề của hiện tượng khí hậu nóng lên.
Báo cáo của NIC cũng đề cập đến vấn đề di cư từ các quốc gia đạo Hồi, nơi mà tỷ lệ sinh còn ở mức cao nhất. Đà gia tăng của nạn di cư này có thể sẽ gây ra những »cọ xát về chính trị và xã hội» tại các nước tiếp nhận. Châu Âu sẽ là nơi đầu tiên bị ảnh hưởng vì dân Hồi giáo chiếm 8% toàn bộ dân số vào năm 2030. Tỷ lệ này thậm chí sẽ xấp xỉ 10% ở Pháp, Thụy Điển, Áo và Bỉ.
Di dân ngay trong nội bộ quốc gia cũng sẽ có bước tăng mới, nhất là ở Trung Quốc, dân nông thôn tiếp tục đổ dồn về các đô thị tìm kiếm điều kiện sống tốt hơn. Con số 250 triệu dân di cư nội địa hiện nay sẽ sớm trở thành lạc hậu.
Năm 2012 có gần 50% dân số toàn cầu sống ở thành phố, con số này sẽ lên đến 60% vào năm 2030. Số dân thị thành như vậy sẽ tăng từ 3,5 tỷ ngày nay lên 4,9 tỷ.
Đà tăng này sẽ lên mạnh nhất ở nơi mà tỷ lệ tăng dân số cao nhất và tỷ lệ đô thị hóa còn ở mức thấp nhất, nghĩa là ở châu Á và nhất là châu Phi. 5 khu vực của châu lục này sẽ chứng kiến hiện tượng đô thị hóa tăng vọt, đó là lưu vực sông Nil, vịnh Guinee, các khu vực Bắc hồ Victoria, Bắc của Nigeria, Addis-Abeba và các khu lân cận.
Một vài con số khiến ta chóng mặt. Dân thành thị sẽ tăng thêm 276 triệu người ở Trung Quốc và 218 triệu người ở Ấn Độ. 9 quốc gia khác cũng có số dân đô thị tăng thêm 25 triệu người (một vài nước tăng thêm 75 triệu) như : Bangladesh, Brésil, Cộng hòa dân chủ Công gô, Hoa Kỳ, Mê-hi-cô, Nigeria, Pakistan và Philippines. Số các siêu thành phố trên 10 triệu dân hiện nay là 27 chắc chắn sẽ còn tiếp tục tăng.
Nhưng sự tăng trưởng đô thị sẽ có một diện mạo khác nhiều so với một vài thập niên vừa qua. Sự bành trướng của các «con quỷ đô thị» tới đây có đặc tính là do thiếu đất và bị cản lại bởi vấn nạn tắc ngẽn xe ô tô và chi phí cao cho cơ sở hạ tầng. Các vùng cận đô thị do vậy sẽ phát triển nhanh hơn chính các đô thị.
10 nước đông dân nhất thế giới năm 2030
Toàn thế giới :  8.517 (triệu)
 
Ấn Độ :             1.485
Trung Quốc :    1.462
Hoa Kỳ :           370
Indonesia :        271
Pakistan:           266
Nigeria:             227
Brésil:               217
Bangladesh:      203
Éthiopie:         132
Nga:              129
 
Nguồn: Liên hợp Quốc và Cơ quan dân số
Không gian đô thị tăng gấp ba lần
 
Chúng ta sẽ tham dự vào quá trình hình thành các vùng đô thị xuyên quốc gia. Vào năm 2030, có lẽ sẽ có khoảng 40 siêu đô thị kiểu này giữa hai đến ba quốc gia liền nhau.
Một trong những hậu quả chính của sự phát triển này là sự mở rộng các không gian đô thị. Trong khoảng từ năm 2000 đến 2030, diện tích đô thị sẽ tăng gấp 3 lần và sẽ đạt đến 1,2 triệu km² tương đương hơn hai lần diện tích nước Pháp.
Ngoài những ảnh hưởng môi trường trực tiếp, ví như tình trạng phá rừng, tình trạng đô thị hóa phi mã này còn tác động trực tiếp tới các khu vực ở phía sau các đô thị. Cư dân thành thị tiêu thụ nhiều thịt hơn dân nông thôn chẳng hạn. Do đó cần dự tính cả đến nhu cầu gia tăng các sản phẩm thịt với tất cả những hệ lụy như tăng khí mê-tan do chăn nuôi và vấn đề xử lý chất thải gia súc. Các nhà sinh thái học sẽ có nhiều việc và mệt mỏi hơn nhiều hiện nay.
Tuổi vàng quốc gia: rồi sẽ đến lượt
 
Theo các nhà dân số học, tuổi vàng dân số học của mỗi nước tương ứng với khoảng thời gian 30 năm trong đó tỷ lệ trẻ em (từ 0 đến 14 tuổi) thấp hơn 30% tổng dân số trong khi tỷ lệ người cao tuổi (trên 65 tuổi) thấp hơn 15%. Các nước châu Âu đã trải qua giai đoạn tươi sáng này (cho kinh tế) ngay sau Thế chiến lần II. Sau đó là đến nước Nhật trong giai đoạn 1965-1995. Hiện nay là Trung Quốc và Bra-xin. Tiếp đến là Ấn Độ, rồi Châu Phi cận hoang mạc Sahara.
Tuổi trung bình
 vào năm 2030
Tuổi vàng
Brésil
35
Từ năm 2000 tới 2030
Ấn Độ
32
Từ năm 2015 tới 2050
Trung Quốc
43
Từ năm 1990 tới 2025
Nga
44
Từ năm 1950 tới 2015
Iran
37
Từ năm 2005 tới 2040
Nhật Bản
52
Từ năm 1965 tới 1995
Đức quốc
49
Trước 1950 tới 1990
Anh quốc
42
Trước 1950 tới 1980
Hoa Kỳ
39
Trước 1970 tới 2015
Nước Nga: khuyến khích sinh sản hay là hết
Các chuyên gia Hoa Kỳ, nhất là những chuyên gia thân cận với CIA, đã có một kinh nghiệm có một không hai trong đoán định tương lai của nước Nga. Họ đã lo lắng dò xét kỹ lưỡng trong một giai đoạn dài khi mà hai siêu cường đang thống trị thế giới. Nhưng mọi thứ đã phải thay đổi, ít ra là từ khi Liên-xô sụp đổ cách đây 20 năm. Liệu các chuyên gia Hoa Kỳ có còn sáng suốt hoàn toàn như trước đây?
Chúng ta chỉ có thể tán thành với việc Hội đồng Tình báo Quốc gia (NIC) nhấn mạnh đến thách thức mà nước Nga đang phải đối mặt là phải làm trẻ hóa lại “bộ máy” sinh đẻ. Với sắc thái này thì gần như là việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) của Nga không phải là món thuốc trị được bách bệnh. Sự biến chuyển trung-dài hạn của thị trường năng lượng toàn cầu (với việc Nga vẫn sẽ còn nguồn tài nguyên lớn về khí hydrocarbure) sẽ còn chi phối lâu dài khả năng của nước Nga trong việc đạt được các nguồn lực thiết yếu cho sự hiện đại hóa. Về vấn đề nguồn nhân lực, NIC dựa vào tiên lượng u ám về dân số do một người Mỹ tên là Murray Feshbach nhận định từ những năm 1970. Các nguyên nhân của sự u ám xa xưa đó – sinh sản suy giảm, tử vong rất cao ở nam giới, di cư – còn diễn biến xấu thêm trong giai đoạn chuyển đổi vào những năm 1990. Nhưng những vấn đề đó không phải là không có thuốc chữa. Chính sách sinh sản «gia đình có 3 con là chuẩn» do Kremlin lăng-xê và mới đây lại được Putin nhắc lại đã có những kết quả tích cực. Như một chuyên gia của Chatham House nói, kiểm soát sự biến đổi về dân số cũng khó như việc điều khiển con tàu chở dầu nhưng không phải là không thể điều khiển được. Còn về cách ứng xử trên trường quốc tế trong tương lai của nước Nga, NIC gợi ý đó sẽ là: một đối tác xa cách, một láng giềng tăng động, một kẻ hiếu chiến tiềm tàng. Nhưng những kịch bản đó, đối với tôi, dường như đã không tính đến một cách đầy đủ khuynh hướng chuyển hướng khá rõ trong các chọn lựa thời hậu Stalin của Kremlin muốn đưa nước Nga xa dần khỏi ý muốn thống trị để hướng về những đòi hỏi thúc bách của phát triển. Georges Sokoloff
Chấm dứt ngoại lệ của nước Pháp
Với chỉ số sinh sản hơn 2 con/phụ nữ, ngày nay, nước Pháp đang là một ngoại lệ trong một châu Âu nơi mà chỉ số này phần lớn chỉ được gần 1,5. Nước Pháp là một trong số các nước phát triển hiếm hoi có mức tăng trưởng dân số dư do sinh sản cao hơn tử vong, chứ không phải từ số dư do di cư.
Sự «bùng nổ mini» này chắc chắn là do sinh đẻ tăng vụt từ năm 1997, năm mà chỉ số sinh đẻ của nước Pháp đạt ngưỡng thấp nhất (1,73), nhưng sự bùng nổ cũng còn bởi khối dân số ở tuổi chết già lúc đó còn nhỏ, nhất là số dân từ đợt sinh sản rất thấp của những năm 1930. Năm 2012 có lẽ đánh dấu bước quay ngoặt. Số sinh sản trong năm ngoái đã giảm 20 000 so với kỷ lục được ghi nhận trong năm 2010 (830 000) bởi vì dân số ở độ tuổi sinh sản, những người sinh trong những năm 1980, đã ít đi. Song song với điều đó, số tử vong tăng lên đáng kể, khoảng 20 000 trường hợp, do dân số ở độ tuổi tử vong bắt đầu nhiều lên. Kết quả là tăng trưởng dân số tự nhiên phải sụt giảm khoảng 230 000 trong năm 2012 so với 280 000 trong năm 2006. Nếu sinh sản không tái tục đà tăng trưởng, tăng trưởng tự nhiên sẽ giảm theo thời gian và chạm ngưỡng 0.
 
Trừ phi có tăng lên do số dân nhập cư, nước Pháp có thể sẽ đến lượt bị ảnh hưởng bởi hiện tượng giảm dân số mà hiện nay nhiều nước đông Âu và trung Âu đang gánh chịu. D.M.
XUNG ĐỘT
 
Những khúc gãy mới
 
Tái cân bằng hành tinh có lợi cho châu Á sẽ diễn ra với nhiều căng thẳng. Vùng Trung Cận Đông sẽ tiếp tục bất ổn và các cuộc chiến chiếm đoạt các nguồn lực, nhất là nguồn nước sẽ quyết liệt hơn.
ÉTIENNE COPEL
 
Từ nhiều thập niên qua, số các cuộc xung đột vũ trang giữa các quốc gia đã giảm đi một cách đều đặn, và ngay cả ở nơi mà các cuộc xung đột có qui mô nhỏ còn tồn tại thì số thương vong về dân thường và binh lính cũng không ngừng xuống thấp. Mọi phân tích đều cho thấy xu hướng này sẽ tiếp tục duy trì trong các cuộc xung đột giữa các quốc gia; đặc biệt các quốc gia giầu có nhất sẽ giảm xu hướng thực hiện những cuộc phiêu lưu chiến tranh có rủi ro quá lớn cho phát triển kinh tế của họ. Ngoài ra, trong mắt họ, rủi ro của một cuộc leo thang hạt nhân cũng khiến cho giá của một cuộc chiến trở nên không chịu đựng được.
Bên cạnh đó, những cuộc nội chiến và các xung đột bạo lực nội quốc gia nhiều khả năng sẽ tiếp tục giảm ở tất cả những nước mà cấu trúc về tuổi tiệm cận với tuổi trung bình của thế giới, như khu vực châu Mỹ La tinh và châu Á. Ngược lại, những khó khăn về tự nhiên (nguồn nước, đất canh tác…) sẽ làm tăng rủi ro xung đột bạo lực ở những quốc gia mà tuổi trung bình rất thấp: châu Phi vùng cận hoang mạc Sahara, Trung Cận Đông, Đông Nam Á. Sự tương quan như thế giữa hai yếu tố về tuổi trung bình của một quốc gia và rủi ro bạo lực là một điểm rất độc đáo của bản báo cáo «Xu hướng toàn cầu 2030». Việc thông qua Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (TNP) cũng đã làm thuận lợi cho việc hình thành một chuẩn mực quốc tế mới và được củng cố thêm bởi lệnh áp dụng việc trừng phạt trong trường hợp không tuân thủ Hiệp ước. Tuy vậy, bản báo cáo cũng lo ngại rằng việc Bắc Triều Tiên và nhất là Iran sở hữu được vũ khí hạt nhân sẽ gây ra làn sóng sở hữu vũ khí hạt nhân. Tiến xa hơn, bản báo cáo còn dự kiến trong trường hợp này, sẽ có sự xói mòn Hiệp ước TNP, như vậy có thể sẽ hủy hoại dần dần tất cả mọi thỏa ước quốc tế. Nếu Iran trở thành một cường quốc hạt nhân, các quốc gia láng giềng như Ả-rập Xê-út, cũng có thể sẽ cố gắng sở hữu để cân bằng mối đe dọa này. Nhưng đó không hẳn sẽ là thảm họa như một số người cảnh báo. Hạt nhân sẽ khiến ta biết kiềm chế hơn! Nếu coi Pakistan và Ấn Độ đã thành công trong việc tránh được nhiều xung đột lớn thì phần lớn là nhờ hai bên đã cùng biết cân bằng được sự đe dọa hạt nhân. Mặt khác, việc có một hay nhiều quốc gia tham gia thêm vào câu lạc bộ cường quốc hạt nhân có lẽ không nhất thiết sẽ làm hỏng Hiệp ước TNP mà hiệu quả của nó đã được chứng minh qua nhiều năm tháng. Cũng đừng quên rằng cách đây 40 năm, phần lớn các chuyên gia đều nhận định rằng đầu thế kỷ 21 sẽ có hơn 30 quốc gia sở hữu một trái «bom» hạt nhân!
Việc các vũ khí có điều khiển rơi vào tay của nhiều chủ thể nhà nước và phi nhà nước sẽ khiến cho rất nhiều cấu trúc hạ tầng quan trọng trở nên mỏng manh. Mối nguy hiểm đó là rất hệ trọng và bản báo cáo đã có lý khi nêu lên điều đó. Như thế chúng ta sẽ không thể tránh được bị khủng bố nếu nghĩ đến việc hiện có nhiều tên lửa liên tiếp cùng được nhắm lao vào một điểm trên mái vòm của một nhà máy điện hạt nhân. Chúng ta cũng có thể phải nghĩ tới những nguy cơ của việc quân khủng bố sử dụng máy bay không người lái tấn công các tư gia, nơi trú ẩn của các lãnh đạo cao cấp, và các sân vận động … Bản báo cáo cũng lo ngại cho các tàu chiến có trang bị tên lửa tầm xa dễ bị tấn công. Việc này sẽ đặt ra ngày càng nhiều bài toán cho Hoa Kỳ và NATO trong việc triển khai quân lực. Nhưng ít có chuyên gia nhấn mạnh điểm yếu này của hải quân hiện đại: bảo vệ các tàu chiến khỏi bị các tên lửa có vận tốc siêu thanh tấn công là là mặt nước đã là rất khó, đảm bảo sự an toàn đầy đủ cho tất cả các tầu tiếp viện cần thiết cho một cuộc chiến hiện đại là điều gần như không thể … tất nhiên, trừ khi đối phương không có nhiều phương tiện hơn phiến quân Taliban.
Việc tấn công mạng gia tăng khiến cho các tác giả của bản báo cáo thực sự lo lắng nhất là khi những hoạt động này được tiến hành bởi các nhóm khủng bố do các chính quyền điều khiển hay nuôi dưỡng. Quân đội các nước phương Tây đang đặc biệt lưu ý tới kiểu tấn công này. Và chắc là họ đã có đủ phương tiện để đối phó. Vấn đề còn lại là họ không nên « ngủ » quá nhiều và nên nhớ rằng một ngày nào đó họ sẽ phải đấu đầu với những đối thủ «tinh nhuệ» hơn những đối phương họ đã gặp hiện nay ở đầu thế kỷ 21.
Tóm lại, nếu như còn có rất nhiều hiểm họa đe dọa hòa bình thế giới thì may thay, xu hướng chung vẫn là hướng tới giảm bạo lực chiến tranh.○
 (còn tiếp)

*Nguồn : La Revue (bản giấy, tạp chí quan hệ quốc tế ra hàng tháng của Pháp) No 29, tháng Hai, 2013.

Trả lời tác giả “Bố tôi chết vì ung thư tử cung”!

3 phản hồi

IMAG0251
Hai năm rưỡi nay tôi hầu như không viết gì, lâu lâu copy và paste những điều lý thú trên mạng hoặc từ email của bạn bè khắp nơi chia sẻ. Hôm nay giật mình khi nhận được thị phi ở đây:

“Thứ hai là ông Trương Thái Du, một con người điển hình của nói năng điềm đạm, nho nhã, nhưng thật ra vô cùng thâm hiểm. Tôi thấy ông Trương Thái Du chỉ thỉnh thoảng đi đâu đó nói câu này câu kia ra cái vẻ khách quan lắm, như là chỉ phê phán tôi vừa phải thôi, nhưng tôi cũng là người biết quan sát, tôi biết ông Trương Thái Du hả hê lắm. Bởi thật ra, trước đó, đã có lần ông Trương Thái Du nhờ tôi đọc rồi nhận xét hộ truyện ngắn cho ông, thì tôi đã từ chối thẳng. Tôi biết với ông, như thế là một sự sỉ nhục, nhưng tôi xin lỗi, với tôi, sẽ là sỉ nhục nếu phải đọc văn ông. Tôi là người không bao giờ để lộ ra các chi tiết liên quan đến nghề nghiệp, nhưng tôi xin phá lệ một lần để nhận mình chính là người từng bỏ phiếu chống đăng truyện của ông trên một trang web, khi tôi ở trong ban biên tập tại đó. Đến bây giờ, tôi vẫn giữ nguyên quan điểm, văn chương Trương Thái Du là văn chương tôi không thể đọc được.”

Thật là rầy rà và quá đỗi ngạc nhiên.

Là một người viết không chuyên, vô danh, hoạt động chủ yếu trên mạng, điều tôi nhớ rất rõ là tôi từng nhiều lần, ở nhiều thời điểm, gửi bản thảo của mình cho rất nhiều địa chỉ email. Đó có thể là email của một NXB, một chủ trang web, một người hoạt động trong giới văn chương .v.v… Phần lớn các email ấy không được trả lời, một số ít phản hồi, để cuối cùng tôi chỉ có được hơn chục truyện ngắn đăng ở báo Văn Nghệ, Tuổi Trẻ; hai quyển sách ở NXB Lao Động và NXB Văn Học; góp mặt trong một hai tuyển tập của NXB Trẻ.

Điều tôi không thể nhớ rõ là đã email thẳng cho Cao Việt Dũng hoặc là email đến NXB do Cao Việt Dũng phụ trách.

Do đó rất dễ hiểu, tôi không thể có tư thù với Cao Việt Dũng vì anh ta từ chối đọc bản thảo của tôi.

Tôi chỉ mới biết Cao Việt Dũng vài năm trở lại đây, qua các bài lăng xê trên báo và một hai bản dịch. Có lần tôi chê một nhà văn nữ, và được bạn đọc nhắc nhở đó là vợ anh ấy:

“Nhiều cách sống” thì thất bại thảm hại. Vừa đọc vừa chê và quyết tâm gấp chéo những chỗ “lưu ý” để “nhặt sạn”, nhằm hóa cải một quyển sách dở thành “bài học nên tránh”… Phải chăng đây là cách “tiết kiệm” hiệu quả tiền bạc lẫn thời gian?

Tựa sách: Hóa ra là xén một câu của nhà văn hạng hai Nhật Bản Murakami.
Tên nhân vật chính: Lâm Lâm nhé. Bỗng nhớ đến chị hai sến nhão “Em xinh không?” mới đổi bút danh thành Đình Đình. Cảm giác như là bị ép dùng con xe máy Hongda Tàu giả Honda Dream Nhật đi du lịch liên tỉnh vậy.
Nội dung: Nhạt từng xăng ti mét. Hư cấu rất giả tạo từ sự kiện đến tình tiết. Chẳng hạn trang 36, cô gái ngồi ghế trước taxi bốn chỗ (cạnh lái xe) có thể nhìn qua kính chiếu hậu (dành cho lái xe) mà tả cảnh ở băng sau như phim hành động USA.”

Cái kiểu “bẻ kính chiếu hậu” của Nguyễn Quỳnh Trang, gần đây tôi thấy rất giống “Đánh dấu mạn thuyền” của Phan Việt.

“Phan Việt. Tiếng Người (Kindle Locations 2220-2223). trongtk2305@gmail.com (TVE).

Những chiếc côngtennơ đung đưa trong không trung theo chiều xoay của những cánh tay cẩu dài. Mực nước buổi chiều trên sông Sài Gòn xuống thấp, để lộ vạch nước bám trên thân con tàu và hàng chữ ASEAN PREMIER ở mũi. Mũi tàu dốc đứng, vát một vạt nước chéo trên mặt nước đục.”

“Bố tôi chết vì ung thư tử cung” nằm trong hệ thống sai lỗi điển hình của các tác phẩm văn chương Việt Nam, đó là thiếu vốn sống phổ thông.

Nếu đủ vốn sống thì Nguyễn Quỳnh Trang đã biết rằng gương chiếu hậu một chiếc xe hơi chỉ dành cho tài xế chứ không phải người ngồi bên cạnh.

Nếu đủ vốn sống thì Phan Việt phải hiểu rằng con tàu nổi trên nước, cho nên nước lên hay xuống thì cũng là ngấn nước ấy, nó không thể làm lộ cái gì ra cả.

Nếu đủ vốn sống thì Cao Việt Dũng không thể lướt qua câu văn “Bố tôi chết vì ung thư tử cung” một cách cẩu thả như thế.

—————-

“Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, thế mà trong entry dài dằng dặc đã dẫn, chúng ta chỉ thấy Cao Việt Dũng “trách nhân”. Thật đáng tiếc. Đáng tiếc hơn nữa là đã đưa tên một kẻ vô danh vào cuối bảng phong thần để trách, để quảng cáo không công cho nó!

Tất cả những nhận xét đây đó của tôi về anh Cao Việt Dũng, đều xuất phát từ tâm thế một người đọc mà thôi. Những người đọc bình thường như tôi, một khi đã nhìn thấy cái sai lỗi mang tính hệ thống của tác giả – dịch giả, thì hận lắm, đau lắm. Vì mình đã tốn tiền (mua sách), tốn thời gian với những thứ không đáng bận tâm.

Acsimet đã nói: “Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng quả đất lên”. Cao Việt Dũng nên tựa vào một lời xin lỗi bạn đọc cả nước, bước qua định kiến, tiếp tục làm việc để trở thành một dịch giả lớn.

Nếu không có dũng khí như Dostoevsky, so sánh Raskolnikov với Napoleon, để đưa “Tội ác và trừng phạt” lên tầm nhân loại; thì cũng nên bình thản chơi đùa với “Trái cóc xanh” nhằm tự giễu cợt mình, nhắc nhở mình trên con đường văn chương “Đắc thất thốn tâm tri”!
IMAG0252

Nguyễn Cung Thông- Đôi điều về chữ Nôm và giọng Quảng Nam

Để lại phản hồi

Đôi điều về chữ Nôm và giọng Quảng Nam (phần 1)

Nguyễn Cung Thông* (Melbourne, Úc), Vân Hạc** (Hà Nội, Việt Nam)

 

 

1. Tại sao đọc là Nôm thay vì Nam

 

Nhắc đến giọng Quảng (Nam) chúng tôi lại nghĩ đến (cách đọc) chữ Nôm 字喃 – tại sao lại đọc là Nôm từ Nam ra Bắc, từ Thừa Thiên đến Rạch Giá …. Đây cũng là giọng Quảng khi phát âm làm thành lồm, Nam thành Nôm … Không những thế, thời vua Trần Nhân Tôn (khi chữ Nôm khởi sắc như qua Cư Trần Lạc Đạo phú …) được Chế Mân nhượng cho Châu Ô và Châu Rí thuộc địa bàn Quảng Nam: cũng là khi người Việt định cư ở các khu này (trong tiến trình Nam Tiến). Do đó, cách đọc chữ Nôm (thay vì chữ Nam) là một dấu ấn thời-không-gian (time-space impression) của ngôn ngữ: thời gian là khi chữ Nôm khởi sắc và cho ra các tác phẩm giá trị (cần thiết cho văn học độc lập cũng như truyền thông ở biên giới phía Nam) hay là vào khoảng thế kỷ XII, XIII ; không gian là địa bàn tỉnh Quảng Nam nơi mà phương ngữ vẫn còn đọc Nam là Nôm.

Xem bản đồ Nam Tiến của dân tộc Việt   (trích từ trang [vi.wikipedia.org] )

 

 
Khi còn nhỏ, lớn lên trong một gia đình di cư từ Bắc vào Sài Gòn – chúng tôi nghe giọng Quảng (Nam) thấy rất lạ và thường nhái theo … Nhưng sau này, học hỏi và tìm tòi thêm, mình mới nhận ra các giọng ‘quê mùa ấy’ lại bảo quản một số âm cổ (Việt) và có nhiều dữ kiện rất quý báu cho sự hiểu về quá trình hình thành tiếng Việt1 . Có khả năng là giọng Quảng Nam đã từng được dùng làm ‘tiếng Việt chuẩn’ theo tác giả Phan Thanh Minh2

 

 

‘… Tiếng Quảng thô, nhưng đã có một thời Quảng Nam được công nhận. Sách “Đại Nam nhất thống chí”, quyển 5 (tỉnh Quảng Nam), mục phong tục, có viết: “Chí như ngữ âm bình lượng, thị chư  tỉnh vi thích trung,  tuy kinh sư diệc dĩ Quảng Nam âm vi chính”, dịch: “Còn như tiếng nói thì bình dị rõ ràng, so với các tỉnh thì đây vừa thích trung, tuy kinh sư cũng lấy tiếng Quảng Nam làm chính” …’ (hết trích).  Cũng đáng nhắc ở đây là Nồm (gió Nồm) chữ Nôm đều dùng chữ Nam 南 hay chữ Nam hợp với bộ vũ (tự điển Taberd)  𩄑  . Cái nơm (đơm3  bắt cá) chữ Nôm cũng dùng chữ Nam hợp với bộ trúc  䈒  . Nom (chăm nom, nom dõi) có một dạng ngạc cứng hóa (palatalised) là nhòm (ống nhòm, ống dòm) và một dạng chữ Nôm là  𥈶 …v.v…

 

 

Đường thuyên úp cá hiệu rằng cái nơm

(Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa, Mục Tát Võng – xem thêm chi tiết phần Phụ Chú số 1)

 

箔䈒     bạc nơm

筌䈒     thuyên nơm (Ngũ Thiên Tự – trang 80, 82, 90)

筌䈒     thuyên nơm (Tam Thiên Tự – trang 16)

 

 

Thả thả chăn chăn ít lại nom 𥈶   (Hồng Đức quốc âm thi tập)

Gã mục dè châm đã tới nom 𥈶   (Hồng Đức quốc âm thi tập)

 

Phần sau sẽ đi sâu hơn vào vốn từ Hán cổ cho thấy các dạng nơm/nôm và núm/nắm đã từng được các tài liệu Trung Quốc xưa ghi nhận.

 

2. Nơm/ nôm và nắm/núm

2.1 Nơm, có nơi ghi là nôm4 , là dụng cụ bắt cá từ phương Nam, Nơm còn có thể viết bằng bộ võng hợp với chữ Nam 罱 hiện diện trong vốn từ Hán cổ từ thời Ngọc Thiên 玉篇 (năm 543 SCN) đọc là nữ cảm thiết/nãi cảm thiết/nô cảm thiết hay *nơm/nam; cho đến thời Quảng Vận lại đọc là lỗ cảm thiết  魯敢切 (lãm, lẫn lộn n/l khi đọc *nam thành *lam) và trở thành cách đọc chuẩn!

 

 

 

 

Ngọc Thiên (543 SCN)       Quảng Vận (1008)      Tập Vận (1037/1067) …v.v…

 

 

Hình ảnh xưa đi ‘nơm’ ở Đông Kinh (Tonkin)  - trích từ chùm ảnh xưa về các nghề mưu sinh ở Đông Dương  http://www.indochine-souvenir.com/metiers/

 

 

< Xách nơm qua đoạn nước sâu. – hiện nay ở Quảng Nam vẫn còn ‘đi nơm;
“Nghề” nơm không phân biệt già trẻ, nam nữ. – trích từ bài báo (22/8/2012)   http://dulich.blognhanh.com/2012/08/nom-ca-mua-he.html hay bài báo (11/12/2012) viết về cả làng đi nơm cá ở Quảng Nam http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/7/24/24/219860/Default.aspx …v.v

 

 

2.2 Nắm/núm/nuốm: cũng từ cách dùng chữ nam 南 để ký âm như trên mà ta có thể thấy cấu trúc chữ hiếm *nớm/nắm 揇 – hiện diện ít nhất vào thời Ngọc Thiên với các dữ kiện sau (xem hình chụp bên dưới)

 

 

奴感切 nô cảm thiết 搦也 nạch dã

Chữ 揇 đọc là *nớm/nắm nghĩa là nắm lấy (tiếng Việt còn dùng dạng cổ hơn là núm lấy) – một dạng ngạc cứng hóa là nhắm (Việt Bồ La/1651). Các dạng nắm núm nuốm – lúm (má lúm đồng tiền)  và nhóm (nhúm), tóm (túm) so với chòm (chùm, xóm – chòm còn là một đơn vị mường nhỏ), lờm (lùm) cho thấy khả năng nguồn gốc phương Nam (tiếng Việt cổ) của nắm/núm. Do đó chữ 揇 có thể là ký âm của *nớm (núm)/nắm của tiếng Việt nhập vào và làm vốn từ Hán (cổ) trở nên rất phong phú, cùng với chữ *nơm 罱

 

 

 

Ngọc Thiên (543 SCN)     Quảng Vận (1008)   Tập Vận (1037/1067) …v.v…

 

Các dữ kiện trên khiến ta phải suy nghĩ lại về giai đoạn hình thành chữ Nôm5 (hay đóng góp của Quốc Âm vào vốn từ Hán): có thể trước đời Đường (618-907) phù hợp với đề nghị của Phạm Huy Hổ (chữ Nôm có từ thời Hùng Vương)  hay Văn Đa Cư Sĩ Nguyễn Văn San (chữ Nôm có từ thời Sĩ Nhiếp). Đây là một đề tài rất thú vị nhưng không nằm trong phạm vi bài này.

 

 

 

*Nguyễn Cung Thông: Công Ty Cố Vấn Giáo Dục (Education Consultant)  – email address nguyencungthong@yahoo.com

**Vân Hạc: nhà văn, tác giả – email address vanhac.yenbai@gmail.com

 

 

3. Phụ chú và phê bình thêm

 

3.1 Phụ chú
Phần này không hoàn toàn theo cách ghi tài liệu (Bibliography) tham khảo APA hay MLA vì bao gồm các phê bình thêm về đề tài, tài liệu và tác giả để người đọc có thể tra cứu thêm chi tiết và chính xác.

 

1)  ngoài tương quan Nôm Nam như trên, một số biến âm (địa phương) đã thành chuẩn như con *hàm (chữ Nôm 𤞻 : bộ khuyển + chữ hàm 含) bây giờ ai cũng đọc là hùm (hồm – thời tự điển Việt Bồ La/1651). Tương tự ta có cách đọc hòm so với hàm 函 … Một chữ trong truyện Kiều mà chúng tôi rất thích đọc và tìm hiểu thêm là

Một vùng cỏ áy bóng tà (câu 97) – áy viết (chữ Nôm) là ái 愛 (từ Hán Việt là yêu, mến …) – theo thiển ý nên đọc là úa (một đặc tính của giọng Quảng – quê chua/choa …) .

 

Ăn chữ Nôm là 咹 với thanh phù là an 安, tuy nhiên còn có thể đọc là yên (so với giọng Quảng Nam en); yên (ngựa) 鞍 với cách đọc yên đã trở thành chuẩn (không nghe ai đọc là *an ngựa). Khuynh hướng chuyển nguyên âm về phía trước (a thành e, front vowel) là một đặc tính khác của giọng Quảng Nam mà yên là một dạng gần với âm en hơn so với âm an; các trường hợp tương tự  là từ Hán Việt yến (yên) 燕 én, yêu 腰 eo …v.v… Ngoài các cách phát âm đặc biệt trên, cách dùng từ QN cũng đáng chú ý: như cái ảng (hay ang, áng là đồ đựng nước), một dạng chữ Nôm là 坱 (theo tự điển Taberd/1772-1838, nghĩa tiếng Hán là trần ai/bụi bặm), Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa dùng chữ ương 央 để chỉ ang. so với “Tự Đức thánh chế giải nghĩa ca” cách dùng thanh phù an  安  hợp với bộ thổ. Trong Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa (Trần Xuân Ngọc Lan phiên âm và chú giải, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1985) vần còn ghi(Mục Khí Dụng)

 

 

Áng bồn chậu áng chăng lầm

Chăng cong chăng lọ chăng vò chăng ang

 

 

 

Để chỉ cái bồn đựng nước, tiếng Hán cổ còn dùng chữ 盎 (đọc là áng theo âm Hán Việt), xem cách phiên thiết của chữ 盎

 

 

烏浪切  ô lãng thiết (âm áng) theo Thuyết Văn Giải Tự/TVGT, Đường Vận, Tập vận … TVGT còn ghi thêm nghĩa của áng là 盆也 bồn dã

 

 

Trong vốn từ Hán Việt, các dụng cụ chứa chất lỏng như oanh 罃, anh 罌 (oanh nhỏ hơn anh), úng  甕 瓮 … có thể liên hệ đến *ảng. Tiếng Tày-Nùng có áng chỉ bát sứ to, so với tiếng Thái   อ่าง    àang chỉ cái bồn và tiếng Khme ang là bồn (ang tức là bồn nước). Tiếng Mường (Bi) dùng ang như trong cách dùng ‘cải ang nì pằng khènh’ (cái ang này bằng sành). Xem thêm chi tiết các dạng âm cổ phục hồi của áng  盎  trang này   http://ytenx.org/dciangx/dzih/%E7%9B%8E/  . Theo GS Axel Schuessler thì *ảng (ang, áng) có khả năng là từ Nam Á (Austroasiatic) trang 151, trong cuốn “ABC Etymological Dictionary of Old Chinese” NXB University of Hawai’i Press (Honolulu, 2007).

 

Tiếng QN trịttẹt (mũi). Một dạnh chữ Nôm dùng chữ Hán triệt 徹 để chỉ trịt, và chữ trịt đã hiện diện trong các tự điển Taberd (1772-1838, không thấy dùng tẹt), tự điển J. Bonet (1899, tẹt là từ tượng thanh như rách tẹt …); Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của P. Của (1895, tẹt là từ tượng thanh như xé tẹt) – chữ Nôm dùng tiệt 截 (nghĩa HV là cắt đứt, rành rẽ …) Để ý là từ điển Việt Bồ La (1651) có ghi tẹt trong cách dùng Blái Tẹt (trái hư vì thời tiết) nhưng không thấy dùng chữ trịt. Thời Việt Nam tự điển (Khai Trí Tiến Đức, 1931/1954) và tự điển Việt-Hoa-Pháp (G. Hue, 1937) đã có cả hai từ tẹt (mũi tẹt) và trịt (trịt mũi). Một trong những bút hiệu của học giả Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là Mũi Tẹt Tử cho thấy tẹt (mũi) được dùng từ đầu thế kỷ 20, phù hợp với các tài liệu đã dẫn bên trên. Rõ ràng là “tiếng Quảng Nam” còn duy trì một số cách dùng cổ mà ngày nay “tiếng Việt” không còn thấy dùng như trước.

 

Không nên xem các giọng địa phương như giọng Quảng Nam/QN, Nghệ An … là sai chính tả – như hàm ý của một bài báo mới đây của đài VOV trang này   http://vov.vn/Van-hoa/Ngo-ngang-nghe-Anh-Tuyet-hat-giong-Quang-Nam/225996.vov     … Hay thử trích một đoạn từ bài viết (2/10/2012) trang báo này      http://www.viendongdaily.com/thu-goi-ban-ta-ngay-2-thang-10-nam-2012-QSLH58kj.html

 

 

‘…Giọng nói của người Quảng Nam bị lôi ra diễu khá nhiều. Ông Nguyễn Cao Kỳ có lần đã phải xin lỗi vì nhái tiếng Quảng tại một cuộc họp báo khi hỏi các nhà báo rằng báo chí có còn “théc méc” gì nữa không…’ (hết trích)

 

 

. Những giọng địa phương (quê mùa) nhiều khi còn mang ‘nhiều chất Việt’ hơn nơi nào hết! Xem thêm chi tiết về album mới ra của Ánh Tuyết http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130114/anh-tuyet-ra-mat-album-bang-giong-quang-nam.aspx

 

2) Phan Thanh Minh 2011 “Tiếng Quảng Nam” đăng trên báo Lao Động Điện Tử ngày 1/10/2011 (phần Lao động cuối tuần) – xem trang này http://laodong.com.vn/Lao-dong-cuoi-tuan/Tieng-Quang-Nam/49564.bld  hay  http://thoisuqrt.com/vi/news/Giai-tri/Tieng-Quang-Nam-minh-45/

 

3) *nởm 䈒 tiếng Hán là 弱竹 nhược trúc (tre non) , không liên hệ gì đến nơm (dụng cụ bắt cá làm bằng tre) tiếng Việt; thành ra chữ Nôm nơm 䈒 có khả năng rất lớn là loại chữ tự tạo:

 

 

 

 Ngọc Thiên 玉篇         Quảng Vận 廣韻          Tập Vận 集韻

 Chánh Tự Thông 正字通

 

 

 

 

4) nơm ghi là nôm như trong bài viết về các nông cụ Việt Nam vang bóng một thời – xem trang này  http://www.phatgiaodaichung.com/Bai2011_04/NPTnongcuvn.pdf

 

5) cần phân biệt các giai đoạn hình thành chữ Nôm so với giai đoạn chữ Nôm cực thịnh (phản ánh qua các tác phẩm văn chương và thi phú).

 

3.2 Phê bình thêm

 

3.2.1  Từ năm 1932, học giả Phan Khôi (gốc Quảng Nam) đã đề nghị tương quan Nôm và nam cũng như (gió) Nồm – trích trang này  http://lainguyenan.free.fr/pk1932/TenGio.html

 

 

 

‘TÊN GIÓ BỐN HƯỚNG

 

Gần đây tôi có được thơ một vị độc giả hỏi một điều hơi cắc cớ mà cũng có ý vị. Vậy sau khi trả lời bằng thơ riêng cho người hỏi, tôi đăng luôn cả cuộc vấn đáp lên báo, vì tưởng là không đến nỗi vô ích vậy.  Bức thơ hỏi như vầy:

 

« Bạc Liêu, le 8 Novembre 1932

 

Ông Phan Khôi,

 

Kính ông,

 

Từ ngày báo Phụ nữ tân văn thêm mục Hán văn độc tu, thì mỗi tuần tôi đều đọc kỹ. Nhờ vậy học thêm nhiều tiếng, phân biệt được nhiều nghĩa rõ ràng, nên tôi cảm bội vô cùng.

 

Bấy lâu nay chưa được nghe ai cắt nghĩa chuyện nầy, tuy là không ăn nhập vào những bài dạy của ông, nhưng nhờ ông là người đa văn quảng kiến, xin chỉ giùm câu chuyện sau đây, mà tôi đem hỏi ông, vì có thấy trong báo Phụ nữ số 175 ngày 3.11.1932, bốn chữ đông, tây, nam, bắc.

 

Tại sao gió hướng tây thổi đến, người ta lại gọi là gió nam? Còn gió hướng nam lại gọi là gió nồm?

 

Gió chướng bên phía đông thổi qua là tiếng đã thường nghe. Duy có hai tên gió nói trên đây không trùng với tên hướng, bởi vậy mỗi khi nghĩ đến mà cắt nghĩa không xuôi thì trí chẳng toại chút nào.

 

Muốn hiểu nghĩa cho cùng, vậy xin ông vui lòng giải giùm minh bạch, đặng giúp kiến văn cho người ít học…

 

Trần Văn Tìa

 

Conseiller provincial

 

Canton de Thạnh Hưng Bạc Liêu”

 

 

 

Bức thơ trả lời:

 

Saigon, le 11 Novembre 1932

 

Ông Trần Văn Tìa,

 

Tiếp được thơ ông hỏi tôi về mấy điều, vậy tôi xin trả lời cho ông như sau đây. Điều tôi nói đây chẳng do sách vở nào hết, chỉ đoán phỏng mà nói. Vậy xin ông coi như là một lời giảng giải chưa định, chớ khá tin trọn ở đó mà có khi sai chăng.

 

Ông hỏi tại sao gió hướng tây thổi đến lại gọi là gió nam, còn gió hướng nam lại gọi là gió nồm?

 

Xứ ta (nhứt là Trung kỳ) kêu bằng gió nam đó không phải là gió hướng tây như ông nói đâu, mà thật ra là gió tây nam. Từ tây nam sang cho nên nó đem hơi nóng sang, thành ra gió nam xứ ta thì nóng. Phía tây nam của xứ ta là một giải lục địa lớn (un grand continent), trong đó có mấy cái sa mạc (désert), cho nên gió đem khí nóng sang là phải; sách địa dư cũng nói gió lục địa là gió nóng. Tây nam mà tục ta lại quen kêu là gió nam, có lẽ là tại lúc đầu người mình không biện biệt phương hướng cho thật rõ, tưởng là gió chánh nam cho nên nói nam mà bỏ tây đi đó thôi.

 

Còn gió nồm là từ đông nam thổi sang chớ không phải chánh nam như ông nói. Đông nam của xứ ta là biển. Gió biển cho nên hễ nồm thì mát. Kêu bằng “nồm”, có lẽ chữ “nồm” ấy do chữ “nam” mà ra. Gió nồm tức là gió nam vậy.

 

Chữ “nồm” do chữ “nam” ra, tôi lấy chứng cớ ở đây, có điều cái chứng cớ nầy hơi mong manh một chút:

 

“Tiếng Nam” hay là “chữ Nam”, nghĩa là tiếng hoặc chữ của nước Nam, thì tục ta quen kêu bằng “tiếng nôm” hay “chữ nôm”. Do chữ “nôm” ấy mà chuyển ra “nồm”. Gió hướng nam thì gọi là “gió nồm”.

 

Ai hiểu cái luật “chuyển âm” trong tiếng ta thì có thể tin cái thuyết ấy của tôi được một vài phần. Tiếng ta có nhiều tiếng chuyển như vậy. Như “miệng” (A) là cái miệng thì chuyển ra “miếng”, nghĩa là vật gì vừa một miếng bỏ vô miệng. Lại như “mang” vật gì là verbe neutre, chuyển ra “máng” là verbe actif, nghĩa là bắt cái gì mang vật gì, như máng ách cho bò, máng áo trên móc, v.v… Còn nhiều chữ như vậy không kể hết.

 

Vậy thì “nam” chuyển ra “nôm”, chuyển một lần nữa ra “nồm”, cũng có lẽ lắm, mà đều nghĩa là cái gì thuộc về phương nam cả.

 

Gió “chướng” tức là gió đông, song tại sao lại kêu bằng “chướng”? Là vì mỗi khi gió ấy thổi tới (gió nầy từ Trung Bắc kỳ nhằm vào mùa mưa lụt), làm cho nước các sông bị cản lại, bị chướng tắc (nghĩa là ngăn lấp) lại, mà lâu rót ra biển (tục gọi là hàn cửa biển), nên gọi là gió chướng.

 

Lại gió bắc thì gọi là gió bấc, gió tây thì gọi là gió may, cũng có gọi là gió tây may. Bấc hẳn bởi chữ “bắc” mà ra. Còn tây sao gọi là may thì tôi chưa hiểu. Trong Truyện Kiều có câu “mưa vạy gió may” tức là gió tây.

 

Tôi nhớ như có người đã dùng chữ “gió vàng” để chỉ gió tây. Ấy là dịch chữ  (kim phong) ra. Theo thuyết ngũ hành, phương tây thuộc “kim”, cho nên gọi  西 (tây phong) là  (kim phong). Chữ     (kim) nầy là métal chớ không phải or, thế mà người ta cũng nói bướng là “vàng” đi để cho đẹp lời.

 

Có mấy điều sau ông không hỏi, song tôi cũng nói luôn thể.

 

PHAN KHÔI

 

Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 178 (24. 11. 1932)’  hết trích.

 

(A) lời chú thêm (Nguyễn Cung Thông): để ý miệng và miếng đều có một dạng chữ Nôm là mãnh 皿 , mãnh là âm Hán Việt (母梗切,音猛 mẫu ngạnh thiết, âm mãnh – Tập Vận) so với âm Hán cổ là *miêng (武永切 vũ vĩnh thiết – Đường Vận). Tiếng Mường (Bi) còn dùng đác mẽnh (nước miếng, đác là nác/nước, mẽnh là miệng) so với các ngôn ngữ khác như Nyah Kur (Chao Bon, liên hệ đến Môn) ta thấy cách dùng dáak páang (nước miếng, dáak là nước, páang là miệng); tiếng Khme có tức mót (nước miếng, tức là nước, mót là miệng); tiếng Chăm còn dùng ia pabah (nước miếng, ia là nước pabah là miệng) …v.v… Phạm trù nghĩa của miếng (ăn) cho thấy quan hệ phần nào đến miệng, do đó ngay cả các ngôn ngữ không dính líu gì đến tiếng Việt cũng có hiện tượng miệng – miếng như tiếng Pháp: bouche (miệng) so với bouchée (một miếng), tiếng Anh có danh từ mouthful nghĩa là một miếng (mouth là miệng).Các dữ kiện này cho ta cơ sỡ vững chắc để liên hệ miếng và miệng.

 

3.2.2  Một bài viết quan trọng và liên hệ trực tiếp đến đề tài bài viết này là “Một giả thuyết về từ nguyên của từ ‘Nôm’ ” của Trần Xuân Ngọc Lan/TXNL đăng trong Tạp Chí Hán Nôm số 1 trang 95-98 (1988). Cho rằng Nôm là âm Nam hay nôm na là đơn giản không đủ thuyết phục, TXNL đề nghị (âm) Nôm có nguồn gốc từ đôm/dom (nghĩa là nói) gần như chung cho các ngôn ngữ Môn Khmer và Mã Lai đa đảo lục địa. Tương quan đôm-nôm có thể giải thích khi so sánh các tiếng Mường và Việt như đak-nác (nước)… Dựa vào giai đoạn xuất hiện của phụ âm mũi đầu lưỡi tắc n trong tiếng Việt (và dựa theo H. Maspéro/1912), TXNL đề nghị từ ‘Nôm’ phải xuất hiện từ giai đoạn Tiền Việt sang giai đoạn Việt Cổ hay vào thế kỷ X.

 

3.2.3  Vấn đề trở nên thú vị khi ta ngẫm nghĩ thêm về nguồn gốc giọng Quảng Nam. Trích từ Chương Dẫn Nhập của cuốn “Có 500 năm như thế” tác giả Hồ Trung Tú/HTT (Nhà Sách Phương Nam, 2011)

 

‘… Nhiều người không hiểu cái giọng nói của người Quảng Nam nó xuất phát từ đâu trong khi tất cả các gia phả của các dòng họ đều ghi rõ rằng thủy tổ của họ là người Nghệ An, Thanh Hóa, Hải Dương… vào đây. Giáo Sư Trần Quốc Vượng bảo: “Thì các cụ vào đây đâu có đem vợ con đi được nên lấy vợ Chàm rồi sinh con đẻ cái là cái chuyện hết sức bình thường. Vấn đề là các bà mẹ Chàm nói tiếng Việt ấy đã truyền lại cho con cái mình cái giọng của người Chàm nói tiếng Việt. Cái giọng đó chính là giọng Quảng Nôm nhà cậu” …’ (hết trích). Tác giả HTT còn đề nghị là ‘… người Quảng Nam nói tiếng Việt bằng giọng Chăm …’. Nên cẩn thận về ảnh hưởng của sự hoà nhập ngôn ngữ đa chiều: không chỉ ‘ngưng’ lại ở địa bàn tỉnh Quảng Nam bây giờ, thí dụ như tương quan Nam Nôm Nơm nói trên đã manh nha từ vùng Nghệ An qua các cách gọi (địa danh) dân dã như đền Cờn, cửa Cờn (Càn Hải), cửa Thơi (Thai Môn) …Đây không nằm trong phạm vi bài viết nhỏ này nhưng cần được khai triển trong tương lai, để cho thấy những đóng góp không nhỏ của phương ngữ trong quá trình hình thành tiếng Việt.

 

3.2.4  Thêm vài chi tiết về âm Hán cổ của Nam 南 là nôm. Nam giọng Bắc Kinh (theo pinyin) bây giờ đọc là nán, so với nam4 (giọng Quảng Đông) hay nam2 hay lam2 (giọng Triều Châu).  Phục nguyên âm thượng cổ của chữ Nam 南 theo các học giả tiền bối

 

 

Karlgren: nu ̆m
Lí Phương Quế: nəm
Vương Lực: niuəm
Baxter: nom
Trịnh Trương Thượng Phương: nuum
Phan Ngộ Vân: noom
 

Âm cổ của nam 南 theo Axel Schuessler là *nôm (chúng tôi đã ghi gần đúng theo cách đọc tiếng Việt thay vì theo IPA) trang 396, trong cuốn “ABC Etymological Dictionary of Old Chinese” (sđd). Học giả Lê Ngọc Trụ cũng liên hệ Nôm, Nồm đến Nam 南 – trang 356 trong cuốn “Tầm Nguyên Tự Điển Việt Nam” (NXB Thành Phố HCM, 1993). Học giả Paul Schneider cũng ghi Nôm là âm cổ của Nam trong cuốn Dictionnaire Historique Des Idéogrammes Vietnamiens / (licencié en droit Nice, France : Université de Nice-Sophia Antipolis, R.I.A.S.E.M.) – trang 553; Học giả Bernhard Karlgren trong cuốn “Grammata serica recensa” (số thứ tự là GSR 650a, 1957, Stockholm) cũng ghi quá trình biến âm của 南 là nôm > nậm > nán (theo pinyin, nán là âm Bắc Kinh hiện đại, để ý phụ âm cuối -m trở thành -n). Học giả E. G. Pulleyblank cũng ghi nhận dạng nôm là âm cổ của nam 南 trong cuốn “Lexicon of reconstructed pronunciation in Early Middle Chinese, Late MC and Early Mandarin” (1991, Vancouver B. C.) trang 221.

Đây là vài dữ kiện từ một từ điển trên mạng Trung Quốc về âm cổ của 南 – xem trang này [ytenx.org]

Lại một mạng tự điển Trung Quốc cũng cho thấy dạng âm cổ của Nam là nơm – trích lại từ trang này [tool.httpcn.com]

 
[ 上古音 ]:侵部泥母,n?m
[ 广 韵 ]:那含切,下平22覃,nán,咸開一平覃泥
[ 平水韵 ]:下平十三覃
[ 唐 音 ]:*nom
[ 国 语 ]:nán,nā
[ 粤 语 ]:naam4
[ 闽南语 ]:lam5

Nguyễn Khôi: Cách dùng họ và tên của các dân tộc Việt Nam

3 phản hồi

 

LỜI DẪN :
Nguyễn Khôi vừa cho phát hành cuốn Các Dân Tộc Ở Việt Nam Cách Dùng Họ Và Đặt Tên , Nhà Xuất Bản Văn Hoá Dân Tộc, Hà Nội – 2006 . Cách dùng họ và đặt tên của Việt nam rất độc đáo , nó mang đặc sắc văn hoá Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước.
Chúng tôi xin trích giới thiệu 6 bài trên 54 bài về giải mã họ và tên 54 tộc người ở Việt nam.

1. Ê Đê
2. Chăm
3. Thái
4. Mường
5. Mông
6. Khơ Me

BÀI THỨ NHẤT – DÂN TỘC ÊĐÊ 
Ê Đê có nghĩa là người sống trong rừng tre . Dân tộc Ê Đê có trên 270 nghìn người , cư trú tập trung ở Đắc Lắc , Gia Lai, Khánh Hoà và Phú Yên.
Các nhóm địa phương gồm : Rađe Đe, Kpa, Adham, Krung, Ktul, Đlie, HrueBlô, Epan, Mdhuna,Bih. Về kinh tế đồng bào này làm nương rẫy , nhóm Bih làm ruộng nước dùng trâu giẫm đất thay cho cày cuốc , ngoài ra là chăn nuôi, săn bắn , dệt…

Tổ chức đời sống chặt chẽ. Làng gọi là ” Buôn” , các địa danh gọi tên rất gợi như ” Buôn chư mơ ga ” 9 nghĩa là làng núi lửa., Sông Đực, Sông Cái , Sông Tóc… Gia đình theo mẫu hệ, chủ nhà là phụ nữ . Con cái mang họ mẹ , con trai không được hưởng thừa kế. đàn ông ở nhà vợ. Nếu vợ chết mà bên nhà vợ không còn ai thay thế thì người chồng phải về ở với chị em gái mình. Nếu chết , được chôn bên người thân của mẹ đẻ.

Nhà ở của người Êđê là nhà sàn và nhà sài. Trang phục màu chàm có điểm các hoa văn sặc sỡ . đàn bà mặc váy áo , đàn ông đóng khố mặc áo . Ngày xa có tục cà 6 răng cửa hàm trên. Người Êđê rất thích uống rượu cần , đặc biệt là vào các dịp lễ tết. Về tín ngưỡng , thờ nhiều thần linh. Người Êđê có kho tàng văn hoá đồ sộ to lớn như các sử thi ” Khan Đam San ” , cồng chiêng cũng rất nổi tiếng , đã được Unesco công nhận là văn hoá phi vật thể của nhân loại. 

Người Êđê có Lễ đặt tên. Khi đứa trẻ sinh ra trong vòng một tháng , gia đình sửa soạn đồ cúng để làm lễ đặt tên cho trẻ.Thầy cúng hướng dẫn gia đình chuẩn bị lễ vật . Họ quan niệm : Khi mới sinh ra , con người cha có hồn , nên lúc đặt tên là lúc nhập hồn cho đứa trẻ . Gia đình sẽ chọn rất nhiều tên trong dòng tộc của ông bà nội ngoại , tên những người tài giỏi , có uy tín được lấy để đặt tên cho đứa trẻ. Ý nghĩa việc này là mong trẻ mới sinh ra được nhập hồn của một trong những người tài giỏi của dòng họ. Muốn làm được như thế , người trong nhà khi đi mời thày cúng sẽ nói trước với thày cúng những tên dự kiến đó để thày cũng nhập tâm . Lễ vật cho lễ đặt tên thường là một con gà , một ché rượu . Lễ được tổ chức vào đêm khuya, khoảng 11-12 giờ đêm., khi cả buôn đã đi ngủ thì bắt đầu làm lễ . Ché rượu được đặt vào cột chính gian trước , lễ vật đặt phía đông. Thày cúng ngồi đối diện với ché rượu , quay mặt về phía đông để cúng.
Thầy khấn: ” Ơ Yàng , hiện giờ gia đình đã dâng lên một con gà , một chén rượu để làm lễ đặt tên cho con. Mời tất cả các Yàng về uống rượu , ăn thịt , giúp đỡ cho trẻ ăn no , chóng khoẻ, không khóc. Mời các ông , các bà trong dòng tộc của gia đình : Mảng , Ma Choá , Mí Thơ, Mí Thơm, Ma Đam … về ăn thịt, uống rượu , giúp đỡ cho trẻ lớn… “. Thày cúng khấn đến tên nào, đứa trẻ không thấy khóc lại tỏ ý thích thúc (vui) thì gia đình sẽ lấy tên đó để đặt tên cho trẻ. Khi cúng xong , cả gia đình và thày cũng sẽ ăn cơm , ăn thịt gà , uống rượu . Sau khi ăn uống xong thì toàn bộ xương , lòng , lông gà , cơm dư thừa sẽ được gói lại cẩn thận, ché rượu úp xuống , bỏ lại gian khách (tiếng ÊĐê là Gah) của gia đình đúng 3 ngày . Sở dĩ làm thế , bởi người Êđe quan niệm rằng con người khi mới sinh còn rất yếu ớt, mới được nhập hồn người chết còn rất mỏng , nên phải giữ tất cả những lễ vật đã cúng đúng 3 ngày rồi mới mang đi thả xuống suối. Khi đó hồn mớí nhập hoàn toàn vào trẻ mới sinh.

Các họ của người Êđê : 

Adrâng, Ayun, Ayun C, Ayun Tul H, Wing Atul, Atul Buon Yah, Buon Krong , Duot, Eban, Eban Rah Lan, Eman, Emo, Enoul, Hđok, Hrue, Hmok, Hwing, Jdrong, Ktub, Kebour, Knul, Kpa, Kpor, Ksor, Ktla, Ktul, Mjao, Mlo, Mlo Duon Du , Mlo Hut, Mlo Ksei, Nie Blo, Nie Buon Dap, Nie Buon Rit, Nie Cam , Nie Mkriek, Nie Mla, Nie Mlo, Nie Sieng, Nie Sor , Nie Sok , Nie To, Nie Trang …

Xin có ví dụ : 

. Nam : Y Ngong Nie Dam ( 4 chữ này có nghĩa là Trai-Tên-Họ – Chi họ)
. Nữ : Hlinh Mlo Duon Du ( 4 chữ này có nghĩa là Gái- Tên-Họ- Chi họ) 

Người Êđê xưng hô : Khi vợ chồng có con thì gọi theo tên con . Tục này có ở nhiều dân tộc , kể cả người Kinh , ví ma Thuột có nghĩa là Bố thằng Thuột. Chính về thế mới có tên ” Buôn Ma Thuột ) tức là làng bố thằng Thuột , nên nay có thành phố Buôn Ma Thuột . Còn nếu gọi Ban mê Thuột là gọi theo tiếng Lào có nghĩa là mẹ thằng Thuột. 
Như vậy dùng tên con để gọi bố mẹ . Thật là độc đáo bản sắc văn hoá Việt nam ./. 

BÀI THỨ HAI – DÂN TỘC CHĂM 
Dân tộc Chăm có trên 132 nghìn người. Sống ở Ninh Thuận ( 50%), Bình Thuận, An Giang, Đồng Nai , Sài Gòn, . Người Chăm là cư dân bản địa lâu đời. 
Đồng bào trồng lúa nước thâm canh có trình độ cao. Các nghề thủ công như đồ gốm , dệt thổ cẩm rất nổi tiếng. Người Chăm theo chế độ mẫu hệ . Mỗi làng có từ 1000 đến 8000 người. 
Văn hoá nghệ thuật rất phong phú với các sử thi, lễ hội, mua hát , ca nhạc… Tháp Chăm là công trình thờ cúng đặc sắc của người Chăm.

Cũng như địa danh làng Palei Chăm , tên người của dân tộc Chăm thường có hai (2) tên : tên khai sinh theo hộ khẩu tương tự như người Kinh và tân dân tộc .
Các họ Chăm : Bá, Bạch , Báo, Bố, Chế, Dương, Đàng, Đạo, Đạt ,Đổng, Fatimah, Hàm , Hán, Hứa, Kiêu, La, Lâm,Lộ, Lu, Ma, Mohâmch, Miêu, Nại , Não, Nguyễn, Ông (ôn), Phú, Qua, Quảng Đại, Samách, Tài , Từ, Thanh, Thập, Thị (nữ), Thiên Sanh, Thiết, Thổ, Trà , Trương, Trượng , Văn.
Ví dụ Tên thường gọi là Phú Trạm (tên dân tộc là Inrasa), Chế Bồng Nga (Ceibingu), Chế Mân (SimhavarmanIII), Phạm Phật (Bhadravarman).
. Nam: Ka Sô Liêng (Họ- Lót – Tên)
. Nữ : Sô Mơ Đinh .
Theo nhà thơ Inrasara thì : Họ ngày xưa của các vua Chăm Pa gồm có :
. Inđra/Indravarzman
. Jaya/Jờyinhavarma
. Cri/Cri Satyavirman
. Maha/MahaVijaya
. Rudra/Rudrravarman…

Ngày nay các họ này vẫn còn được một số người sử dụng :

. Inra/Patra (là biến thái của inđra)
. JayaMrang
. JayaPanrang
. Inrasara (Inra là sấm , Sara là muối)
. Puđradang
Các họ này được phiên âm ra tiếng hán là Chế (Cri) như Chế Mân , Chế Củ, Chế Bồng Nga, Chế Linh , Chế Lan Viên…
. Họ Ong (hay Ông) như: Ông ích Khiêm,Ông Văn Tùng … 
. Họ Ma có lẽ phiên âm từ chữ Maha.
. Họ Trà (có lẽ từ Jaya)

Bốn họ Ông, Ma , Trà, Chế xưa kia là họ Vua.

Họ người Chăm bình dân : ở người Chăm thường thì cứ Ja (Nam) hay M (nữ) được đặt trước tên để phân biệt giới tính, nó như Văn nam Thị nữ của người Kinh , thời xa coi đó là họ ?
Gần đây có khuynh hướng đặt tên cho mình như thế , ví dụ Lờy “nó” làm bút danh như Jantâhrei (nhà nghiên cứu Thiên Sanh Cảnh), Talau (Nhà thơ Trương Văn Lỗu) được coi là đẹp và sang.
Họ người Chăm theo dòng tộc: Như trên đã trình bày , trước đây người Chăm không có họ như kiểu người Kinh như Trần , Nguyễn , Phạm , Lê…, mà người Chăm chỉ có chữ Ja hoặc M (Mng) đặt trước tên mình để phân biệt nam nữ, ví dụ Ja Phôi, Ja Ka (Nam) M Ehava, Mng Thang Ôn (nữ) , giống như Văn Thị của người Kinh .

Người Chăm chỉ có hoàng tộc mới có họ : Ôn, Trà , Ma, Chế . Quan lại thường đựoc gọi bằng chức như Po Klăn Thu (ngài Trấn thủ) , Pô Phok Thăk (ngài phó trấn thủ tên Thak hoặc như Đwai Kabait (ông đội Kabait).
Cũng có dòng họ đặt theo tên vua : họ Po Rome, họ Po Gihlw hoặc đặt theo tên lòai cây trụ trong kut chính , họ Ga dak, họ Mul Pui , nhưng không dùng họ này đặt tên riêng.

Họ và tên còn đặt theo tôn giáo ( Islam) :Thường do sự tiên đoán tương lai của đứa con mà người cha chọn 1 trong 25 vị thánh đặt tên :

. Con trai là Ali, Ibrohim, Mousa, Ysa…
. Con gái là : Fatima,Khođijah,Maryam… 

Cách đặt tên theo giấy khai sinh :
Vào đời vua Minh Mạng ( 1820-1840) , năm thứ 14 , nhà vua ban cho người Chăm các họ theo phong tục Việt Nam :

. Bá
. Đàng
. Hứa
. Lưu
. Lựu
. Hán
. Lộ
. Mà
. Châu
. Nguỵ
. Tử
. Tạ
. Thiên
. Uc
. Vạn
. Lâm
. Hải
. Báo
. Cây
. Dương
. Quảng
. Qua
. Tưởng
. L… 

Số người có công với triều đình được mang họ Nguyễn . 

Như vậy có sự giao lưu văn hoá Kinh – Chăm , nhưng nét đặc sắc của văn hoá Chăm là Họ tộc Chăm là theo Mẫu Hệ , ví dụ Nguyễn Văn Tỷ (khai sinh) , họ mẹ là Po Đăm hoặc Phú Trạm (khai sinh) , họ mẹ là Inrasara ./. 

BÀI THỨ BA – DÂN TỘC THÁI 
Dân tộc Thái có trên 1,32 triệu người, cư trú ở các tỉnh Tây Bắc, Hoà Bình, Thanh Hoá và Nghệ An.
Người Thái có nhiều họ khác nhau. Họ Lò không ăn thịt chim Táng Lò ( vật tổ). Họ Quang kiêng ăn thịt hổ…
Đồng bào Thái thờ cúng tổ tiên , trời , đất, cúng bản Mường , không theo tôn giáo nào.
Văn hoá nghệ thuật Thái rất độc đáo rạng rỡ với nghệ thuật ” Múa Xoè”, ” Múa Nón” , Khèn Thái, Pí Pặp, Quăm Khắp (Hát).
Các tác phẩm truyện thơ nổi tiếng như “Sống Trụ Son Sao ” (Tiếng dặn người yêu – như Truyện Kiều) mà Nguyễn Khôi đã chuyển dịch rất thành công sang thơ Song thất lục bát , tái bản nhiều lần ), Khun Lua – Nàng ủa , Em bé – Nàng Hổ ( như Tấm Cám của người Kinh .
Lối hát giao duyên ” Hạn Khuống” ( như Quan họ Bắc Ninh ) , rất hấp dẫn.
Nhìn chung người Thái là dân tộc phát triển trồng lúa nước , dệt thổ cẩm, làm được súng săn…
Thường được goi là ” người Kinh ” ở miền Núi.Có rất nhiều nhà hoạt động chính trị , tướng tá , văn nghệ sỹ khá nổi tiếng.
Người Thái có các họ : Bạc , Bế, Bua, Bun, Cà, cầm, Chẩu , Chiêu, Đèo , Hoàng, Khằm , Leo, Lỡo, Lềm, Lý, Lò, Lô, La, Lộc , Lự, Lường, Mang, Mè, Nam, Nông , Ngần , Ngu , Nho, Nhọt, Panh, Pha, Phia, Quàng, Sầm, Tụ, Tày, Tao, Tạo, Tòng, Vang, Vì, , Sa, Xin, .
12 họ gốc là Lò, Lường, Quàng, Tòng, Cà, Lỡo, Mè, Lù, Lềm, Ngần, Nông.
Người Thái có một số dòng họ quý tộc ( thường là các họ lớn ) tuỳ theo từng nơi đó là Cầm, Bạc, Xa, Đèo,Hà, Sầm, Lò…
Các tên khác của một số họ :
Họ Lò còn gọi là Lô, La, sau còn đổi là Cầm, Bạc, Điêu (Đèo), Tao (Đào), Hoàng , Lò Cầm (Lò Vàng) , Lò Luông (Lò Lớn).
Họ Lường còn gọi là họ Lương
Họ Quàng còn gọi là họ Hoàng, Vàng.
Cà còn gọi là Sa , Hà , Mào .
Vi còn gọi là Vi, Sa.
Lêm còn gọi là Lâm , Lim.
Ngành Thái đen còn có các họ Cầm , Bạc thường hay giữ các chức vị Chảu Mường . 
Ngành Thái trắng thường là các họ Đèo Lò làm Chảu Mường 
Các tên thường gặp , ví dụ như : 
Lò Văn Muôn (vui) 
Lò Văn ứt (đói) 
Hoàng Nó (vua măng). 
Xưng hô hàng ngày của người Thái thường không gọi tên tục của nhau Thưòng là hai ngưôi ” Cu-mưng ( như ủa- nỉ của Tàu, Toa- moa của Pháp , hiểu đơn giản như Tao-Mày – tôi- anh (chị). 
Thường gọi ” dựa ” con : Đàn ông là ải nọ… , ải kia… , người tôn trọng nhất gọi là “ải ộ”, anh là “ải luông”, bác là “ải lung” rồi ” ải thẩu”; đàn bà là Êm (ếm) nọ …, Êm kia , già nhất là Êm thẩu. 
Các vị chức sắc xưa thì gọi là Tạo nọ , Tạo kia hay Phìa nọ , Phìâ kia ( con cháu những người này cũng được tôn trọng gọi là Tạo con…, Nàng… già là bà Nàng…) 
Sau năm 1945 bà con dân tộc được đổi tên mới , đặt tên không theo truyền thống mà phù hợp với đời sống văn minh hiện đại.Ví dụ nhà văn nhà thơ lấy bút danh như Tòng ín là Ban Pún (Hoa ban nở). 
Dân tộc Thái có Huyền thoại về dòng Họ : Sau nạn hồng thuỷ , chỉ còn sống sót một cặp vợ chồng. Người vợ có một thỏi đồng liền đem ra nấu và đúc thành dụng cụ. Quá trình đúc đồng được chia làm mấy giai đoạn như : lúc đầu làm đồng nguyên , sau nấu gọi là lô, muốn tăng sức nóng thì phải quạt , rồi đảo quấy đều , sau đó thành nước loãng , đem luyện lại , tô luyện thành công cụ rắn chắc . 
Vì vậy khi sinh con , họ đặt cho con đầu lòng mang họ Tông (đồng), con thứ hai là Ló nay gọi là Lò (lô), con thứ ba họ Ví ( quạt) , con thứ tư họ Quá( quàng) , con thứ năm họ Đèo( đồng thành nước), con thứ sáu họ Liếng ( đã luyện ) nay gọi chệch là Lường , con thứ bày họ Cả ( tôi luyên rắn thành công cụ ) , nay gọi là Cà. 
Quá trình phân hoá giàu nghèo nên các họ trên đều có ngày giỗ riêng . 
Đến nay tên đệm Văn cho Nam và Thị cho Nữ khá phổ biến như người Kinh. 
Theo nghiên cứu của chúng tôi thì nét đắc sắc văn hoá dùng họ và đặt tên có thể thấy ở Thanh Hoá, Nghệ An và Lai Châu . 
Người Thái Trắng ở Lai Châu rất chú trọng lễ đặt tên cho con. Đồng bào cho rằng: Trẻ con mới sinh do vía yếu , không muốn người lạ lên nhà người ta gài vào đầu cầu thang một cành lá xanh và giắt tấm phên đan mắt cáo (Ta Leo). Đến ngày trẻ đầy tháng (Hết Hoóng) làm lễ cúng đầy tháng và cũng là lúc đặt tên cho trẻ . Cách đặt tên không trùng với tên gọi ông bà họ hàng nội ngoại là được. 
Ngườì Thái Nghệ an do Lê Thái Tổ cho di từ Thuận Châu vào Miền Tây Nghệ An. 
Người Thái ở Thanh Hoá có câu tục ngữ :” Người có họ , cây có vườn (con mi họ, co mi xuân). Người Thái gọi là ” Chao ” có nghĩa là nòi giống. 
Tại Tây Bắc họ Lường làm thày mo , họ Lò làm Tạo , nhưng ở Thanh Hoá thì họ Hà làm Tạo. 
Người Thái theo phụ quyền (huyết thống cha), ở Việt nam người Thái mang cả tên họ gốc và tên phiên âm sang tiếng Việt , ví dụ Chao Lộc là họ Lục. Đó cũng là nét văn hoá Thái trong cộng đồng 54 dân tộc Việt nam ./. 
BÀI THỨ TƯ – DÂN TỘC MƯỜNG 
Nguyễn Khôi ( Đình Bảng ) Cách dùng họ và đặt tên các dân tôc ở Việt Nam Dân tôc Mường Dân tôc Mường có trên 1,1 triệu người, chiếm hơn 1,5 % dân số Việt Nam 
Ngoài ra có các tên khác gọi : Mol, Mual, Mọi, Mọi bi, Au tá,. Tên Mường mới xuất hiện khoảng hơn một thế kỷ nay, để chỉ cộng đồng dân có nét tương đồng với người Kinh (Việt) sinh sống ở các bản Mường Hoà Bình,Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Sơn La,Thanh Hoá…”Mường” là một loại tổ chức hành chính cơ sở ở vùng núi , trở thành tên gọi của tộc người .Xét về nguồn gốc lịch sử , người Mường là người Việt cổ ( bản địa) từ 3000 năm trở về trước, từ sau thế kỷ 10 có sự cách biệt của nhóm người Việt ở đồng bằng với người ở miền núi nên dần dần có sự khác biệt thành người Kinh – người Mường.

Về kinh tế , đồng bào Mường trồng lúa nước là chính. Trên nương dẫy có ngô, khoai, sắn , đậu , đỗ. Một số nơi trồng tre, luồng, trẩu , gai, sở , đay, bông, quế, mía. Về chăn nuôi có trâu, bò,ngựa, lợn ,gà, ngựa, lợn, gà, vịt. Đồng bào có các nghề thủ công : dệt,đan lát, mộc… Ngoài ra còn thu hái các lâm thổ sản, săn bắt các lọai thú rừng để cải thiện bữa ăn hàng ngày .
.
Xã hội Mường Hoà Bình trước năm 1945 là một xã hội có đẳng cấp , trong đó mỗi con người được ” chính danh định phận “. Quý tộc gọi là Lang , bình dân gọi là Jan ( dan ) . Trong một mương ( Mường) gồm nhiều xóm , quý tộc thống trị đều là thành viên một dòng họ. Ví dụ dòng họ Bạch Công thống trị ở Mường Rếch ( 12 xóm ) . Con trai trưởng thống trị toàn bộ thung lũng 12 xóm gọi là Lang Cun ( cun ) . Lang Cun Mường Rếch là Cun Đếch ( Chiềng Rếch hay Cun Rếch là Cun Đếch ) Chiềng Rếch , tức là Chiềng của Mường Rếch). Các chi thứ chia nhau thống trị các xóm khác ở phạm vi ngoài Chiềng ( ý là trung tâm) . Đứng đầu xóm Đúp là con trai trưởng của một chi thứ của họ Bạch Công , đó là Lang Tạo ( Lang Đạo ) , nói rõ là Tao Tuúp ( Đạo Đúp , tức Lang Đạo xóm Đúp).
Nội bộ bình dân phân hoá thành từng lớp Âu. Người bình dân được cất nhắc vào bộ máy thống trị của Cun ở Chiềng hay Đạo ở xóm chức Âu, cao nhất là Âu Eng ( Âu anh) được ăn phần ruộng tốt nhất , chức nhỏ là Âu ún ( Âu em ) là tay chân cho Lang và các Âu anh sai phái.
Dưới Âu đến nóc dân thường được ăn ruộng công gọi là nhà nưóc , cấp thấp nhất là Noóc K,Loi (Nóc Trọi) sống bằng nước rẫy , đó là Tứa Roong , có ý khinh miệt..
Sau năm 1945 mọi người Mường đều được bình đẳng..
Gia đình Mường tổ chức theo mô hình gia đình nhỏ phụ quyền . Con trai là người được hưởng quyền thừa kế tài sản…

Dân tộc Mường theo hôn nhân một vợ một chồng bền vững , cư trú bên nhà chồng. Tục cưới xin giống người Kinh (chạm ngõ, ăn hỏi , xin cưới và đón dâu)..
Khi trong nhà có người sinh đẻ , đồng bào rào cầu thang chính bằng một phên nứa. Khi trẻ lớn một tuổi mới đặt tên..
Khi có người chết , tang lễ được theo nghi lễ nghiêm ngặt..
Tiếng Mường là một ngôn ngữ thống nhất , là hình ảnh của tiếng Việt ở giai đoạn tiếng Việt- Mường chung với đăc điểm chính là lưu giữ lại quá trình vô thanh hoá các phụ âm đầu. Ví dụ gà (Việt)/ ka (Mường), đi/ti, ba/pa….
Dân tộc Mường chưa có chữ viết riêng. Mo “đẻ đất đẻ nước” là tài liệu văn học dân gian có giá trị nhất trong kho tàng văn học dân gian dân tộc Mường..
Dàn cồng chiêng là nhạc cụ dân tộc đặc sắc nhất của dân tộc Mường. ở Phú Thọ còn dùng ống nứa gõ vào những tấm gỗ trên sàn nhà tạo thành những âm thanh để thưởng thức gọi là Đâm Đuổng.. 
Lễ sinh con; Ngày đứa trẻ ra đời cả gia đình mở tiệc ăn mừng , mời Mo đến cúng cho hai mẹ con khoẻ, bé ăn no chóng lớn . Cả gia đình vui như hội . Thời gian kiêng cữ từ 7-12 ngày . Con trai goi là Thóc giống (lọ me), con gái gọi là Rau cỏ (cách tắc) . Khi ở cữ , phụ sản phải qua tục Sưởi lửa . Bất kể mùa nào cũng phải ngồi bên bếp lửa , với ý là lưu thông khí huyết , ba ngày sau mới được lau tắm thân thể. Sau một tháng mới được ăn thịt gà (chỉ ăn đùi bóc sạch da) nướng với rau bệ. 
Ngay sau khi sinh đặt tên tạm , chờ đến đầy tuổi tôi (12 tháng) mới làm lễ đặt tên chính thức. Để cầu mong cho trẻ hay ăn chóng lớn người ta còn làm lễ cúng Mụ . Lễ vật gồm xôi, rượu , cá chép . Mâm cỗ đặt trên cửa sổ nhà sàn. Gia chủ cầu khấn mong cho đứa trẻ “thốt như cách, mách như đác” nghĩa là :” Tốt như ót , mát như nước”. 
Khi đứa trẻ lọt lòng mẹ , người Mường ở Vĩnh Phúc đặt đứa trẻ trên cái Cúm (mẹt to) có lót lá chuối rừng đã được nướng mềm . Người mẹ nằm ngay bên cạnh con. Nếu là con gái thì lấy cái hông nồi xôi bằng gỗ khoét rỗng (chõ) đập nhẹ xuống sàn , nếu là con trai thì lấy cái chài cũ , đập nhẹ xuống sàn , miệng nói: ” hỡi con trai dậy mà ti chài ti lứa. Hỡi con tứa dậy mà tháo thơ tháo thằm “, đại ý là : “Hỡi con trai dậy mà đi kéo chài, đánh lưới. Hỡi con gái dậy mà kéo tơ, kéo tằm”. Gọi và đập như vậy ba lần chờ đứa bé khóc to mới bế lên quấn tã lót. Ba tháng sau mới làm lễ Vía cho bé. 

Người Mường có họ tên như người Kinh . Do xưa kia, hình thái tổ chức xã hội đặc thù của người Mường là chế độ Lang đạo, các dòng họ Lang đạo (Đinh , Quách, Bạch, Hà) chia nhau cai quản các vùng. Đứng đầu mỗi Mường có Lang Cun , dưới Lang Cun có các Lang Xóm hoặc Đạo Xóm cai quản một xóm. Ngoài bốn họ trên còn có một số họ tiêu biểu như Bùi , Hoàng , Lê, Phạm, Trịnh, Xa, họ Phùng …
Ví dụ như
Đinh Công Vợi, Quách Tất Công, 
Bùi Thị Phệu, Phùng Thị Lợi , 
Hà Công Rộng , Bạch Thành Phong , Bùi Văn Kín./. 

BÀI THỨ NĂM – DÂN TỘC MÔNG 
Dân tộc Mông có trên 784 nghìn người. cư- trú tập trung ở các tỉnh Hà Giang , Lào Cai, Tuyên Quang, Yên Bái,Lai Châu , Sơn La, Cao Bằng , Nghệ An… 
Còn có tên là Mông roi ( Mèo Trắng ) , Mông Lềnh ( Mèo hoa), Mông roi ( Mèo đỏ), Mông đú( Mèo đen) , Mông súa ( Mông mán). Mông có nghĩa Người. 
Dân tộc Mông có bản sắc văn hoá rất độc đáo. Gốc gác ở vùng Quý Châu Trung Quốc , gọi là Miêu Tộc (miêu gồm bộ thảo và chữ điền nghĩa là mạ , là mầm , là dáng diệu xinh đẹp , một tộc người biết trồng lúa từ xa xưa). Do bị phong kiến Hán tộc tàn sát nên di cư- xuống Việt nam… , tên đồng bào tự gọi nhau là H’Mông, có nghiã là Người. 
Từ trước đến nay , các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc vẫn kiên trì coi ngôn ngữ nhóm H’Mông – Dao thuộc ngôn ngữ Hán Tạng. 
Người H’Mông , có người nghiên cứu tìm ra có nhiều cái nhất: 
Ngôn ngữ có nhiều thanh nhất 8 thanh chia thành nhiều âm vực ; Vốn từ láy dồi dào . 
Hệ thống âm đầu rất phong phú có từ 51-57 phụ âm đầu ; Âm nhạc H’Mông có tiếng Sáo , Khèn Mèo, đàn môi nổi bật gai điệu ở dạng gãy khúc “nhâp nhô” như- đỉnh non cao mà họ cư- trú . 
Ngoài ra còn có Gạo Mèo, Rượu Mèo, Táo Mèo là ngon nhất; Lợn Mèo , bò Mèo là to nhất ; Cày Mèo, cối xay Mèo bằng đá độc đáo bền nhất, ruộng bậc thang với hệ thống tới tiêu ở lưng chừng núi tuyệt vời nhất; Váy Mèo, áo Mèo sặc sỡ đẹp nhất ; Múa Mèo , hát Mèo vào loại hay nhất; Súng Mèo tự tạo , dao Mèo tốt sắc nhát; Đi bộ leo dốc giỏi nhất; Dũng cảm , vượt gian khó , hiên ngang nhất . 
Tại Việt nam cùng thời với Hoàng Hoa Thám đánh Pháp người H’Mông cũng có Giàng Chỉn Hùng ( Bắc Hà ) Thảo Nủ Đa ( Mù Cang Chải ) Giàng Tả Chay ( Tây Bắc) . Sau nay có Vừ A Dính( Tuần Giáo ) – Kim Đồng ( Cao Bằng ). Nhân vật lịch sử Vua Mèo Vàng Chí Sình ( Bắc Hà ) sau cũng theo Việt Minh đánh Pháp. Thời nay có nhiều người H’Mông học tới Cử nhân , Tiến sỹ , ví dụ Tiến sỹ Thào Xuân Sùng , bí thư tỉnh uỷ Sơn la. 
Về văn học có “Tiếng hát làm dâu” “Tiếng hát mồ côi” nói lên thân phận con người thật là thống thiết , dù ai “cứng lòng” mà đọc cũng phải rư rưng nước mắt! . “Dân ca Mèo”, truyện cổ tích Mèo cũng rất phong phú. Quan hệ dòng tộc rất đặc sắc , mỗi dòng họ cư- trú quây quần thành từng cụm , có một trưởng họ đảm nhiệm công việc chung “đi đâu ở đâu” có họ hàng , sống chết không rời nhau. Có tục “Háy Pú” , cướp vợ rất đặc sắc. Đồng bào có chữ viết riêng. 
Lễ cúng khi sinh đẻ: Đồng bào quan niệm rằng: Con người ta có hai phân (thể xác và linh hồn) , họ không quan tâm nhiều đến phần thể xác. Họ cho rằng con người sinh ra trên cõi đời chỉ cần nhìn thấy ba lần ánh mặt trời cũng là một kiếp     người. 
Một con người có ba linh hồn : 
Hồn thứ nhất ở đỉnh đầu, do đó kiêng xoa đầu trẻ em vì hồn nó yếu , xoa đầu hồn sẽ bỏ đi , vì thế ai xoa thì phải làm lễ gọi hồn về. 
Hồn thứ hai ở vùng ngực , hồn này ít bỏ đi lang thang , nhưng khi đã bỏ đi thì bệnh sẽ nặng 
Hồn thứ ba ở rốn, hồn này cai quản thân xác và nội tạng , hồn này bỏ đi là đau nội tạng , đau bụng (hồn này ở phụ nữ yếu hơn nam giới , nên phụ nữ hay đau bụng hơn , hồn bỏ đi không về sẽ chết). 
Khi chết hồn thứ nhất bay lên tầng cao nhất cùng tổ tiên trên trời (cõi tiên) . 
Hồn thứ hai bay lên chỗ Ngọc Hoàng chờ đầu thai vào kiếp khác (ai xấu sẽ đầu thai làm con vật); Hồn thứ ba gác phần mộ , lởn vởn nơi tầng thấp của Ngưu ma vương , thường bay về quấy nhiễu. Vì thế người H’Mông rất quan tâm đến việc thờ cúng gắn với chu kỳ đời người. 
Khi bà mẹ sắp sinh em bé thì nhà có lễ cúng “đề ca súa” , cầu cho mẹ tròn con vuông. 
Đồng bào cho rằng : Khi trẻ sinh ra chư-a có linh hồn ngay, phải sau 3 ngày mới tổ chức lễ gọi hồn (húp hi) – đây là lễ lớn , thông báo cho sự ra đời của một thành viên trong gia đình . Đây cũng là lúc đặt tên cho trẻ. Tên trẻ không đư-ợc trùng với tên ông bà , tổ tiên , họ hàng . Cuối lễ , thầy cúng xem chân gà “bói” tư-ơng lai cho trẻ. 
Về họ và tên , những người có chung một họ như- Giàng , Vừ , Thào , Lầu , Lý… đều coi nhau như- anh em , dẫu không chung một tổ. 
Người H’Mông ở Lào Cai , Thanh Hoá và Nghệ An có nhiều nét văn hoá đặc sắc. Người H’Mông ở Lào Cai có hơn 30 họ, các họ lấy tên con vật như- Sùng (gấu), Hầu (khỉ) ,Lồ (lừa), Mã (ngựa) Giàng (dê) và Lùng (rồng). Có họ lấy màu sắc đặt họ ví dụ Hoàng (màu vàng), Lù (màu xanh) Hùng (màu đỏ). Có họ lấy tên cây , ví dụ như- Lý (mận) Thào (đào). Họ còn lấy tên đồ vật , ví dụ như- Cư- (trống), Thèn (thùng) . 
Đồng bào đặt tên nhiều lần : 
Khi bé đầy tuổi , có lễ mừng tuổi , Lễ đội tên đệm của bố cùng lúc với lễ mừng con đầu lòng 1 tuổi. Khi ấy con trai tặng nỏ , súng , dao , cháu gái tặng cuốn chỉ thêu, tấm vải . ước nguyện trai tài gái đảm. 
Lễ đặt tên lần thứ hai “Tì bê lầu” , thịt một con lợn tặng bố mẹ vợ nửa , cầu khấn những điều tốt lành , buộc chỉ cổ tay , đặt tên đệm mới cho con rể. Bố mẹ vợ tặng vật kỷ niệm cho con rể thường là đồng bạc trắng , cái địu con . 
Có trường hợp người đàn ông có đến 3-4 tên , khi đau ốm hoặc rủi ro , tai nạn thì lại làm lễ đặt tên lại . 
Đồng bào quan niệm “thùng sếnh, thùng đang” tức là cùng họ cùng ma vì làm ăn làm uống ta có thể học ngư-ời khác , nhưng làm ma thì không thể theo người ta đựơc.
Lễ ma có 4 lễ : 
. Lễ ma tươi 
. Cúng ma bò 
. Cúng ma lợn 
. Cúng ma cửa 
Đúng là , cách đặt 3-4 tên của ngư-ời H’Mông mang bản sắc văn hoá thật độc đáo ./. 
BÀI THỨ SÁU – DÂN TỘC KHƠ ME 
Dân tộc Khơ Me có trên 1 triệu người , sống tập trung ở các tỉnh Sóc Trang , Vĩnh Long, Trà Vinh , Cần Thơ, Kiên Giang , An Giang .
Còn có các tên khác Khơ Me Krom, Cur, Cul , Thổ, Việt gốc Miên .
Tên Khơ Me bắt nguồn từ tiếng Phạn ( Ấn Độ ) Khêmara có nghĩa là “An Vui Hanh Phúc.”
Đây là một cư dân sống lâu đời ở Đồng bằng Sông Cửu Long, sống xen kẽ với người Kinh và người Hoa.
Đồng bào biết thâm canh lúa nước từ lâu đời, biết làm thuỷ lợi và lợi dụng thuỷ triều để thay chua rửa mặn, xổ phèn cải tạo đất.Có địa phương trồng nhiều dưa hấu . Chăn nuôi gia súc , gia cầm , làm các nghề thủ công (dệt , gốm…) và làm đường Thốt nốt.
Dân tộc Khơ Me sống quần tụ thành các phum , sóc( như thôn ấp của người Kinh , gồm từ 17-70 nóc nhà. Trên các phum sóc không có đình mà có chùa , gọi là chùa Khơ Me . Các chùa này có cấu trúc khá giống nhau tuy quy mô khác nhau . Chùa là nơi thờ Phật và là nơi hành lễ của dân làng.
Về trang phục : đàn ông đóng khố sampôt. đàn bà mặc váy xà rồng , dài chấm mắt cá chân , màu gụ, có nhiều hoa văn đẹp . Ngày xưa phụ nữ không mặc áo mà dùng một tấm vải vắt chéo qua vai để che ngực , có thói quen quấn khăn Khrâm lên đầu . Nhà sư cọc trọc đầu , râu và lông mày. Khoác áo cà sa , mang khố vàng màu nghệ và ô trắng hay vàng.
Đồng bào Khơ Me có ba hình thức tôn giáo , theo tín ngưỡng dân gian , đạo Balamon,Phật giáo tiểu thừa . Trong mỗi chùa có nhiều sư sãi( gọi là các ông Lục ) và do sư cả đứng đầu . Con trai Khơ Me trớc khi trưởng thành thường đến ở chùa để tu học, trau dồi đức hạnh và kiến thức. Nhà chùa thường dạy kinh nghiệm sản xuất , dạy chữ. Hiện nay có trên 400 chùa Khơ Me.
Ngời Khơ Me ghi chép lại một nền văn học rất phong phú của mình trên lá buông gọi là Xatra . Văn học dân gian truyền miệng cũng vô cùng phong phú . Nghệ thuật sân khấu gồm nhiều loại Dù kê, Rô băm . Các điệu múa nổi tiếng : Lăm vông, Múa kiếm ( Răm khách ), Lăm Lêu…
Các ngày lễ lớn là Choi Chnăm Thơ Mây( Mừng năm Mới ) , Lễ Phật đản , lễ Đôn ta ( xá tội vong nhân ) , Oóc Bom boóc ( cúng trăng ).
Các họ của người Khơ Me :
Bàn , Binh , Chau , Chiêm , Danh , Dơng, Đào, Điêu, Đoàn , Đỗ, Hiùnh, Hứa , Kỷ, Liêu, Lộc , Lục, Lu , Mai , Neang, Nuth, Ngô, Nguyễn, Panth, Pem, Pham , Sơn, Tăng, Tô, Từ , Tng, Thạch, Thị , Thuấn, Trà , Trần, U, Uônth, Xanh, Xath,Xum…
Các họ tên tiêu biểu của người Khơ Me Danh , Sơn, Kim, Thạch , Châu , Lâm , ví dụ :
Danh út, Ngọc Anh ( Nam )
Lâm Phú Thạch Thị ( nữ). 
Phụ nữ thường phân biệt bằng chữ Thị hoặc Nêang . Người Khơ Me có họ từ thời Nguyễn , vua Minh Mạng , để kiểm kê hộ khẩu dân số. Trước đó người Khơ Me không có họ.
Nét văn hoá đặc sắc trong văn hoá dùng họ và đặt tên của ngời Khơ Me chính là : Để phân biệt những người cùng tên và có quan hệ huyết thống thì người Khơ Me thường gọi kèm tên người cha ( phụ tử liên danh) , tên người cha thành họ của người con./. 

NHÂN ĐỌC BÊN THẮNG CUỘC CỦA OSIN HUY ĐỨC (I)

2 phản hồi

Nguồn facebook Anhgaupham

Ngày hôm qua tôi đã đọc xong bản điện tử của quyển một (Giải Phóng) của bộ sách mới của anh Huy Đức với tựa đề Bên Thắng Cuộc gần như liên tục trong vòng 9 tiếng. Chủ đề của cuốn sách, những vấn đề mà nó xem xét cũng là những điều làm tôi suy nghĩ vương vấn trong đầu nhiều năm nay.

Là một nhà báo năng động và thành công ở Sài Gòn trong giai đoạn Việt Nam đổi mới, anh Huy Đức có lợi thế gần như không ai có được ở khả năng tiếp cận với các cá nhân đã từng hoặc vẫn đang là giới chức cao cấp hàng đầu của CHXHCN Việt Nam và các nhân sỹ, trí thức và cựu quan chức của Việt Nam Cộng Hòa. Khả năng ngoại ngữ và góc nhìn hướng ngoại của anh cũng giúp anh gặp gỡ với các nhân vật Mỹ có liên quan tới giai đoạn lịch sử thời chiến tranh Việt Nam. Nhờ những lợi thế này anh Huy Đức đã gom góp được một nguồn sử liệu khổng lồ từ các trao đổi cá nhân thu thập từ chính nhân vật lịch sử. Các thông tin nguồn chính này kết hợp với các nguồn tham khảo đồ sộ mà tác giả sử dụng tạo dựng cho cuốn sách này vị thế của một tác phẩm kinh điển tức thì về lịch sử Việt Nam. Tôi tin rằng hàng chục năm nữa người ta vẫn sẽ còn tiếp tục trích dẫn từ cuốn sách này.

Anh Huy Đức không được đào tạo về những phương pháp hiện đại nghiên cứu và tái dựng lịch sử. Anh cũng không được đào tạo bài bản và chuyên nghiệp về báo chí mà đã tự học lên từ thực tế công việc. Biết vậy tôi càng cảm phục hơn tinh thần và nỗ lực làm việc nghiêm túc mà tác giả đã đổ vào tác phẩm đồ sộ này. Tôi dễ dàng cảm nhận thấy từ giọng văn bình thản, lối trình bày thông tin, dữ liệu tương đối cân bằng; cách tác giả không sa đà vào phân tích; cách đặt tên các tựa đề và đề mục là tác giả đã bỏ công nghiên cứu cấu trúc và phương pháp viết sử tương đối khoa học của các tác giả Mỹ viết sử Việt Nam như Stanley Karnow (Vietnam: A History), William Duiker (Ho Chi Minh: A Life), Sophie Quinn-Judge (Ho Chi Minh – The missing years). Tôi tin cuốn sách này đã xác lập chắc chắn vị trí của anh Huy Đức trong số những người viết sử Việt Nam hàng đầu

Tôi muốn nhấn mạnh nhận xét về cách tác giả không sa đà vào phân tích. Điểm này đặc biệt ở chỗ nó khác hoàn toàn văn phong báo chí đã trở nên quen thuộc của chính tác giả. Giống phần lớn người viết Việt Nam học và làm nghề viết trong môi trường không đề cao kỹ năng viết, nhà báo Huy Đức có xu hướng mắc phải những lỗi lập luận đơn giản mà một nhà báo phương Tây chịu sự kiểm tra kỹ càng của công chúng ít mắc. Tôi sơ cử ra hai lỗi đã thấy ở anh Huy Đức: một là trích dẫn một nguồn uy tín và coi đó nghiễm nhiên là sự thật và hai là xuất phát từ định kiến có sẵn khai triển lập luận. Tôi cảm thấy vui mừng khi cảm nhận thấy anh Huy Đức đã áp dụng một cách thức trình bày và phân tích thông tin dữ liệu cân bằng, khách quan và bình thản. Cách tác giả đưa ra một lượng thông tin ngồn ngộn rồi để độc giả tự nghiền ngẫm và quyết định cách phân tích và cảm nhận theo tôi là cách tốt nhất khi viết về một vấn đề vẫn còn gây tranh cãi, chia rẽ, xung đột, và kể cả thù hằn là vấn đề chiến tranh Việt Nam.

Tuy vậy, sẽ là nhầm lẫn nếu suy luận từ sự thiếu vắng phân tích của chính tác giả trong tác phẩm để cho rằng tác giả không có thái độ cụ thể về chủ đề của tác phẩm. Thái độ của tác giả là gì trong trường hợp này là một thứ ý tại ngôn ngoại. Trong hoàn cảnh hiện nay ở Việt Nam, gần như tất cả các vấn đề mà tác giả đề cập đến (cải cách ruộng đất, học tập cải tạo, cải tạo tư sản, vượt biên có bảo lãnh) vẫn còn là những vấn đề cấm kỵ bị tránh né (dù nhiều điều đã là các bí mật mở). Việc tác giả tấn công trực diện từng vấn đề, nêu đích danh tên từng nhân vật, nhiều người vẫn còn sống còn quyền sinh quyền sát thể hiện một thái độ dũng cảm đáng kính trọng của tác giả. Sự dũng cảm này còn được thể hiện trong việc tác giả lựa chọn tự xuất bản sách qua kênh cá nhân như cách tuyên bố về sự độc lập, sự tự chịu trách nhiệm. Đây cũng là một sự cẩn trọng cần thiết đối với một người viết độc lập để giữ được uy tín với công chúng nhằm chống lại những buộc tội vô cớ chắc chắn sẽ đến về việc tác giả bị mua chuộc bởi các thế lực. Thái độ của tác giả trong trường hợp này có thể được so sánh như ý đồ của một nhiếp ảnh gia trưng bày ra một hình ảnh tĩnh của thực tại. Mỗi góc nhìn, mỗi chi tiết được nhấn mạnh, dưới ánh sáng nào, mầu sắc ra sao vv đều được tính toán kỹ và có lý do. Mỗi người chắc sẽ có cảm nhận khác nhau về thái độ của tác giả. Ấn tượng của tôi là về một thái độ tôn trọng sự thật rất đáng cảm phục và học tập.

Khi nhắc đến thái độ tôn trọng sự thật rất “đáng học tập” của tác giả, tôi đã để lòi ra một cái đuôi về một xuất thân giống với tác giả là cùng lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa. “Đáng học tập” hay “đáng biểu dương” hay “nêu gương” là những lời lẽ định hình chỉ trong môi trường thi đua phấn đấu của trường học xã hội chủ nghĩa. Sự tương đồng này dẫn dắt tôi đến một điểm khác đáng chú ý là việc tác giả là một trong số rất ít những người từ “bên thắng cuộc” đưa ra một góc nhìn khác về chiến tranh. Thời nay là lúc lý tưởng cách mạng trong xã hội Việt Nam ta đã nhạt nhòa và người ta không phải quá o ép lời ăn tiếng nói vì thế từ người bình dân tới cán bộ cao cấp ai ai cũng có thể nói những lời xét lại về quá khứ mà không sợ bị trừng phạt.  Tuy thế việc viết ra một cách có hệ thống các quan điểm xét lại này vẫn là điều không được chấp nhận. Một vài người viết như Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh, Dương Thu Hương với các suy tư về ngày 30/4/1975 đã gặp rắc rối vì các quan điểm xét lại. Để Huy Đức – một người lớn lên trong xã hội ưu việt miền Bắc, từ nhân dân cần lao mà ra, được giáo dục từ trong trứng nước về tư tưởng anh hùng xã hội chủ nghĩa và tính tất thắng của phe ta, lại từng là lính chiến đấu phụng sự sự nghiệp cách mạng cao đẹp – viết được một tác phẩm xét lại thế này cần một nỗ lực lớn hơn nhiều lần so với một học giả nước ngoài hay “phe họ”. Để một cá nhân đã được lập trình cho quen với vị thế tiện lợi của người chiến thắng, người đúng, phe chính nghĩa phải suy nghĩ lại, phải phân tích duy lý về vị thế đó và nếu thấy cần thì rời bỏ nó đòi hỏi những hoàn cảnh, hiểu biết, tính cách cá nhân nhất định. Một yếu tố quan trọng cần có nhưng khó có ở miền Bắc là óc tư duy phê bình. Những người như anh Huy Đức, như tôi, như thế hệ của chúng tôi lớn lên chỉ được tiếp xúc với thông tin một chiều và sự thật một chiều. Sự thật được đóng gói sẵn, cần là có, rất tiện lợi và ngon lành, việc gì mà phải đi tìm ở đâu nữa? Trong cái hang của Plato được giữ đóng và kín này thì lấy đâu ra hạt giống cho những suy tư khác, cho sự nghi ngờ về việc có tồn tại một thế giới khác bên ngoài hang? Cái nỗ lực của con kén phải rùng mình chui ra khỏi cái vỏ kín tối thực sự là đau đớn. Ngoài ra việc anh Huy Đức mới chỉ là cậu bé 13 tuổi khi kết thúc chiến tranh không có trải nghiệm trực tiếp trong cuộc chiến nhưng vẫn chuyển mình đủ để sau này trình bày gẫy gọn, súc tích, bình thản về những nỗi buồn chiến tranh là một tấm gương tôi thấy đáng học tập.

Trở lại câu hỏi về hạt giống nào của sự thật, trong hoàn cảnh như thế nào đã khởi động quá trình một người thắng cuộc bắt đầu nghi ngờ về vị thế siêu việt của mình. Tôi cho rằng hạt giống của sự thật thường đến trong hình hài của những mâu thuẫn. Suy nghĩ này làm tôi nhớ đến câu cách ngôn đại ý nếu cứ nói thật thì khỏi cần phải nhớ đã nói gì. Trong thực tế cuộc sống thì những thứ không phải là sự thật hoặc chỉ là sự thật một chiều – tôi định nghĩa là thứ sự thật quy ước cục bộ  – sẽ bị thách thức khi không gian quy ước cục bộ bị phá vỡ. Sẽ xuất hiện những bằng chứng về sự mâu thuẫn giữa những thứ không phải sự thật, sự thật cục bộ, quy ước với những sự thật toàn cục kiểm chứng được. Những bằng chứng mâu thuẫn sẽ khiến người ta xem xét lại hệ thống niềm tin sẵn có của người ta. Nhưng trên thực tế để đi từ chỗ bắt đầu xem xét tới chỗ có niềm tin mới là một quá trình rất dài lâu và khó khăn, càng khó hơn trong môi trường thiếu thông tin có sự kiểm soát, áp đặt tư tưởng.

Đối với anh Huy Đức, Dương Thu Hương và cả tôi những bằng chứng mâu thuẫn đầu tiên đến từ chính bên thua cuộc. Những gì chúng tôi được dạy về họ không giống những thứ chúng tôi quan sát được ở họ. Anh Huy Đức, trong tác phẩm này, vừa trực tiếp vừa định hướng, đã đưa ra một số lượng khổng lồ các bằng chứng loại này. Mỗi người đọc có thể tự suy ngẫm và so sánh với niềm tin riêng của mình. Sự thay đổi về niềm tin nếu có phải là một hành trình cá nhân.

Mười tám năm trước có lần tôi tranh luận mười mấy tiếng đồng hồ với một người bạn nước ngoài về vấn đề học tập cải tạo sau chiến tranh. Người bạn đó có một người bạn Việt Kiều ở Thụy sỹ tên là Loan; cha cô Loan đã đi học tập hơn 10 năm. Người bạn tôi nói rằng việc tập trung cải tạo giam giữ lâu dài như thế là không cần thiết và vô nhân đạo. Tôi, bên thắng cuộc, nói rằng người chiến thắng đã hy sinh quá nhiều để giành chiến thắng và có quyền bảo vệ chiến thắng đấy. Bảo vệ chiến thắng bằng cách cho đối phương học tập cải tạo là lựa chọn tử tế và nhân đạo hơn so với việc giết họ đi. Tôi cũng nói đám người vượt biên là đám ô nhục bỏ tổ quốc ra đi vì lý do kinh tế. Cuộc tranh luận bất phân thắng bại kết thúc bằng việc hai bên không ai chịu ai đều khóc. Sau khi lớn lên được tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin và nhân vật lịch sử của cả hai bên, được đọc nhiều sách vở bằng ngoại ngữ, rồi được qua Mỹ học về hành chính và qua đó thu thập được những công cụ phân tích cơ sở, tôi đã dần dần tự luận ra được nhiều điều. Giờ đây nhiều năm sau tôi tự cảm thấy đã có những niềm tin khác cân bằng và ôn hòa hơn. Là người sinh ra sau chiến tranh, gia đình không mất ai trong chiến tranh, hiện không hoạt động chính trị hay tham gia đảng phái nào (tôi cũng chỉ có một đảng là đảng Việt Nam), dựa trên những hiểu biết tự thu thập và xử lý, với tuyên bố rằng không ai mua chuộc hay ép buộc tôi, tôi nói nhân danh cá nhân tôi rằng những gì đã xảy ra, đặc biệt trong thời hậu chiến, như anh Huy Đức đã kể ra rành mạch trong tác phẩm này của anh, quả thực là quá oan ức và đau khổ cho miền Nam. Vì điều đó nhân danh chỉ cá nhân tôi tôi muốn được xin lỗi.

DANH HIỆU VIỆN SĨ VIỆN HÀN LÂM PHÁP CỦA GS PHAN HUY LÊ: MỘT SỰ MẠO XƯNG LIỀU LĨNH ?

2 phản hồi

DANH HIỆU VIỆN SĨ VIỆN HÀN LÂM PHÁP CỦA GS PHAN HUY LÊ: MỘT SỰ MẠO XƯNG LIỀU LĨNH ?

 
Nguyễn Hưng           
 
         Từ giữa thàng 10/2012, sau khi bài Lược khảo về các tên gọi viện hàn lâm và viện sĩ cùng những nhầm lẫn tai hại của tác giả Lê Mạnh Chiến xuất hiện trên  tạp chí Nghiên cứu & Phát triển  rồi được một số website đưa lên mạng Internet, bài báo ấy đã được phổ biến một cách nhanh chóng..  Rất nhiều độc giả cảm thấy sửng sốt khi biết rằng, lâu nay, các tên gọi “viện hàn lâm” và “viện sĩ” đã được hiểu một cách mơ hồ dựa trên sự suy luận theo cảm tính, dẫn đến những  “nhầm lẫn tai hại”. Tiếc thay, những “nhầm lẫn tai hại” ấy lại rơi vào những “trí thức tinh hoa” vốn được coi là những “bậc thầy” trong lĩnh vực văn hóa – giáo dục.
        Tuy nhiên, tác giả bài đó chưa  (hoặc chưa có điều kiện) chỉ rõ, ngoài những  “nhầm lẫn tai hại” còn có sự mạo xưng có tính toán, có đạo diễn kỹ càng. Nay chúng  tôi  đã có  bằng chứng đầy  đủ về vụ mạo xưng liều  lĩnh của GS Phan Huy Lê.. Trước  khi nói về vụ này, chúng tôi thấy cần đúc kết sự phân tích  về những “nhầm lẫn tai hại” trong bài Lược khảo…. và  xin phép bổ sung một số ý nhỏ để làm  rõ nét  hơn về hiện tượng phản văn hóa khá phổ biến này.
 
I.              Những nhầm lẫn tai hại về viện hàn lâm và viện sĩ
 
              Danh tiếng của Viện hàn lâm Pháp (Académie franÕaise)  trong giới trí thức tân học ở nước ta hồi nửa đầu thế kỷ 20 đã khiến cho tên gọi “viện hàn lâm” (tương ứng với Académie, Academy và Akademiya trong các thứ  tiếng Pháp, Anh và Nga) thu hút sự sùng kính và ngưỡng mộ. Tiếp theo đó, tên tuổi lẫy lừng của một số viện sĩ thuộc Viện hàn lâm khoa học Liên Xô trong vài chục năm giữa thế kỷ 20 lại càng làm cho các tên gọi Viện hàn lâm và viện sĩ trở nên cao quý lạ thường. Mặt khác, các khái niệm về viện hàn lâm và viện sĩ thoạt nhìn có vẻ rất đơn giản nên không mấy ai tìm hiểu kỹ càng. Từ đó, dẫn tới những nhầm lẫn lâu dài. Có thể kể ra một số nhầm lẫn phổ biến nhất như sau:
 
1.          Tên gọi “Viện hàn lâm” trong tiếng Việt tương ứng với chữ  Academy trong tiếng Anh (hoặc Académie, Akademya trong tiếng Pháp và tiếng Nga). Tuy nhiên,  các  chữ Academy, Académie, Akademiya …lại còn có những nghĩa khác  như học viện, trường học (trung học, đại học), hiệp hội học thuật, v.v. Ở nước ta, nhiều người khi gặp các chữ này đều dịch là “viện hàn lâm” ngay cả  khi nó có nghĩa là trường học hoặc là hội học thuật. Bởi vậy, có vị giáo sư từng học tại trường đảng của Liên Xô mang tên là Akademiya obshhestvennykh nauk (Học viện khoa học xã hội) thì xưng là đã nghiên cứu tại Viện hàn lâm khoa học xã hội Liên Xô. Phần lớn các trường đại học quân sự ở  Nga (và  Liên Xô trước đây) thường được gọi là Akademiya, nhưng các sĩ quan Việt Nam theo học ở đấy lại gọi  trường học của mình là Viện hàn lâm quân.sự. Lỗi này có lẽ  là do hiểu biết về tiếng Nga quá hẹp.
 
2.          Nhiều người tưởng lầm rằng, hễ mang danh Viện hàn lâm thì mặc nhiên có giá trị rất cao về học thuật, mà không biết rằng, trên thế giới có vô số viện hàn lâm, và ngay ở một nước cũng thường có nhiều viện hàn lâm  nên giá trị của các viện không như nhau, nhiều khi khác xa nhau  “một trời một vực”. Có viện hàn lâm đã có uy tín trên toàn thế giới từ hàng trăm năm. Nhưng cũng có những viện mới mọc ra gần đây ở các nước mới phát triển. nên có giá trị thấp, không mấy ai để ý đến. Ngoài ra, còn có những hội đoàn của tư nhân, đặt tên cho hội của mình bằng chữ Academy cộng thêm một phụ tố nào đó cho có vẻ khoa học và sang trọng  để kiếm nhiều tiền bằng cách kết nạp tất cả những người đồng ý nộp lệ phí để được cấp thẻ hội viên. Không ít kẻ hiếu danh đã tự biến mình thành “viện sĩ hàn lâm” bằng cách đó. Đa số dân ta thường nghĩ rằng viện sĩ là  “to chuyện” lắm, vẻ vang lắm, ai biết đâu rằng “tấm bằng viện sĩ” ấy chỉ là cái thẻ hội viên với giá  trên –dưới 100 USD, tùy từng “viện hàn lâm”loại này.
 
3.          Hầu hết mọi người ở nước ta, kể cả những người biên soạn từ điển tiếng Việt  đều  nghĩ rằng, thành viên của viện hàn lâm tức là viện sĩ. Nhưng theo quy chế của các viện hàn lâm thì hoàn toàn không phải như vậy. Trong một viện hàn lâm ở nước ngoài thường có từ hai ngạch thành viên trở lên nhưng chỉ có ngạch thành viên chủ chốt (gọi là thành viên chính thức, thành viên thực nhiệm) mới được gọi là viện sĩ. Danh hiệu член-корреспондент  ở  Nga đáng lẽ phải dịch là thành viên thông tấn thì suốt hơn nửa thế kỷ vừa qua vẫn bị dịch saiviện sĩ thông tấn. Những người mà lâu nay ở  nước ta gọi viện sĩ của các Viện hàn lâm khoa học ở Liên Xô hoặc ở các  nước  Đông  Âu, thực ra, đều không phải là viện sĩ, mà chỉ là thành viên nước  ngoài của các viện đó (một danh hiệu có ý nghĩa ngoại giao), vì viện sĩ của các nước ấy đều phải gắn liền với quốc tịch của từng nước. Ở Nga hiện nay có khá nhiều tổ chức được gọi là Akademiya (với  nghĩa là “viện”, có thể dịch là “viện hàn  lâm” chứ không phải  là trường học) nhưng Chính phủ Liên bang Nga chỉ cho phép 6 viện như vậy được gọi các thành viên chính thức của mình là akademik (tức là  viện sĩ), đó  là Viện hàn  lâm khoa học Nga và 5 viện hàn  lâm chuyên ngânh, gồm có  Viện hàn  lâm Y học Nga, Viện hàn lâm Nông  nghiệp Nga, vVện hàn lâm Giáo dục Nga,  Viện hàn lâm  Kiến trúc  và  Khoa học xây dựng Nga, Viện hàn lâm Nghệ thuật Nga (xem: mục từ Академик trên từ điển  Wikipedia, tiếng).
              Có một vị giáo sư từng  giữ chức vụ rất to, vẫn tự xưng  là viện sĩ  Viện hàn lâm giao thông Nga.( Российская Академия транспорта, thành lập ngày 26/6/1991). Viện này có 966 thành viên thực nhiệm (966 действительных членов) và 42 đại biểu nước ngoài (xem tại http://www.academtrans.ru). Vì  không  có  quốc tịch Nga  nên ông giáo sư này chỉ có thể thuộc con số 42 đại biểu nước ngoài chứ không phải là thành viên thực nhiệm (tức là thành viên chính thức). Viện này lại không nằm trong  6 viện được phép gọi các thành viên  chính thức của mình là viện sĩ. Vậy thì ông ta  không thể là viện sĩ của Viện hàn lâm giao thông Nga.
             Lại một giáo sư khác từng  là quan to, cũng được gọi là viện sĩ. Có  nơi   nói ông là viện sĩ của Viện hàn lâm khoa học sư phạm Nga (tức Viện hàn lâm giáo dục Nga, Росси́йская акаде́мия образова́ния), nhưng ông lại không có tên trong danh sách 278 thành viên (gồm các viện sĩ và các thành viên thông tấn) của Viện này. Có nơi khác  lại nói ông là viện sĩ của Viện hàn lâm khoa học chính trị Nga (Российская академия политической науки). Chẳng biết có phải như vậy hay không, vì trên website chính  thức của nó không công bố danh sách thành viên, nhưng viện này không nằm trong 6 viện được phép  gọi các thành viên chính thức của mình là viện sĩ, cho nên ông không thể là viện sĩ ở đây. Sự nhầm lẫn của hai giáo sư này là do thiếu hiểu biết hay cố ý.? Chỉ có các ông ấy mới biết, nhưng rõ ràng, đây là những  sự nhầm lẫn khá tai hại.
 
4.          Mọi người đều biết rằng, có vô số viện hàn lâm, mỗi viện đều có một tên riêng, rất cụ thể. Bởi vậy, danh hiệu viện sĩ phải gắn liền với tên của viện hàn lâm, nơi ông ta được bầu. Ở  một nước có nhiều viện hàn lâm (ví dụ: nước Pháp), trong số đó có một viện quá nổi tiếng, mọi ngườì dân đều biết  (ví dụ: ở Pháp có Viện hàn lâm Pháp – Académie franÕaise), chỉ cần nhắc  đến Viện hàn lâm (L’Académie) là người ta nghĩ ngay đến nó và không cần gọi tên đầy đủ của nó. Cho nên, khi người Pháp chỉ viết  Académicien hoặc Membre de l’Académie thì đã có nghĩa  đó  là viện sĩ của Viện hàn lâm Pháp. – Académie franÕaise. Tuy nhiên, các viện sĩ hàn lâm Pháp rất ít khi nêu danh hiệu Académicien hoặc Membre de l’Académie ngay trước họ và tên của mình, mà thường đặt ở phía sau.  Ở Nga (hoặc Liên Xô trước đây), ngay trước tên của nhiều nhà  bác học lớn, chúng ta thường thấy có ghi danh hiệu Akademik (tiếng  Nga, nghĩa là viện sĩ), ví dụ: Akademik I.P. Pavlov, Akademik A.D. Sakharov . v.v. Chữ Akademik ở đây có  nghĩa là viện sĩ của Viện hàn lâm khoa  học Nga (hoặc Liên Xô) – Viện hàn lâm nổi tiếng  nhất trong số rất nhiều viện hàn lâm trên đất nước này. Nếu là viện sĩ của các viện khác  thì không được ghi như thế, mà phải ghi rõ là Akademik của Viện hàn lâm nào. Điều này cũng tương tự như  ở Việt Nam, từ “đảng viên” (mà không kèm theo tên đảng nào) thì chỉ có nghĩa là đảng  viên của Đảng Cộng sản  Việt Nam. Cũng cần nói thêm rằng, trong một nước đã có một viện hàn lâm quá nổi tiếng mà hế nói đến “viện sĩ” tức  là  nói đến thành viên thực nhiệm của viện ây, thì các ông viện sĩ của các viện đàn em hầu như không bao giờ đưa cái danh hiệu “viện sĩ của Viên hàn  lâm X” để khoe hoặc tôn xưng, vì người ta chỉ khoe và tôn xưng những gì thuộc hạng nhất, chẳng ai khoe hoặc tôn xưng  các thứ thuộc hạng hai hay hạng ba. Ví dụ, nếu ông  Lê Văn M. là đại biểu quốc hội thì có thể kèm danh hiệu ấy trước họ và tên của ông ta và viết:: ĐBQH Lê Văn M.. Nhưng nếu chỉ là đại biểu Hội đông  Nhân dân tỉnh, thì chẳng mấy ai nêu cái danh hiệu ấy  trước họ và tên của mình.Hầu  như các  vị đại biểu  HĐND tỉnh  hoặc huyện chẳng có ai ghi danh hiệu ấy trước  họ và tên của mình.
                  Có lẽ vì bắt chước theo người Nga nên ở Việt Nam đã có vài chục ông  giáo sư ghi danh hiệu viện sĩ ngay trước họ và tên của mình,  ví dụ: GS VS Nguyễn Văn  X., GS VS  Đặng Y., v.v, Nhưng, ở Việt Nam thì chẳng có viện hàn lâm nào cả, mà phải có một viện hàn lâm quá quen thuộc, tương tự như Đảng  Cộng sản Việt Nam vậy, thì các ông viện sĩ của viện ấy mới có thể bắt chước cách xưng danh hiệu như  người Nga. Huống chi, cái danh “viện sĩ” của các  ông ấy lại có rất nhiều nguồn gốc, phần  nhiều là  ảo, do sự “nhầm lẫn tai hại” mà có, hoặc nếu không ảo thì lại là viện sĩ của những viện hàn lâm mà không  mấy ai biết đến.
                  Tóm lại, ở Việt Nam ta, dù  là ai, nếu  ngay trước họ và tên của mình có chữ VS (nghĩa là  “viện sĩ”), hoặc viết hẳn  là  Viện sĩ, thì cách viết như vậy là không ổn, chẳng khácgì ta gắn danh hiệu đảng viên cho ông Barack Obama. Đương  nhiên, dù chỉ được bầu làm  viện sĩ của những viện hàn lâm có tên tuổi rất  mờ mịt thì cũng  là  một niềm vinh dự, và vẫn có thể  khoe, nhưng phải viết đúng cách. Ví dụ, nếu viết: Trịnh Văn K., viện sĩ  Viện hàn  lâm khoa  học Thế giới thứ ba thì đúng  là  người có văn hóa, nhưng nếu viết: GS VS  Trịnh Văn K. hay Viện sĩ Trịnh Văn K. thì không những chỉ sai đối với tiếng Việt, mà ở bất cứ ngôn ngữ nào cũng không ổn..
 
 
II.            GS Phan Huy Lê cố  ý mạo xưng Viện sĩ hàn lâm Pháp
 
1.    Khởi đầu từ sự nhầm lẫn
 
         Những nhầm lẫn về “viện hàn lâm” và “viện sĩ”  đã được phân tích trong bài Lược khảo về các tên gọi viện hàn lâm và viện sĩ cùng những nhầm lẫn tai hại, như chúng tôi vừa đúc kết (và có viện dẫn thêm)thành 4 mục nhỏ trên đây đều rất phổ biến, từ các em học sinh cho đến  các giáo sư  hàng đầu các ngành khoa học xã hội và ngôn ngữ đều mắc phải. Điều đó đã dẫn đến những sai lầm rất buồn cười. Thế mà bản thân những người được gán danh hiệu ảo ấy vẫn cảm thấy phấn khởi, tự hào và không muốn rời bỏ nó. Trong số bọn họ, liệu có ai chủ động mạo xưng hay không? Thật khó khẳng định là không có. Nhưng  khi chưa tìm thấy chứng cứ cụ thể về sự mạo xưng, tác giả bài báo ấy chỉ mới nói đến sự “nhầm lẫn tai hại”. Thân trọng như vậy là phải.
 
         Riêng về  GS Phan Huy Lê, chúng tôi mới phát hiện ra rằng, lúc đầu, quả  là ông có những “nhầm lẫn tai hại”, nhưng khi đã có người vạch ra sự nhầm lẫn thì ông quyết không chấp  nhận,  và quyết chí mạo xưng. Sau đây là những chứng cứ cụ thể.
         Trên tạp chí  Xưa & Nay số 383 (phát hành đầu tháng 7/2011) có bài “Giáo sư Phan Huy Lê được bầu làm thông tín viên nước ngoài  của Viện Hàn lâm Văn khắc và Văn học Pháp” chiếm trọn vẹn trang 8, khổ giấy A4 (xem hình ảnh thu nhỏ). Dưới bài  này không có tên tác giả. Vậy, đó  là bài của  Ban biên tập Xưa & Nay. Trang báo  này in hình bức Thư thông báo của ông Jean Leclant, thư ký trọn đời của Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn ở Pháp báo tin  về việc GS Phan Huy Lê được chỉ định làm thông tín viên nước ngoài (Correspondant étranger), phần  còn  lại gồm khoảng 700 chữ, phác họa   những  nét cơ bản về Viện này.
 
 

  
 
 
 

    Người viết bản  tin ấy hẳn là một biên tập viên thạo tiếng Pháp, đã tra cứu tư  liệu từ website chính thức của  Viện hàn  lâm Bi ký và Mỹ văn nên đã cung cấp được thông tin cần thiết và  mới mẻ.  Ông đã trình bày vắn tắt về lịch sử  (thành  lập năm 1663), quá trình  phát triển, những nhiệm vụ và thành tựu của Viện này qua các thời kỳ.  Bài báo cho biết, hiện tại, Viện này có 55 thành viên và 40 cộng tác  viên ở  nước  ngoài.. Xin nói thêm, theo quy chế hiện nay, Viện có 55 thành viên chính thức, tức là 55 viện sĩ mang  quốc tịch Pháp và 40 thành viên cộng sự người  nước ngoài, tất cả đều  tại vị trọn đời; ngoài ra,  còn có 50 thông tín  viên người Pháp (50 correspondants franÕais)  và 50   thông tín viên nước ngoài (50 correspondants  étranger) tại vị có thời hạn. Ông cũng cho biết “lý  lịch trích  ngang” (thiếu ngày sinh) của 7 thông tín viên nước ngoài  được chỉ  định ngày  27/5/2011, cùng một lần với GS Phan Huy Lê..

          Như vậy, danh hiệu “thông tín viên” cho GS  Phan Huy Lê đã được Ban biên tập của tạp chí Xưa & Nay  tra cứu và dịc rát chính xác, vì Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn đã xác định rằng, correspondant đảm  nhiệm  vai trò “trạm thông tin khoa học bên cạnh Viên hàn  lâm”. Vậy, correspondant chính  là  là thông tín viên. .
 
           Cũng vẫn tạp chí  Xưa & Nay, nhưng ở số 384 (phát hành cuối tháng 7/2011), tại trang 16 và nửa trên của trang 17  lại có bài  Chúc mừng Giáo sư Phan Huy Lê, với câu mở đầu như sau:
         “Nhân dịp GS NGND Phan Huy Lê được Viện Hàn lâm Văn khắc và Văn học nước Cộng hòa Pháp bầu là viện sĩ thông tấn nước ngoài* , Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển , Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cùng phối hợp tổ chức buổi gặp mặt thân mật với sự tham gia đông đảo và nhiệt tình của các nhà khoa học, các bạn đồng  nghiệp và sinh viên cũ và mới của GS Phan Huy Lê tại Hội trường Lê Văn Thiêm, 19 Lê Thánh Tông, Hà Nội.”
【Sau mấy chữ “Viện sĩ thông tấn nước ngoài* “ có một dấu sao (*) để ghi chú thích ở cuối bài:
(*) Membre correspondant étranger de l”Académie: Trên Xưa & Nay số 383, chúng tôi sử dụng cách dịch cũ từ những năm 1930 là “thông tín viên nước ngoài”, khi thuật ngữ “Viện sĩ thông tấn” chưa phổ biến trong tiếng Việt. Nay xin được sửa lại cho chính xác là: Viện sĩ thông tấn nước ngoài】..
           Cuộc họp long trọng này diễn ra ngày 25/7/2011.
 
        Độc giả tinh ý  sẽ thấy  ngay rằng, bài “Chúc mừng….” của Xưa & Nay số 384 nhăm mục đich gắn danh hiệu “viện sĩ hàn lâm” cho ông Phan Huy Lê.và  xóa bỏ danh hiệu “thông tín viên”
         
         Hai bài báo trên  Xưa & Nay  (số 383 và 384) cùng với các bản tin trên các báo khác đã giúp chúng ta hình dung động thái của ông Phan Huy Lê trong tháng 7 năm 2011 như sau.          
                        
          Đầu tháng 7 năm 2011, GS  Phan Huy Lê nhận được thư của ông Jean Leclant, thư ký trọn đời của Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn ở Pháp thông báo về việc ông ta được chỉ định làm thông tín viên nước ngoài (Correspondant étranger) của  Viện ấy. Tạp chí  Xưa và Nay  (của  Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, mà ông Phan Huy Lê là chủ tịch) là cơ quan báo chí được báo tin này rất sớm.. Chữ “correspondant” trong tiếng Pháp (và correspondent trong tiếng Anh, корреспондент trong tiếng Nga) có nghĩa là thông tín viên. Trong Viện hàn lâm khoa học Nga (hoặc Liên xô trước đây) có hai ngạch thành viên: thứ nhất là thành viên thực nhiệm (действительный член) là thành viên chính thức, được gọi là akademik, tức là viện sĩ; thứ hai là thành viên thông  tấn (член-корреспондент, chuyển sang tiếng Pháp là membre-correspondant), không được gọi là viện sĩ.  Nhưng  ở Việt Nam suốt hơn nửa thế kỷ vừa qua, từ член-корреспондент  bị dịch sai thành viện sĩ thông tấn, vì thiếu thông tin về các  ngạch thành viên của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Bởi vậy, khi được mời làm Correspondant, GS Phan Huy Lê đinh ninh rằng, hẳn đây cũng chính là membre-correspondant, tức là viện sĩ thông tấn..  Ông cũng tin rằng, ai cũng phải hiểu như mình, cho nên chỉ cần đưa bản sao chụp Thư thông báo của ông Jean Leclant cho một người biết tiếng Pháp trong Ban biên tập tạp chí  Xưa & Nay,  tự khắc người  ấy  sẽ giới thiệu ông  Lê là viện sĩ thông tấn.  Không ngờ, người này giỏi tiếng Pháp và cẩn thận hơn hẳn ông Lê nên đã tìm đọc website chính thức của Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn Pháp để tìm hiểu ngọn nguồn. Nhờ vậy, ông ta đã giới thiệu được những  nét quan trọng của Viện này.và gọi đúng nghĩa của chữ correspondant là thông tín viên. Vì ông Lê cũng  nhầm  lẫn như một số  người khác, nghĩ rằng, Correspondant cũng là Membre correspondant như ở  Nga mà lâu nay người ta vẫn dịch là Viện sĩ thông tấn. Nếu không có sự nhầm lẫn  như thế  thì chắc  hẳn  ông  đã  căn dặn hoặc thương lượng  với Ban biên tập ngay khi ông báo  tin để không bị lộ bí  mật như vậy.
        Danh hiệu “thông tín viên” của GS  Phan Huy Lê đã được giảng giải rất  rành mạch trong bài Lược khảo về các tên gọi.”viện hàn lâm” và  “viện sĩ” cùng nhứng  nhầm lẫn tai hại, với những cứ liệu rút ra từ website chính thức của Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn Pháp. Đó là sự thực không ai có thể chối cãi, là điều không thể đảo ngược.
 
2. Mạo xưng Viện sĩ hàn  lâm Pháp, đánh  lừa cả  nước
 
         Đến  lúc  đọc bài  báo trên Xưa & Nay số 383, trang 8, ông  Phan Huy Lê mới biết  danh hiệu thực của mình  chí  là thông tín viên, không  phải là viện sĩ như ông  đã hiểu lầm. Sự thật  đó khiến  ông cụt hứng.  Ông bèn  quyết chí mạo xưng  là viện sĩ. Danh hiệu thật của ông Phan Huy Lê bằng tiếng Pháp là Correspondant étranger de l’Académie des Inscriptions et Belles Lettres, ông bèn thêm một chữ Membre ở đàng trước để trở thành  Membre correspondant de l’Académie des Inscriptions et  Belles Lettres rồi từ đó dịch sang tiếng Viêt  là Viện sĩ thông tấn của Viện hàn lâm Văn khắc và  Mỹ văn.  Khi đã lách được cái danh viện sĩ rồi, ông  xưng luôn  là Viện sĩ hàn lâm Pháp. ..
         Việc tạp chí Xưa & Nay đưa tin GS Phan Huy Lê được bầu  làm thông tín viên nước ngoài của Viện hàn lâm Văn khắc và Văn học Pháp là một điều hết sức bất ngờ khiên ông Phan Huy Lê chưng hửng, nhưng đó là sự thực.  Nếu là người trung thực, ông Phan Huy Lê phải  cảm ơn người đồng nghiệp đã “mở mắt” cho mình và tiếp nhận sự thực đó. Nhưng, ông  ta đã không chọn cách ứng xử lương thiện như vậy.  Thế là, ông  lấy lại bình tĩnh, nén nỗi bực tức để bắt tay vào cuộc vận động ráo riết với ý chí sắt đá, quyết  mạo xưng là“viện sĩ hàn lâm Pháp”, rồi bắn tin đến các  cơ quan thông tin mạnh nhất để phổ biến đến khắp mọi ngành, mọi địa phương, mọi người,  Từ ngày 07/7/2011 trở đi, hàng ngàn trang thông tin điện tử  dồn dập  đưa tin về việc GS Phan Huy Lê trở thành Viện sĩ hàn lâm Pháp. Sau đây, xin nêu một số ví dụ:  
 
       Ngày  07/7/2011, báo điện tử VietNamNet đăng bài  Pháp bầu nhà sử học hàng đầu VN là viện sĩ (http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/29303/phap-bau-nha-su-hoc-hang-dau-viet-nam-la-vien-si.html)
 
   Ngày 07/7/2011, báo điện tử  Đất Việt, diễn đàn của Liên hiệp các hội khoa học và  Kỹ thuật Việt Nam   đăng bài GS Phan Huy Lê chính thức trở thành viện sĩ danh dự Pháp
 (http://baodatviet.vn/Home/congdongviet/ GS-Phan-Huy-Le-chinh-thuc-tro-thanh-vien-si-danh-du-Phap/20117/153916.datviet)
 
     Ngày 08/7/2911,báo điện tử của Chính phủ đăng bài Giáo sư Phan Huy Lê trở thành Viện sĩ hàn lâm Pháp (http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Giao-su-Phan-Huy-Le-tro-thanh-Vien-si-han-lam-Phap/20117/91210.vgp)

    Ngày 08/7/2011, trang điện tử  của tạp chí  Tia sáng đăng  bài Giáo sư Phan Huy Lê trở thành Viện sĩ hàn lâm Pháp (http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&News=4190&CategoryID=4)

       Ngày 08/7/2011, báo điện tử vnExpress đăng bài GS Phan Huy Lê được vinh danh là viện sĩ Pháp (http://vnexpress.net/gl/khoa-hoc/2011/07/gs-phan-huy-le-duoc-vinh-danh-la-vien-si-phap/)

      Ngày 11/7/2011, bản tin của  Nhà xuất bản tri thức đăng bài Giáo sư Phan Huy Lê trở thành Viện sĩ hàn lâm Pháp ( http://nxbtrithuc.com.vn/viet-nam/145-gs-phan-huy-le-tro-thanh-vien-si-vien-han-lam-phap )

       Ngày 16/7/2011, báo điện tử của Đảng cộng sản  Việt Nam đăng  bài Giáo sư Phan Huy Lê – Niềm tự hào của giới sử học nước nhà, với câu mở đầu  là: Lần đầu tiên có một người của ngành Khoa học xã hội Việt Nam trở thành Viện sĩ Viện hàn lâm Pháp. (http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30129&cn_id=468867).

 
 

        Nên nhớ rằng, ở  Pháp, các  Viện sĩ hàn lâm Pháp được coi là những “Người bất tử” (Immortels), là  những vĩ nhân của nước Pháp và của thế giới.

        Tuy tạp chí  Xưa & Nay số 383 đã cho GS Phan Huy Lê một liều  thuốc đắng vì nó đã tiết lộ chính xác danh hiệu thật ông ta, nhưng dẫu sao, vẫn còn có sự may mắn chô ông, bởi  hai lẽ. Thứ nhất là, tạp chí  này có số phát hành không lớn, số độc giả không nhiều nên “tin xấu” chỉ  loang ra trong phạm vi hẹp. Thứ hai là, tạp chí  này trực thuộc Hội Khoa học Lịch sử mà ông Lê  là chủ tịch, nên khi đã lỡ in ra và phát  hành  một phần  nhỏ, ông có thể hãm  lại ngay. Sau khi ông  Phan Huy Lê cùng  những  người thân tín tổ chức những cuộc họp trọng thể để chúc mừng  ông trở thành viện sĩ hàn lâm Pháp,  vị biên tập viên kia đành phải “đính chính” bản tin đúng của mình, đúng theo ý  muốn của ông Phan Huy Lê.

Qua nhiều ngày nỗ lực thông báo  khắp  nơi, tin về việc  GS Phan Huy Lê trở thành viện sĩ  hàn                  lâm Pháp đã được đồng  loạt đăng trên hàng trăm tờ báo và tạp chí cùng  hàng ngàn bản  tin điện tử.
 
Đến  ngày  25 /11/2011, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển , Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cùng phối hợp tổ chức buổi gặp mặt thân mật với sự tham gia đông đảo và nhiệt tình của các nhà khoa học, các bạn đồng  nghiệp, sinh viên cũ và mới của GS Phan Huy Lê tại Hội trường Lê Văn Thiêm, 19 Lê Thánh Tông, Hà Nội.” (Xưa & Nay, số 384, tr. 16)

       Cuộc mạo xưng danh hiệu Viện sĩ hàn lâm Pháp  của  GS   Phan Huy Lê, với sự cộng tác đắc lực  của  GS Đinh Xuân Lâm và  của nhiều vị giáo sư đàn  em khác tưởng  như  đã   thành công  mỹ  mãn và đã đánh lừa được cả  nước.  Nhưng, sự gian dối không thể che mắt mọi người mãi mãi. Đầu tháng 10 năm 2012,  bài  Lược khảo về các tên gọi “viện hàn  lâm “ và “viện sĩ” cúng  những  nhầm lẫn  tai hại (đăng trên tạp chí Nghiên cứu  và  Phát  triển số 7 năm 2012 và xuất hiện trên mạng Internet), với   lập luận chặt chẽ cùng những cứ liệu  xác thực, đã chứng minh và khẳng  định rằng GS Phan Huy Lê chỉ  là thông tín viên nước  ngoài của  Viện hàn  lâm Bi ký và  Mỹ  văn ở Pháp, không  phải  là viện sĩ. Sau bài báo ấy, chúng tôi tiếp tục tìm  kiếm các tài liệu  liên quan  và đã  phát  hiện thêm rằng, danh hiệu  viện sĩ hàn lâm Pháp của ông Phan Huy Lê là  một sự mạo xưng liều  lĩnh. Đúng  là lúc đầu, vì thiếu hiểu biết  nên ông Phan Huy Lê đã dịch chữ correspondant (thông tín viên) thành “viện sĩ  thông tấn”. Nhưng khi đã được ông bạn đồng  nghiệp ở tạp chí Xưa & Nay giải  mê và “mở mắt” cho mình, ông ta không vượt qua nổi căn bệnh hiếu danh nên đã  dấn bước vào việc mạo xưng.            

 

              GS Phan Huy Lê và phu nhân cùng chụp ảnh lưu niệm với cán bộ, lãnh đạo Trường  Đại học  KHXH&NV, Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam:  (Ảnh NA/USSH)

        III.  Nhọ nhem lắm rồi, lầy gì lau cho sạch?

        Danh hiệu Thông tín viên  của ông Phan Huy Lê là hoàn toàn chính xác. Ông Phan Huy Lê chỉ là Thông tín viên nước ngoài của Viện  hàn  lâm Bi ký và  Mỹ văn ở Paris. Bài Lược khảo về các  tên gọi ‘viện hàn  lâm “ và  “viện sĩ” …đã chứng  minh điều đó một cách rõ ràng. .Đến  nay, chúng ta còn biết  thêm rằng, ông Phan Huy Lê đã cố ý mạo xưng là viện sĩ thộng  tấn của Viện  hàn  lâm Bi ký và  Mỹ văn, rồi nâng  lên  thành  Viện sĩ  hàn  lâm Pháp. Đó  là  những tội lỗi  rành rành, không  thể chối cãi. hoặc  tẩy rửa. Vậy mà vẫn có  kẻ trơ trẽn tìm cách vu cáo  người khác để lau mặt cho ông Phan Huy Lê.

         Ngày 25/11/2012, trên bản tin điện tử của khoa Văn học và  Ngôn ngữ của trường Đại học Khoa học Xã hội và  Nhân văn t/p HCM , tại địa chỉ

http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=3681%3Av-nhng-sai-lm-tai-hi-ca-ong-le-mnh-chin&catid=100%3Avn-hoa-lch-s-trit-hc&Itemid=161&lang=vi

đã đăng bài Về “những sai lầm tai hại” của ông Lê Mạnh Chiến  của GS.TS Nguyễn Quang Ngọc (Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học quốc gia Hà Nội) để phản bác và lkết  tội tác giả của  bâì Lược khảo về các  tên gọi ‘viện hàn  lâm “ và  “viện sĩ” …
      Ông Nguyễn Quang Ngọc viết:
    ….. Trong bài viết của mình, ông Lê Mạnh Chiến đưa ra cách dịch của cá nhân để loại trừ tất cả những nhà khoa học Việt Nam được các Viện Hàn lâm nước ngoài bầu làm “Membre étranger” (cho chỉ là “Thành viên nước ngoài”) hay “Correspondant étranger” (cho chỉ là “Thông tín viên nước ngoài”). Theo ông tất cả các danh hiệu “Viện sĩ nước ngoài” hay “Viện sĩ thông tấn nước ngoài” đều là “những nhầm lẫn không nhỏ trong việc sử dụng tên gọi Viện sĩ” và Việt Nam chưa hề có ai là Viện sĩ cả, tất cả đều là “gọi nhầm, hiểu nhầm”
          Tôi không bàn luận về toàn bộ bài viết cùa ông Lê Mạnh Chiến mà chỉ đi vào một trường hợp mà tác giả cố tình lấy làm ví dụ cụ thể. Tôi cũng xin được gạt ra ngoài những lời lẽ không được văn hóa của tác giả, để công luận phán xét. Tôi viết về trường hợp GS Phan Huy Lê mà tôi có điều kiện biết khá cặn kẽ. Tuy nhiên, ngay trong trường hợp cụ thể này tôi cũng chỉ tập trung vào một số nội dung cốt lõi mà thôi.
           Sau đó, ông Ngọc đã  căn cứ theo một số cuốn từ điển  như Pháp-Việt từ điển (1936) của GS Đào Duy Anh, Dictionnaire FranÇais-Vietnamien của Ủy ban Khoa học xã hội do Lê Khả Kế chủ biên (1981), Từ điển Việt-Pháp của Viện Khoa học xã hội do Lê Khả Kế, Nguyễn Lân chủ biên (1994) và Từ điển bách khoa Việt Nam của Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (tập IV, 2005).nhằm chứng  minh rằng ông Lê Mạnh Chiến đưa ra cách dịch của cá nhân để loại trừ tất cả những nhà khoa học Việt Nam được các Viện Hàn lâm nước ngoài bầu làm “Membre étranger” (cho chỉ là “Thành viên nước ngoài”) hay “Correspondant étranger” (cho chỉ là “Thông tín viên nước ngoài”).
         Một điều rất đáng  lưu ý là ông Nguyễn Quang Ngọc chỉ dựa vào các cuốn từ điển để phản bác, mà hoàn toàn  né tránh mọi lý lẽ mà tác  giả Lê Mạnh Chiến đã trình bày rất rõ ràng khi dịch các danh hiệu “Membre étranger” thành viên nước  ngoài  và “Correspondant étranger”thông tín viên nước ngoài. Trong khi đó, tác giả Lê Mạnh Chiến đã căn cứ vào quy chế và lời  diễn giải về các  ngạch  thành viên  ở  các viện  hàn lâm để dịch các danh hiệu ấy..
        Về các  ngạch thành viên của Viện hàn lâm khoa học Nga (và Liên Xô trước đây, cũng như của các viện hàn  lâm ở các  nước Đông Âu sao chép  theo khuôn mẫu Liên Xô), tác giả Lê Mạnh Chiến viết:
       【【    Sau đây, tôi xin viện dẫn  mục Члены РАН trong bài  Росси́йская акаде́мия нау́к (Viện hàn lâm khoa học Nga)tại từ điển Wikipedia tiếng Nga (mà mọi người sử dụng Internet đều rất dễ tìm thấy) để diễn giải về các ngạch thành viên của Viện hàn lâm khoa học Nga.. Đó cũng  là quy định của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô trước kia.
 
 
    Членами Российской академии наук являются действительные члены РАН (академики) и члены-корреспонденты РАН. Главная обязанность членов Российской академии наук состоит в том, чтобы обогащать науку новыми достижениями. Члены РАН избираются общим собранием академии. Членами Российской академии наук избираются учёные, являющиеся гражданами Российской Федерации. Члены Российской академии наук избираются пожизненно. Действительными членами РАН избираются учёные, обогатившие науку трудами первостепенного научного значения.  Членами-корреспондентами РАН избираются учёные, обогатившие науку выдающимися научными трудами.
      По состоянию на 23 декабря 2011 года среди членов РАН были 531 академик и 769 членов-корреспондентов.
                                (Последнее изменение этой страницы: 15:35, 22 сентября 2012)
                   
  Xin đổi chữ РАН (Росси́йская акаде́мия нау́к) nghĩa là Viện hàn lâm khoa học Nga thành chữ RAS (Russian Academy of Siences) và chuyển đoạn văn trên đây sang tiếng Việt, như sau:
 
       Các thành viên của Viện hàn lâm khoa học Nga
 
      Các thành viên của Viện hàn lâm khoa học Nga (RAS) gồm có các thành viên chính thức (các viện sĩ – akademiki) và các thành viên thông tấn. Trách nhiệm chủ yếu của các thành viên RAS là phải đóng góp cho khoa học bằng những thành tựu mới. Hội nghị toàn thể của Viện hàn lâm bầu ra các thành viên của  Viện. Các nhà bác học được bầu làm thành viên RAS phải là công dân của Liên bang Nga. Các thành viên RAS được bầu suốt đời. Các nhà bác học đã hoàn thành những công trình có ý  nghĩa khoa học hàng đầu để cống hiến cho khoa học  thì được bầu làm thành viên chính thức (trở thành viện sĩ). Các nhà bác học đã góp những công trình khoa học xuất sắc  cống hiến cho khoa học thì được bầu làm thành viên thông tấn.
     Theo tình trạng đến ngày 23/12/2011, trong số các thành viên của RAS đã có 531 viện sĩ và 679 thành viên thông tấn   (LMC dịch)
            (Sự thay đổi gần đây nhất của trang này là vào hổi 15h23’ ngày 22.0.2002)】】
 
    Như vậy, theo từ điển Wikipedia tiếng Nga thì Viện hàn lâm khoa học Nga  có hai ngạch thành viên. Thứ nhất  là  thành viên chính thức  (действительные член, nếu dịch thật sát nghĩa thì gọi là thành viên thực nhiệm), là akademik, là  viện sĩ. Thứ hai là thành viên thông tấn (член-корреспондент), có tư cách thành viên thấp hơn, chưa phải là thành viên chính thức, chưa phải là viện sĩ. Bởi vậy, nếu gọi họ là viện sĩ thông tấn. thì sai, danh hiệu “viện sĩ” (akademịk) phải dành cho thành viên chính thức.
Thực ra, còn có một ngạch thành viên  nữa nhưng có  lẽ ít quan trọng nên từ điển Wikipedia tiếng  Nga  đã  vbỏ qua, đó  là thành viên nước  ngoài (tiếng Nga gọi là иностранные члены), nhưng trên Wikipedia tiếng Anh thì có  nhắc đến
    Theo quy chế của Viện hàn lâm khoa học Nga, có hai điều đáng chú ý:
 
1.        Chỉ  riêng các thành viên thực nhiệm mà tiếng Nga gọi là действительные члены  mời được gọi là академики, là các viện sĩ; các thành viên thông tấn (члены-корреспонденты) không được gọi là академики nên không thể gọi là viện sĩ thông tấn.
2.        Các viện sĩ và các thành viên thông tấn  của Viện hàn Lâm khoa học Nga đều  phải là những người mang quốc tịch Nga
 
       Vậy thì người Việt Nam  không thể là viện sĩ của Viện hàn  lâm khoa học Nga , mà chỉ  có  thể là thành viên nước  ngoài của Viện hàn  lâm này  mà thôi. Đối với các  nước XHCN Đông Âu cũng vậy. .
     
       Về danh hiệu “thông tín viên” của  ông Phan Huy Lê, tác  giả  Lê Mạnh Chiến viết:
 
         【【….tôi tìm đọc bài viết về Académie des Inscriptions et Belles-Letres trong Wikipedia tiếng Pháp. Văn bản này được chỉnh lý lần cuối cùng vào ngày 02/9/2012, trong đó không có một chữ nào nói đến membre-correspondant hoặc correspondant của Viện này. Tôi lại tìm đọc Liste des membres de l’Académie des inscriptions et belles-lettres de l’Institut de France.tức là  Danh sách các thành viện của Viện Bi ký và Mỹ văn ở Pháp, nơi mà các báo đưa tin là GS Phan Huy Lê được bầu làm viện sĩ thông tấn nước ngoài.
        Theo danh sách này, từ khi thành lập (năm 1663) đến  ngày 02/9/2012, cả thảy  có 670 vị  là thành viên người Pháp (viện sĩ), trong đó có ghi rõ chức vụ, nghề nghiệp, lĩnh vực nghiên cứu, năm sinh, năm mất, năm được bầu làm viện sĩ. Năm 2011, Viện đã bầu 3 viện sĩ là FranÕois Déroche (sinh năm 1954), Jean Guilaine (sinh năm 1936) và Véroniquee Schiltz (sinh năm 1942). Năm 2012, Viện cũng bầu  3 viện sĩ là Pierre  Gros (sinh năm 1939), Jehan Desanges (sinh năm 1929) và  Jacques Verger (sinh năm 1943)..
        Bên cạnh danh sách này, còn kèm theo danh sách Associés (chúng tôi tạm dịch là các cộng sự viên, hay thành viên cộng sự), Associés libres (cộng sự viên tự do) và Associés  étrangers (cộng sự viên nước ngoài).Tất cả các danh sách này đều  không có tên GS Phan Huy Lê. Trong danh sách Associés  étrangers, chúng tôi thấy có tên ông Norodom Sihamoni, đương kim Quốc vương  Căm-pu-chia (sinh năm 1953, được bầu chọntừ năm 2008)
        Cần nhớ rằng, từ năm 1663 đến nay, Viện này đã 4 lân thay đổi tên và 5 lần thay đổi quy chế về thành viên, trước đây có khi gồm vài ngạch viện sĩ và vài ngạch cộng sự viên. Hiện nay, có một ngạch viện sĩ người  Pháp và một ngạch thành viên cộng sự, người nước ngoài.
         Như vây, GS Phan Huy Lê không có tên trong danh sách các viện sĩvàcác cộng sự viên (associés)  của Académie des Inscriptions et Belles –Lettres. Vì không có ngạch thành viên thông tấn nên không có gì bám víu để  từ đó có thể cố ý dịch sai, biến ông thành viện sĩ thông tấn. rồi nhích dần lên viện sĩ.
        Để tìm cho rõ danh vị của GS Phan Huy Lê trong Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn,  tôi phải tìm website chính thức  (Official website) của viện này tại  địa chí: http://www.aibl.fr/?lang=fr )
        Tìm đến  trang chủ của Website này, click vào mục MEMBRES (hoặc tìm trực tiếp tại địa chỉ:: http://www.aibl.fr/membres/?lang=fr  thì sẽ thấy một trang nói rõ về các ngạch thành viên, như sau:
 
Membres       L’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres se compose de cinquante-cinq académiciens de nationalité française et de quarante associés étrangers. Elle comprend également cinquante correspondants français et cinquante correspondants étrangers.
     L’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres réunit en son sein des personnalités de qualification exceptionnelle, hautement représentatives. Les académiciens sont des savants élus à vie par leurs pairs en raison de la qualité de leurs travaux dans les disciplines relevant de la compétence de l’Académie (archéologie, histoire, philologie et leurs multiples branches et spécialités), de leur puissance de travail ainsi que de leur renommée internationaleLorsqu’un fauteuil d’académicien est déclaré vacant par suite de décès, l’Académie décide, à la majorité des suffrages exprimés, de l’opportunité de pourvoir à son remplacement ; si tel est le cas, le Bureau propose une date pour
l’élection du nouveau membre, sinon, une nouvelle délibération a lieu sur la question après un délai de six mois. Contrairement à une règle généralement de mise dans le monde académique, il n’y a pas d’appel à candidature à l’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres, chaque académicien ayant la liberté de proposer un candidat dont il fait distribuer les titres et travaux. L’élection a lieu au scrutin secret et à la majorité absolue des académiciens présents.
       Les associés étrangers, élus selon le même principe et souvent membres des Académies les plus prestigieuses de leur pays, sont choisis parmi les maîtres les plus éminents à travers le monde. Quant aux correspondants, ils assurent un rôle de relais de l’information scientifique auprès de l’Académie et participent à sa vie et à ses travaux; choisis par les académiciens, ils constituent un vivier de personnalités de premier plan parmi lesquelles l’Académie a pris l’habitude de recruter souvent ses nouveaux membres.            (Nguồn: http://www.aibl.fr/membres/?lang=fr)
Dịch sang tiếng Việt:
 
          Các thành viên (của Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn)
 
     Viện HL Bi ký và Mỹ văn gồm có 55 viện sĩ (académiciens) có quốc tịch Pháp và 40 cộng sự viên nước ngoài. Nó còn bao gồm 50 thông tín viên (corresondants) người Pháp và 50 thông tín viên  nước ngoài.
     Viện HL Bi ký và Mỹ văn tập hợp các nhân vật đạt trình độ nghiệp vụ ngoại hạng  có tính đại diên cao. Các viện sĩ là những nhà bác học được những người đồng đẳng bầu suốt đời do phẩm chất của những công trình của họ trong các bộ môn thuộc thẩm  quyền của Viện (khảo cổ học, lịch sử,  ngữ văn học, cùng nhiều ngành và nhiều chuyên khoa của chúng), do năng lực làm việc và thanh danh quốc tế  của họ.
      Khi một chiếc ghế bành  (fauteuil) viện sĩ  được tuyên bố là khuyết vì chủ nhân đã qua đời, Viện sẽ  theo đa số những ý kiến được bày tỏ để quyết định cơ hội bổ nhiệm người thay thế; trong trường hợp đó, Văn phòng sẽ đề nghị một ngày để bầu thành viên mới, nếu không, thì phải có một cuộc thảo luận về vấn đề này sau thời hạn sáu tháng. Khác với quy tắc thường được áp dụng trong giời học thuật, không có việc kêu gọi ứng cử vào Viện Bi ký và Mỹ văn, mỗi viện sĩ được tự do đề cử một ứng cử viên, giới thiệu các chức vị và các công trình  của người ấy. Việc bầu chọn được thực hiện bằng cách bỏ phiểu kín và theo đa số tuyệt đối của các viện sĩ  có mặt.
      Các cộng sự viên nước ngoài, được bầu theo đúng nguyên tắc như vậy, và thường là viện sĩ của các Viện có uy tín nhất ở nước họ, được chọn trong số những bậc thầy nổi tiếng nhất trên thế giới. Còn về các thông tín viên (correspondant), họ giữ vai trò trạm thông tin khoa học  bên cạnh Viện HL Bi ký và Mỹ văn  và tham gia sinh hoạt cùng các công việc của Viện; họ được các viện sĩ bầu  chọn, họ hợp thành một nhóm nhân vật quen thuộc hàng đầu để từ đó, Viện  tuyển chọn các thành viên mới, theo thói  quen thường  có.   (LMC dịch)
                                                                                                                                 
       Qua đoạn văn trên đây, chúng ta biết rằng, các cộng sự viên nước ngoài (Associés étrangers) là những nhà bác học lớn có tầm cỡ  ngang hàng với các viện sĩ người Pháp, nhưng họ không có danh hiệu viện sĩ vì họ không mang quốc tịch Pháp. Nếu gọi họ là “viện sĩ nước ngoài” thì  chưa đúng về ngôn từ, vì người Pháp không gọi họ như vậy, nhưng đúng về thực chất. Còn các correspondant,  phâỉ dịch chính xác là  thông tín viên, hay người truyền tin vì họ được xác định là các trạm thông tin khoa học bên cạnh Viện HL Bi ký và Mỹ văn. So với viện sĩ, họ có cương vị thấp hơn rất nhiều, họ cũng không được bầu suốt đời (thông tín viên Francisco Rico, người Tây Ban Nha mà GS Phan đã thay thế, sinh năm 1942, vẫn đang sống). Họ cũng không phải là những ứng cử viên sẵn có để chờ khi có viện sĩ qua đời thì sẽ được chọn lựa. GS Phan Huy Lê được chọn làm người truyền tin nước ngoài  ngày 27/5/2011 cùng với 7 người khác. Trước đó một năm rưỡi, ngày 06/11/2009, Viện này cũng đã thay  8 người truyền tin nước ngoài và  8 người truyền tin trong nước.】】
          Xin bổ sung một chút, Ông Francisco Rico đã được bầu làm associé étranger (cộng sự viên nước  ngoài) ngày 04/6/2010, ở  “ghế bành” của  Dietrich von BOTHMER.
     Ông  Nguyễn Quang  Ngọc nên chú ý đến câu này:trong Quy chế về thành viên của viện hàn lâm Bi ký và  Mỹ văn:: Còn về các thông tín viên (correspondant), họ giữ vai trò trạm thông tin khoa học  bên cạnh Viện HL Bi ký và Mỹ văn  và tham gia sinh hoạt cùng các công việc của Viện   (Nguyên văn bằng tiếng Pháp: Quant aux correspondants, ils assurent un rôle de relais de l’information scientifique auprès de l’Académie et participent à sa vie et à ses travaux).
 
        Chỉ riêng việc xác định chức danh “thông tín viên” cho ông Phan Huy Lê, tác  giả Lê Mạnh Chiến đã phải tra cứu từ  Quy chế về  các  loại thành viên của Viện hàn  lâm Bi ký và Mỹ văn, vừa dịch vừa giải thích hết  gần 1400 chữ, kể cả  phần  nói vềcác  ngạch thành viên của Viện hàn  lâm khoa học Nga, tác giả này  đã viết  hơn 2000 chữ. Thế mà ông  Nguyễn Quang Ngọc viết  là  “ông  Lê Mạnh Chiến  đưa ra cách dịch của cá nhân để loại trừ tất cả những nhà khoa học Việt Nam được các Viện Hàn lâm nước ngoài bầu làm “Membre étranger” (cho chỉ là “Thành viên nước ngoài”) hay “Correspondant étranger” (cho chỉ là “Thông tín viên nước ngoài”)….”  Còn ông Ngọc thì cặm cụi  tra từ điển bằng tiếng Việt. để vạch rõ “sai lầm” của ông Lê Mạnh Chiền.  Điều đó đủ thấy trình  độ học lực và  phương  pháp  nghiên cứu của ông  GS TS Nguyễn Quang Ngọc.
         Nên nhớ rằng, trong nghề dịch thuật, các từ điển (nhất  là từ điển song  ngữ) chỉ  là  tài liệu tham khảo, nhiều  khi người ta  phải tra cứu hàng chục bộ từ điển mới tìm được một nghĩa thỏa đáng. Đối với  những  từ  khó, những thuật ngữ phức tạp, có  khi người ta phải tra rất  nhiều bộ từ điển bản  ngữ kết  hợp với văn cảnh cụ thể mà nhiều khi cong lúng  túng.. Vậy mà  ở đây không thấy  ông  Ngọc  sử dụng một bộ từ điển  nào bằng tiếng  Nga  hay tiếng Pháp. Trong các văn bản pháp quy, đối với  những khái  niệm hay những thuật ngữ quan trọng, người ta đều diễn giải rõ nghĩa của chúng, và  nhất thiết phải  căn cứ vào đó để hiểu hoặc để dịch sang ngôn ngữ khác. Cặm cụi tra cứu từ điển (nhất  là từ điển song ngữ) để hiểu và để dịch là công việc của học sinh tiểu học. Học sinh tú tài thời Pháp thuộc chẳng có ai làm công tác “dịch thuật” kiểu  như  thế, chưa cần  nói đến  những  người có  học vấn cao hơn.
          Ông Nguyễn Quang Ngọc đã chỉ trích phê phán tác giả Lê Mạnh Chiến  một cách không đàng  hoàng. Ông ta không  bám theo lý lẽ của tác giả  này để phê phán hay “phản biện”  mà tự “luận tội”  một cách vu vơ, lại còn dám xúc phạm tác giả  này  là  có “những lời lẽ không được văn hóa” nhưng không nêu được bằng chứng gì cả. Bởi thế, bài Lược khảo… của tác giả  Lê Mạnh Chiến vốn từng  được đăng trên bản tin khoavanhoc-ngonngu.edu.vnđã bị gỡ xuống để thay bằng bài của ông Ngọc. Nếu  tác giả Lê Mạnh Chiến đã phạm “những sai lầm tai hại” thì cứ để nguyên bài ấy  cho độc giả đối chứng, sao lại phải xóa đi? Tuy chưa đến  mức gọi là “ngậm máu phun người” nhưng những thứ mà ông  Ngọc phun ra cũng chẳng sạch sẽ gì.
         Điều  tệ hại nhất của ông Ngọc ở đây là sự sai lầm nghiêm trọng về  kiến thức và phương pháp kèm theo sự  vu cáo tác giả  Lê Mạnh Chiến một cách thiếu căn cứ, mờ ám..
           Ông Nguyễn Quang Ngọc và cả ông Phan Huy Lê,  nếu  muốn bác bỏ lời phán xét của tác giả Lê Mạnh Chiến  thì  hãy  đọc cho kỹ  bài Lược khảo về các tên gọi “viện hàn lâm” và  “viện sĩ” cùng  những nhầm  lẫn tai hại, sau đómới liệu sức  liệu tài mà “phản biện” nhé.
           Một chi tiét rất  nhỏ nhưng cũng  cần nhắc đến. Ông Ngọc thấy có chữ “fauteuil” (ghế bành)  ở câu “Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn đã chỉ định tiên sinh làm Thông tín viên nước ngoài tại  ghế bành  mà trước đây thuộc về Francisco Rico”.trong Thư thông báo gửi tới ông Phan Huy Lê, rồi  coi đó như là bằng chứng về địa vị “viện sĩ” của ông Phan Huy Lê. Xin thưa với ông Ngọc rằng, trong  ngôn ngữ xã giao, về những điều vụn vặt, người ta sử dụng những từ ngữ cho đẹp thêm cũng không sao. Nhưng,  trong “Giấy chứng  nhận” chức danh thông tín viên của ông Phan Huy Lê, có câu
 Nommé le 27 mai 2011 correspondant étranger à la place de Francisco Rico (Được chỉ định ngày 27 tháng 5năm 2011, làm thông tín viên nước ngoài tại vị trí của Francisco Rico). Trong  klhi đó, “Giấy chứng  nhận” của ông Francisco Rico thì ghi: Élu, le 4 juin 2010, associé étranger de l’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres, au fauteuil de Dietrich von BOTHMER. (Được bầu  ngày 04/5/2011, làm Cộng sự viên nước  ngoài  của Viện hàn lâm Bi ký và  Mỹ văn, tại ghế bành của ông  Dietrich von BOTHMER.  Thế đấy, ông  GS TS Nguyễn Quang Ngọc ạ.
 
        GS Nguyễn Quang Ngọc đã hét sức cố gắng lau rửa mặt mũi cho GS  Phan Huy Lê. Tuy nhiên, với  phương pháp  không sạch và vật liệu không sạch, làm sao mà lau rửa được.
 
 

2 nhận xét:

  1.  

    Hãi quá!

    Trả lời

  2.  

    Tôi hoàn toàn đồng ý với những kiến giải trên của tác giả bài báo. Ở Liên Xô trước đây và ở LB Nga hiện nay chỉ có действительные члены của Viện hàn lâm khoa học của Liên Xô (trước đây) hoặc của Nga (hiện nay) mới được gọi là Viện sỹ (академики), còn члены-корреспонденты không được gọi là Viện sỹ (академики). Trong tiếng Nga, người ta dùng rất đúng, có phân biệt rất rõ hai chức danh này. Do không tìm hiểu cụ thể nên trong các văn bản dịch член-корреспондент sang tiếng Việt là “viện sỹ thông tấn” là sai hoàn toàn về mặt ngữ pháp, câu chữ, và không đúng ý nghĩa thực.
    Trong khoa học cần phải “chính danh”.
    Không nên “khoác” cho mình cái “danh” không “chính”. Chỉ những người thiếu tự trọng mới hay cố “vơ vào” những cái danh không chính.
    (TS. Nguyễn Thành Sơn)

    Trả lời

Nguyễn Thông: Ông Tâm bà Yến

Để lại phản hồi

Nguồn tại đây

Tôi chưa gặp bà Đặng Thị Hoàng Yến, chưa lần nào, chỉ đôi lần thấy trên tivi. Có đận trên mạng xã hội, thiên hạ cười chê cái vụ bà Yến trao học bổng Hoa trạng nguyên, nói sai nói nhầm cả tên tuổi, chức danh của bộ trưởng bộ Học, sai mà vẫn còn cười rổn rảng. Họ bảo rằng rõ cái người vô duyên, cậy tiền. Chả sai, bởi hồi ấy bà ta đang leo đến gần đỉnh danh vọng, quyền lực rồi, nhìn xuống chỉ “mục hạ vô nhân” là điều dễ hiểu.

Ông em bà Yến, ông Đặng Thành Tâm thì tôi từng gặp mấy lần, nhất là cái hôm công ty ông Tâm tổ chức họp báo tại khách sạn Sheraton Sài Gòn trên đường Đồng Khởi, Q.1. Ông Tâm thấp lùn, lại hơi đen, đứng giữa bọn ký giả, nhất là mấy cô cao ráo xinh xẻo, trông cứ quê quê thế nào ấy. Nhưng thông minh, giả nhời đâu ra đó, diễn đạt giản dị, dù sinh ở Bắc nhưng nhập vai Nam bộ khá tốt. Nhìn chung dễ mến, không cảm thấy xa cách như một số anh nhà giàu mới nổi, quen gọi là trọc phú, thậm chí có anh rất vô học.

Hồi trước, lúc đầu tôi lấy làm lạ ở chỗ họ là những doanh nhân sao không lo làm ăn, kiếm cách để đồng tiền sinh sôi nảy nở, vừa làm giàu bản thân vừa đóng góp cho xã hội phát triển mà cứ nhao vào sự nghiệp chính trị như con thiêu thân. Đành rằng cách làm giàu của hai chị em ông Tâm cũng na ná như khá nhiều đại gia ở xứ ta, đi lên từ đất, không nên lấy đó làm gương. Chả tạo ra được bao nhiêu của cải vật chất cho dân cho nước, chủ yếu dựa vào tài nguyên đất đai, biến hóa nhào nặn đất đai thành tiền chảy vào túi mình. Họ không phải dạng nhà giàu như ông Trương Gia Bình vắt chất xám sinh ra sản phẩm công nghệ thông tin, hoặc giáo sư Nguyễn Thị Hòe nghiên cứu chế đủ thứ sơn nhãn hiệu Kova nổi tiếng, hàng VN chất lượng cao. Ông Tâm bà Yến thuộc dạng như ông anh hùng lao động thời đổi mới Lê Văn Kiểm, ông Huỳnh Phi Dũng hoặc các nghị viên doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường, Đỗ Thị Huyền Tâm (vợ ông Nông Đức Mạnh), giàu lên từ đất, công thổ quốc gia. Đất thuộc về sở hữu toàn dân nhưng tiền thuộc về túi cá nhân họ.

Hơn nửa năm qua có nhẽ là khoảng thời gian khủng khiếp, vỡ mộng với chị em ông Tâm. Hết nạn nọ đến nạn kia, vô phương chống đỡ (tôi chẳng kể ra đây bởi hầu như ai cũng biết). Chắc rằng lúc này hai chi em nhà họ Đặng đã hiểu rằng không phải cứ tiền mạnh, quyền cao, chỗ dựa tốt là có thể nằm ngoài vòng cương tỏa. Sự đời lắm nỗi éo le, chả có chi bền vững, an toàn cả, nhất là trong một cuộc sống đầy những bất trắc như ở xứ ta hiện thời. Không biết bà Yến ông Tâm có ngộ ra điều giá như họ chỉ chuyên chú làm giàu, đừng ham hố nhảy vào vũng chính trị, công danh hão thì đâu đến nỗi sặc bùn như vậy. Thói đời phù thịnh chứ mấy kẻ phù suy, chị em ông lại chả phải cỡ Việt vương Câu Tiễn dám chấp nhận nếm mật nằm gai chờ cơ hội phục lại sự nghiệp của mình, vậy nên bị bỏ rơi, dồn đến bước đường cùng là kết quả đương nhiên.

Chuyện chị em nhà họ Đặng là bài học thấm thía cho những ai không biết tự lượng sức mình, muốn tiến thân bằng chính trị. Chả biết xứ ta lúc này có còn ai nhìn gương tày liếp ấy mà giật mình rồi sờ tay lên gáy để ngẫm rằng muốn rút ra khỏi cái vũng đó liệu có còn kịp hay chăng?

26.10.2012
Nguyễn Thông

Bài viết cũ hơn

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 33 other followers